Suốt đêm thằng con trai không ngủ. Hai tiếng trước rạng đông, nó đánh thức một đứa ngủ chung lều dậy, và kêu nó chỉ chỗ Fatima ở. Bọn nó đi tới lều của nàng, và thằng con trai đưa cho đứa bạn một lượng vàng đủ để mua một con cừu.
Rồi nó kêu đứa bạn vô chỗ Fatima ngủ, đánh thức cô dậy và nói cho cô biết nó đang đợi ở ngoài. Thằng bạn Ả Rập làm đúng theo yêu cầu, và được cho một lượng vàng đủ để mua thêm một con cừu nữa.
“Giờ để tụi mình một mình nhé,” thằng con trai nói với đứa bạn Ả Rập. Thằng bạn trở về lều ngủ tiếp, thấy tự hào là đã giúp được chàng cố vấn của ốc đảo, và sung sướng vì có đủ tiền để mua cho mình vài con cừu.
Fatima hiện ra ở cửa lều. Hai người đi giữa những hàng cọ. Thằng con trai biết đó là sự vi phạm Truyền Thống, nhưng giờ thì chẳng thành vấn đề với nó nữa.
“Anh sẽ ra đi,” nó nói. “Và anh muốn em biết là anh sẽ quay về. Anh yêu em vì….”
“Đừng nói điều gì hết,” Fatima cắt lời nó. “Một người được yêu vì người đó được yêu. Không cần có lý do để yêu.”
Nhưng thằng con trai tiếp tục, “Anh có một giấc mơ, và anh đã gặp được một vị vua. Anh bán pha lê và băng qua sa mạc. Và vì các bộ lạc tuyên chiến, anh đến bên giếng trong lúc tìm nhà hóa kim. Vì vậy, anh yêu em vì toàn vũ trụ hợp lại để giúp anh tìm ra em.”
Hai người ôm lấy nhau. Đó là lần đầu tiên họ chạm vào nhau.
“Anh sẽ quay lại,” thằng con trai nói.
“Trước đây, em lúc nào cũng nhìn ra sa mạc với nỗi u hoài,” Fatima nói. “Giờ đây đó sẽ là với niềm hy vọng. Cha ra đi ngày nọ, nhưng ông đã về lại với mẹ, và ông luôn quay về từ lúc đó.”
Họ không nói gì khác nữa. Họ đi xa hơn một chút vô rừng cọ, rồi thằng con trai rời cô ra ở cửa lều.
“Anh sẽ quay về, như cha đã quay về với mẹ,” nó nói.
Nó thấy đôi mắt Fatima ngấn đầy nước mắt.
“Em khóc?”
“Em là con gái sa mạc,” cô nói, ngoảnh mặt đi. “Nhưng trên hết, em vẫn là con gái.”
Fatima quay vô lều, và khi ánh ban mai chiếu rạng, cô bước ra làm những công việc cô đã làm suốt nhiều năm. Nhưng mọi vật giờ đã thay đổi. Chàng không còn ở ốc đảo nữa, và ốc đảo sẽ chẳng bao giờ có cùng cái ý nghĩa nó có chỉ mới hôm qua nữa. Nó không còn là chỗ có năm chục ngàn gốc cọ và ba trăm cái giếng, nơi người hành hương tới, thở phào ra ở cuối cuộc hành trình dài. Từ ngày đó trở đi, ốc đảo sẽ là một nơi trống vắng với nàng.
Từ ngày đó trở đi, chính sa mạc mới quan trọng. Nàng sẽ nhìn ra nó mỗi ngày, và sẽ cố đoán ngôi sao nào chàng đang theo để đi tìm kho báu. Nàng sẽ phải gởi những nụ hôn theo gió, hy vọng rằng gió sẽ chạm mặt chàng, và nói cho chàng biết rằng nàng còn đó. Rằng nàng đang trông mong, một người con gái chờ người đàn ông dũng cảm đi tìm kho báu. Từ ngày đó trở đi, sa mạc biểu thị chỉ một điều duy nhất với nàng: niềm hy vọng chàng sẽ quay về.
*
“Đừng nghĩ về những cái con để lại,” nhà hóa kim nói với thằng con trai khi họ bắt đầu phi trên cát sa mạc. “Mọi thứ đã được viết ra trong cái Hồn Chung, và nó sẽ ở đó mãi mãi.”
“Đàn ông mơ trở về nhà nhiều hơn là về ra đi,” thằng con trai nói. Nó đã thấy quen lại với sự tĩnh lặng của sa mạc.
“Nếu cái ai đó tìm được được tạo bằng tinh chất, nó sẽ không bao giờ bị hoại. Và ai đó lúc nào cũng có thể quay về. Nếu cái con đã tìm được chỉ là một khoảnh khắc sáng lóe, như sự bùng nổ của một ngôi sao, con sẽ không tìm thấy gì khi con quay về.”
Ông đang nói bằng thứ ngôn ngữ của thuật hóa kim. Nhưng thằng con trai biết ông đang đề cập tới Fatima.
Thật khó để không nghĩ đến những gì nó đã để lại sau lưng. Sa mạc, với sự đơn điệu bất tận của nó, khiến nó mơ màng. Thằng con trai vẫn còn thấy được bóng cọ, cái giếng, và khuôn mặt người con gái nó yêu. Nó thấy được ông người Anh với các cuộc thí nghiệm, người dẫn lạc đà, vốn là một ông thầy mà không hề biết. Có lẽ nhà hóa kim chưa hề yêu, thằng con trai nghĩ.
Nhà hóa kim phi phía trước, với con chim ưng trên vai. Con chim biết rõ ngôn ngữ của sa mạc, và bất cứ khi nào họ dừng lại, nó bay lên tìm mồi. Ngày đầu, nó quay về với một con thỏ, rồi với hai con chim ở ngày thứ hai.
Đến đêm, họ trải đồ ngủ ra, và dấu kín ngọn lửa. Đêm sa mạc lạnh lẽo, và càng lúc càng tối khi tuần trăng qua đi. Họ tiếp tục đi trong gần một tuần, chỉ nói về các đề phòng họ cần theo để tránh các trận chiến giữa các bộ lạc. Chiến tranh tiếp diễn, nhiều lúc gió tanh tanh mùi máu. Các trận đánh diễn ra gần đó, và gió nhắc thằng con trai nhớ rằng có cái ngôn ngữ của các điềm lạ, vốn luôn sẳn sàng chỉ cho nó thấy cái đôi mắt không nhìn ra.
Vào ngày thứ bảy, nhà hóa kim quyết định hạ trại sớm hơn thường lệ. Con chim ưng bốc lên tìm mồi, và nhà hóa kim mời thằng con trai bình nước của mình.
“Con hầu như đã ở cuối cuộc hành trình,” nhà hóa kim nói. “Ta chúc mừng con đã theo đuổi cái Niềm Riêng của mình.”
“Và dọc đường ông không nói cho con biết cái gì hết,” thằng con trai nói. “Con nghĩ ông sẽ truyền lại con một số điều ông biết. Lúc trước, con cỡi lạc đà băng ngang qua sa mạc chung với một người có các quyển sách về thuật hóa kim. Nhưng con không thể học được bất cứ điều gì từ chúng.”
“Chỉ có một cách để học,” nhà hóa kim trả lời. “Đó là thông qua hành động. Mọi điều con cần biết con đã học được trong suốt hành trình của mình. Con cần học chỉ một điều nữa thôi.”
Thằng con trai muốn biết điều đó là gì, nhưng nhà hóa kim đang dõi theo đường chân trời, tìm con chim ưng.
“Sao ông được gọi là nhà hóa kim?”
“Vì ta là nhà hóa kim.”
“Và có gì xảy ra trật không, khi các nhà hóa kim khác cố và vẫn không thể tạo được vàng?”
“Họ chỉ tìm vàng,” người đồng hành trả lời. “Họ đang tìm kho báu của cái Niềm Riêng của mình, mà không thực muốn sống đến cùng cho cái Niềm Riêng đó.”
“Cái mà con vẫn cần biết là gì?” thằng con trai hỏi.
Nhưng nhà hóa kim tiếp tục dõi về chân trời. Cuối cùng con chim ưng quay lại với thức ăn cho bữa ăn của họ. Họ đào hố và đốt lửa trong đó, để không ai thấy được ánh lửa.
“Ta là một nhà hóa kim chỉ đơn giản vì ta là một nhà hóa kim,” ông nói khi chuẩn bị cho bữa ăn. “Ta học khoa này từ ông nội, vốn học lại từ cha ổng, và cứ vậy, ngược tới lúc khởi thủy. Ở những thời đó, Kỳ Công có lẽ đã được viết ra chỉ đơn giản là trên một mặt ngọc. Nhưng con người bắt đầu từ chối những điều đơn giản, và viết ra kinh thi, diễn giải, và các nghiên cứu triết học. Họ cũng bắt đầu cảm thấy họ biết được một phương cách hay hơn cái phương cách những người khác biết được. Tuy vậy Ngọc Bản vẫn còn sống động tới tận hôm nay.”
“Cái gì được viết lên Ngọc Bản vậy?” thằng con trai muốn biết.
Nhà hóa kim bắt đầu vẽ trên cát, và hoàn tất hình vẽ trong vòng không đầy năm phút. Khi ông vẽ, thằng con trai nghĩ đến vị vua già, và cái quảng trường nơi họ đã gặp gỡ ngày ấy; dường như nó đã xảy ra từ năm não năm nao.
“Đây là cái được viết lên Ngọc Bản?” nhà hóa kim nói, khi ông vẽ xong.
Thằng con trai cố đọc những gì được viết ra trên cát.
“Đó là mật mã,” thằng con trai nói, hơi thất vọng. “Nó giống như cái con thấy trong sách của ông người Anh.”
“Không,” nhà hóa kim trả lời. “Nó giống như đường bay của hai con diều hâu đó; không thể hiểu được nó chỉ bằng lý lẽ. Ngọc Bản là ngõ thông trực tiếp tới cái Hồn Chung.
“Các nhà thông thái hiểu được thế giới tự nhiên chỉ là hình ảnh và bản sao của cõi trời. Sự tồn tại của thế giới này chỉ đơn giản là để bảo đảm có tồn tại một thế giới hoàn hảo. Ông Trời tạo ra thế giới để mà, qua những vật thấy được của nó, người ta có thể hiểu được sự truyền dạy tâm linh của ổng và cái kỳ diệu của sự thông thái của ổng. Đó là cái ta muốn truyền đạt bằng hành động.”
“Con có nên hiểu Ngọc Bản không?” thằng con trai hỏi.
“Có lẽ, nếu con đang ở trong phòng thí nghiệm thuật hóa kim, lúc này là đúng lúc để học cách tốt nhất để hiểu được Ngọc Bản. Nhưng con đang ở sa mạc. Vậy hãy đắm mình vô nó. Sa mạc sẽ cho con sự hiểu biết về thế giới; thực ra, bất kỳ thứ gì trên mặt đất cũng sẽ làm điều đó. Con ngay cả chẳng cần phải hiểu sa mạc: hết thảy cái con phải làm là suy nghĩ về một hạt cát, và con sẽ thấy trong nó mọi diệu kỳ của sáng tạo.”
“Làm sao để con tự đắm mình vô sa mạc?”
“Lắng nghe con tim. Nó biết hết mọi thứ, vì nó đến từ cái Hồn Chung, và một mai nó sẽ trở lại đó.”
*
Họ băng qua sa mạc suốt hai ngày nữa trong im lặng. Nhà hóa kim trở nên thận trọng hơn nhiều, vì họ đang đến sát nơi những trận đánh dữ dội nhất đang diễn ra. Dọc đường đi thằng con trai cố lắng nghe con tim.
Chẳng dễ làm chút nào; trong những lần đầu, con tim lúc nào cũng sẳn sàng kể chuyện, nhưng về sau điều đó không còn đúng nữa. Có nhiều lần, con tim dành hàng giờ kể lễ nỗi buồn, và ở những lần khác con tim trở nên quá xúc động trước cảnh mặt trời lên trên sa mạc đến nỗi thằng con trai phải dấu những giọt nước mắt của mình. Con tim đập nhanh nhất khi khi nó nói với thằng con trai về kho báu, và chậm rãi hơn khi thằng con trai nhìn như bị mê hoặc về chân trời bất tận của sa mạc. Nhưng con tim chẳng bao giờ chịu im lặng, ngay cả khi thằng con trai và nhà hóa kim đắm mình vào im lặng.
“Sao mình phải lắng nghe con tim?” thằng con trai hỏi, khi họ hạ trại ngày hôm đó.
“Vì con tim ở chỗ nào, con sẽ tìm ra kho báu chỗ đó.”
“Nhưng con tim con lo lắng bồn chồn,” thằng con trai nói. “Nó có những giấc mơ riêng, nó trở nên xúc động, và nó trở nên đam mê một người con gái sa mạc. Nó hỏi con nhiều điều, và nó ngăn không cho con ngủ suốt nhiều đêm, khi con nghĩ đến nàng.”
“Ô, điều đó tốt. Con tim con vẫn còn sống động. Tiếp tục lắng nghe cái nó phải nói.”
Suốt ba ngày kế tiếp, hai kẻ phiêu du đi qua một số người vũ trang, và thấy những người khác ở chân trời. Con tim bắt đầu lo sợ. Nó kể những câu chuyện nó nghe được từ cái Hồn Chung, những câu chuyện đi tìm kho báu và chẳng thành công. Đôi khi con tim làm thằng con trai lo sợ với cái ý nghĩ nó có lẽ sẽ không tìm ra được kho báu, hoặc nó có lẽ chết sẽ trong sa mạc. Ở những lúc khác, con tim bảo thằng con trai nó thấy thỏa mãn: nó đã tìm được tình yêu và giàu có.
“Con tim con là một kẻ phản trắc,” thằng con trai nói với nhà hóa kim, khi họ dừng lại để ngựa nghĩ ngơi. “Nó không muốn con tiếp tục.”
“Điều đó có lý,” nhà hóa kim trả lời. “Thiệt tự nhiên khi nó e ngại rằng, trong việc theo đuổi giấc mơ, con có lẽ mất hết mọi thứ con đã có được.”
“Ý ông nói là con nên lắng nghe, ngay cả nếu nó phản trắc?”
“Phản bội là một đòn đánh đến lúc không ngờ tới. Nếu con biết rõ con tim mình, nó sẽ chẳng bao giờ làm được điều đó với con. Vì con sẽ biết được những giấc mơ và các ao ước của nó, và sẽ biết cách xử trí với chúng.
“Con sẽ không bao giờ trốn thoát được con tim mình. Vì vậy nên lắng nghe những gì nó phải nói. Bằng cách đó, con sẽ không bao giờ lo sợ về một đòn đánh không lường được.”
Thằng con trai tiếp tục lắng nghe con tim khi họ băng tiếp qua sa mạc. Nó đạt đến mức hiểu được mánh khóe và trò lừa lọc của con tim, và chấp nhận nó như vậy. Nó mất đi nỗi sợ, và quên đi cái nhu cầu trở lại ốc đảo, vì, một buổi trưa, con tim nói là nó sung sướng. “Dù có đôi lúc ta phàn nàn,” nó nói, “vì ta là con tim người, và con tim người nó vậy đó. Người ta ngại theo đuổi các giấc mơ quan trọng nhất của họ, vì họ cảm thấy họ không xứng đáng với chúng, hoặc họ chẳng thể đạt được chúng. Bọn ta, những con tim, trở nên lo sợ khi chỉ nghĩ về người thân yêu ra đi mãi mãi, hoặc về những kho báu mà lẽ ra đã phải tìm được nhưng vẫn bị chôn vùi vĩnh viễn trong cát. Vì, khi những điều này xảy ra, bọn ta đau khổ khủng khiếp.”
“Con tim con ngại nó sẽ phải đau khổ,” thằng con trai nói với nhà hóa kim một đêm nọ khi họ ngước nhìn lên bầu trời đêm không trăng.
“Nói cho con tim biết cái lo sợ về sự đau khổ còn tệ hơn cả chính sự đau khổ. Và không có con tim nào đau khổ bao giờ khi nó tìm kiếm những giấc mơ của mình, vì mỗi một giây kiếm tìm là mỗi một giây tương ngộ với Trời và sự vĩnh cữu.”
“Mỗi một giây kiếm tìm là một sự tương ngộ với Trời,” thằng con trai bảo con tim. “Khi ta thực sự tìm kiếm kho báu, mỗi ngày sáng ngời lên, vì ta biết được mỗi giờ sẽ là một phần của cái giấc mơ ta sẽ tìm được. Khi ta thực sự tìm kiếm kho báu của mình, ta đã khám phá được nhiều điều dọc theo con đường đó, những điều ta sẽ không bao giờ thấy được nếu ta không có được cái dũng cảm để thử làm những điều vốn dường như bất khả đạt đối với đứa chăn cừu.”
Vì vậy con tim im lặng cả buổi trưa. Đêm đó, thằng con trai ngủ một giấc sâu, và, khi nó tỉnh lại, con tim bắt đầu kể về những điều đến từ cái Hồn Chung. Nó nói rằng hết thảy những người thấy hạnh phúc đều có Trời trong tâm. Và cái hạnh phúc đó cũng có thể được tìm thấy trong một hạt cát sa mạc, như nhà hóa kim đã nói. Bởi vì mỗi hạt cát là một thời điểm sáng tạo, và vũ trụ đã cần tới hàng triệu năm để tạo ra nó. “Mỗi người trên trái đất đều có một kho báu đang chờ mình,” con tim nói. “Bọn ta, con tim người, hiếm khi nói nhiều đến các kho báu đó, vì con người không còn muốn đi tìm chúng. Bọn ta chỉ nói về chúng với đám con nít. Về sau, bọn ta chỉ đơn giản để cho đời sống tiến triển, tự theo phương hướng riêng, đến với cái số phận của chính nó. Nhưng, chẳng may, rất ít đứa đi theo con đường trải ra cho chúng – con đường dẫn tới cái Niềm Riêng, và tới hạnh phúc. Hầu hết người ta coi thế gian này như một nơi đáng sợ, và, vì họ coi nó như vậy, thế gian, thật vậy, trở thành một nơi đáng sợ.
“Vì vậy, bọn ta, con tim người, nói càng lúc càng mềm mỏng hơn. Bọn ta không ngừng nói ra, nhưng bọn ta lại bắt vô hy vọng lời nói của mình sẽ không được nghe: bọn ta không muốn người ta đau khổ vì họ không làm theo con tim mình.”
“Tại sao con tim người không bảo họ tiếp tục theo đuổi các giấc mơ của mình?” thằng con trai hỏi nhà hóa kim.
“Vì đó là cái làm con tim đau khổ nhất, và con tim không thích chịu đau khổ.”
Từ lúc đó trở đi, thằng con trai hiểu được tâm mình. Nó yêu cầu con tim, làm ơn đừng bao giờ ngừng nói với nó. Nó yêu cầu rằng, khi nó lang thang xa khỏi những giấc mơ của mình, con tim phải bấm nó và lên tiếng cảnh tỉnh. Thằng con trai thề, mỗi lần nó nghe được sự cảnh tỉnh, nó sẽ chú ý làm theo thông điệp của con tim.
Đêm đó, nó kể hết mọi điều này với nhà hóa kim. Và nhà hóa kim hiểu được rằng con tim của thằng con trai đã trở lại với cái Hồn Chung.
“Vậy giờ con nên làm gì?” thằng con trai hỏi.
“Tiếp tục theo hướng Kim Tự Tháp,” nhà hóa kim nói. “Và tiếp tục chú ý theo các điềm lạ. Con tim con vẫn còn đủ khả năng để chỉ cho con biết kho báu ở đâu.”
“Đó có phải là cái điều con vẫn cần biết không?”
“Không phải,” nhà hóa kim trả lời. “Điều mà con vẫn cần biết là cái này: trước khi một giấc mơ được biến thành hiện thực, cái Hồn Chung kiểm lại hết mọi điều học được dọc đường. Nó làm điều này không phải vì nó xấu xa, mà để cho mình, cùng với việc biến những giấc mơ thành hiện thực, làm chủ được các bài học mình đã học được khi hướng đến cái giấc mơ đó. Đó là điểm mà ở đó phần lớn người ta bỏ cuộc. Đó là điểm mà ở đó, nói theo ngôn ngữ sa mạc, người ta “chết khát khi hàng cọ hiện ra ở chân trời.”
“Mỗi cuộc tìm đều kiếm bắt đầu bằng cái may của kẻ mới khởi đầu. Và mỗi cuộc tìm kiếm đều kết thúc bằng chuyện bị thử thách nặng nề của người chiến thắng.”
Thằng con trai nhớ lại một ngạn ngữ cổ ở nước mình nói rằng giấc tối nhất của đêm đến ngay trước khi trời sáng.
*
Ngày hôm sau, dấu hiệu nguy hiểm rõ ràng đầu tiên xuất hiện. Ba người vũ trang tiến đến, và hỏi thằng con trai và nhà hóa kim đang làm gì ở đó.
“Tôi đang đi săn với con chim ưng,” nhà hóa kim trả lời.
“Chúng tôi sẽ phải khám người các ông để coi các ông có trang bị vũ khí không?” một người nói.
Nhà hóa kim chậm rãi xuống ngựa, và thằng con trai làm y vậy.
“Sao các ông mang tiền theo?” một người hỏi khi ông ta khám cái túi của thằng con trai.
“Tôi cần đến Kim Tự Tháp,” nó nói.
Người khám đồ của nhà hóa kim tìm thấy một bầu pha lê đựng đầy một chất lỏng, và một cái trứng thủy tinh màu vàng lớn hơn trứng gà một chút.
“Mấy thứ này là gì?” ông ta hỏi.
“Đó là hòn Triết Thạch và toa Sinh Dược. Đó là Kỳ Công của các nhà hóa kim. Ai hớp được toa Sinh Dược sẽ không bao giờ bị bịnh nữa, và một mảnh từ hòn đá đó có thể biến bất kỳ kim loại nào thành vàng.”
Mấy tay Ả Rập cười vô mặt ông, và nhà hóa kim cười theo. Họ nghĩ là câu trả lời của ông mắc cười, và họ cho phép nhà hóa kim và thằng con trai đi tiếp với tất cả đồ đạc.
“Ông có khùng không?” thằng con trai hỏi nhà hóa kim, khi họ đi tiếp. “Ông làm vậy để làm gì?”
“Để chỉ cho con một bài học đơn giản ở đời,” nhà hóa kim trả lời. “Khi con sở hữu những vật quý giá nhất trong người mình, và cố cho người khác biết, hiếm khi họ tin con.”
Họ tiếp tục băng qua sa mạc. Với mỗi ngày trôi qua, con tim trở nên càng lúc càng im lặng. Nó không muốn biết đến mọi điều của quá khứ hoặc tương lai nữa; nó thấy thỏa mãn đơn giản chỉ để suy ngẫm về sa mạc, và để đối ẩm với thằng con trai từ cái Hồn Chung. Thằng con trai và con tim trở thành bạn, và không đứa nào đủ sức để phản bội đứa kia.
Khi con tim nói chuyện với nó, là để cung cấp sự kích thích cho thằng con trai, và để cho nó thêm sức mạnh, vì những ngày lặng ngắt như tờ đó ở sa mạc làm mệt lả người. Con tim cho nó biết các phẩm chất mạnh nhất của nó: sự dũng cảm trong việc đã từ bỏ đàn cừu và cố sống cho cái Niềm Riêng của mình đến cùng, và cái nhiệt tình của nó trong suốt thời gian làm việc tại cửa tiệm pha lê.
Rồi con tim nói cho nó biết một điều khác mà nó chưa hề để ý tới: các mối nguy đang đe dọa nó, nhưng nó chưa hề nhận thức được. Con tim nói một lần nó đã giấu cây súng trường thằng con trai lấy của cha nó, vì cái khả năng thằng con trai tự gây thương tích. Và nó nhắc thằng con trai nhớ lại cái ngày nó bị bịnh và ói mửa ngoài đồng, mà sau đó nó rơi vào một giấc ngủ thật sâu. Có hai tên trộm đằng trước đang lập kế ăn trộm cừu và giết nó. Nhưng, vì thằng con trai không đi ngang qua đó, chúng quyết định đi tiếp, cho rằng nó đã đổi tuyến đường.
“Con tim của một người có luôn giúp anh ta không?” thằng con trai hỏi nhà hóa kim.
“Phần lớn chỉ con tim của những ai đang cố biến Niềm Riêng của họ thành hiện thực. Nhưng chúng cũng giúp con nít, kẻ nghiện rượu, và người già.”
“Đó có nghĩa là con sẽ không bao giờ vướng vô nguy hiểm?”
“Đó chỉ có nghĩa là con tim sẽ làm cái nó có thể làm được,” nhà hóa kim nói.
Một buổi trưa, họ đi ngang qua doanh trại của một bộ lạc. Ở mỗi góc trại có những người Ả Rập mặc những bộ đồ trắng đẹp đẽ, hờm sẳn võ khí. Đám người này đang hút các ống hookah và trao đổi chuyện chiến trường. Không ai để ý tới hai kẻ phiêu du.
“Chẳng có gì nguy hiểm,” thằng con trai nói, khi họ đã đi qua khỏi doanh trại.
Nhà hóa kim lên giọng giận dữ: “Tin ở con tim mình, nhưng đừng quên là con đang ở trong sa mạc. Khi người ta đang trong một cuộc chiến với người khác, cái Hồn Chung có thể nghe được tiếng gào thét từ chiến trận. Không ai tránh được phải chịu đựng hậu quả của mọi sự việc xảy ra dưới ánh mặt trời.”
Vạn vật là một, thằng con trai nghĩ. Và rồi, như thể sa mạc muốn chứng tỏ rằng nhà hóa kim nói đúng, hai kỵ sĩ xuất hiện phía sau các kẻ phiêu du.
“Các người không thể đi xa hơn được,” một người nói. “Các người đang ở nơi các bộ lạc đánh nhau.”
“Tôi sẽ không đi xa lắm đâu,” nhà hóa kim trả lời, nhìn thẳng vô mắt các kỵ sĩ. Họ im lặng trong một lúc, rồi đồng ý rằng thằng con trai và nhà hóa kim có thể đi tiếp.
Thằng con trai theo dõi cuộc trao đổi với vẻ kích động. “Ông khống chế được các kỵ sĩ đó bằng cái cách ông nhìn họ,” nó nói.
“Đôi mắt biểu lộ sức mạnh của tâm hồn,” nhà hóa kim trả lời.
Cái đó đúng, thằng con trai nghĩ. Nó đã để ý thấy, giữa đám người vũ trang ở cái doanh trại, có một kẻ đã nhìn chằm chằm vô hai kẻ phiêu du. Hắn ở quá xa nên khuôn mặt hắn không rõ ràng. Nhưng thằng con trai chắc chắn là hắn ta đã nhìn theo bọn họ.
Cuối cùng, khi họ băng qua dãy núi trãi qua hết trọn chân trời, nhà hóa kim nói chỉ còn hai ngày nữa là tới được Kim Tự Tháp.
“Nếu chẳng bao lâu nữa mình đi theo những ngã khác nhau,” thằng con trai nói, “vậy thì hãy dạy con thuật hóa kim.”
“Con đã biết thuật hóa kim. Nó là sự xuyên thấu vô cái Hồn Chung, và khám phá ra kho báu được trữ đó cho con.”
“Đó không phải là cái con muốn nói. Con đang nói tới biến chì thành vàng.”
Nhà hóa kim chìm vô im lặng tựa như sa mạc, và trả lời thằng con trai chỉ sau khi họ ngừng để ăn.
“Mọi vật trong vũ trụ này tiến hóa,” ông nói. “Và, với các nhà thông thái, vàng là thứ kim loại tiến hóa xa nhất. Đừng hỏi ta tại sao; ta không biết tại sao. Ta chỉ biết Truyền Thống luôn đúng.
“Người ta chưa hề hiểu được lời các bậc thông thái. Vì vậy vàng, thay vì được coi như một biểu tượng tiến hóa, trở thành căn bản cho sự xung đột.”
“Có nhiều ngôn ngữ được nói bởi các sự vật,” thằng con trai nói. “Có một lúc khi, với con, một tiếng rống của lạc đà không hơn gì là một tiếng rống. Rồi nó trở thành dấu hiệu nguy hiểm. Và, cuối cùng, nó lại trở thành chỉ một tiếng rống.”
Nhưng rồi nó ngưng lại. Nhà hóa kim có vẻ đã biết mọi thứ đó.
“Ta đã biết được nhiều nhà hóa kim thực sự,” nhà hóa kim tiếp tục, “họ khóa kín mình trong phòng thí nghiệm, và cố tiến hóa như vàng đã tiến hóa. Và họ tìm được hòn Triết Thạch, vì họ hiểu được là khi một vật tiến hóa, mọi vật quanh vật đó cũng tiến hóa.
“Những người khác ngẫu nhiên tìm được hòn đá nhờ ở một tai nạn. Họ có được món quà, và tâm hồn họ đã sẳn sàng cho điều đó hơn tâm hồn của những người khác. Nhưng không tính đến họ. Họ rất hiếm.
“Rồi, có những người khác, vốn chỉ quan tâm đến vàng. Họ chẳng bao giờ tìm ra bí mật. Họ quên là chì, đồng, và sắt cũng có những cái Niềm Riêng để phát triển đầy đủ đặc tính và khả năng của chúng. Và bất kỳ ai can thiệp vô cái Niềm Riêng của một thứ khác sẽ chẳng bao giờ khám phá ra cái của chính họ.”
Lời của nhà hóa kim vọng ra như một lời nguyền. Ông rướn tới và lượm một cái vỏ sò từ mặt cát.
“Sa mạc này đã từng là biển cả,” ông nói.
“Con đã để ý đến điều đó,” thằng con trai trả lời.
Nhà hóa kim bảo thằng con trai đặt cái vỏ sò lên bên tai. Nó đã làm điều đó nhiều lần khi còn nhỏ, và nghe thấy âm thanh biển cả.
“Biển cả tiếp tục sống trong cái vỏ sò này, vì đó là cái Niềm Riêng của nó. Và nó sẽ chẳng bao giờ ngừng làm vậy cho tới khi sa mạc bị biển cả bao phủ một lần nữa.”
Họ lên ngựa, và phi theo hướng Kim Tự Tháp Ai Cập.
[CÒN TIẾP]
.