Home » Translations, To Vietnamese, Trích đoạn tiểu thuyết Email bài này

Bậc thầy thuật hóa kim [7]

♦ Translated by: 0 comment ♦ 10.06.2009

the-alchemist cover

Thằng con trai đến bên viên vệ sĩ đứng trước cái lều trắng khổng lồ nằm ở tâm ốc đảo.

“Tôi muốn gặp các vị tù trưởng. Tôi mang đến các điềm lạ từ sa mạc.”

Không nói một lời, viên vệ sĩ đi vô trong lều, và ở trong đó một lúc. Anh ta ngoi ra cùng với một thanh niên Ả Rập bận đồ trắng giát vàng. Thằng con trai nói cho người trẻ hơn cái nó đã thấy, và người này nói nó chờ ở đây. Anh ta biến mất vào trong lều.

Đêm xuống, một nhóm võ sĩ và thương nhân chui vô rồi chui ra khỏi căn lều. Từng đống lửa một được dụi tắt, rồi cái ốc đảo rơi vào tĩnh lặng như sa mạc. Chỉ có ánh sáng từ ngôi lều là còn được giữ lại. Suốt thời gian đó, thằng con trai nghĩ đến Fatima, và nó vẫn chưa thể hiểu được cuộc trò chuyện trước đây với cô.

Cuối cùng, sau nhiều giờ chờ đợi, viên vệ sĩ vẫy thằng con trai vô. Thằng con trai sững sờ trước cái nó thấy trong lều. Chưa bao giờ nó tưởng tượng ra ngay giữa sa mạc lại có một ngôi lều như vậy. Sàn được phủ bằng những tấm thảm đẹp nhất mà trước giờ nó mới được đi lên trên, và trên nóc lều treo những cây đèn vàng làm theo lối thủ công, mỗi cây đốt một ngọn nến. Các vị tù trưởng bộ lạc ngồi theo hình bán nguyệt ở phía cuối lều, tựa người trên những cái gối thêu thùa huê dạng. Đám hầu cận vô ra với những mâm gia vị và trà. Một đám hầu cận khác giữ lửa cho những cái hookah. Không khí đẫm mùi hương khói ngọt ngào.

Có tám vị tù trưởng, nhưng thằng con trai thấy được liền ai là người quan trọng nhất: một người Ả Rập vận đồ trắng giát vàng, ngồi giữa vòng bán nguyệt. Bên cạnh ông ta là người thanh niên Ả Rập nói chuyện với thằng con trai hồi nãy.

“Ai là người khách lạ nói về điềm lạ?” một vị tù trưởng hỏi, hướng mắt về thằng con trai.

“Đó là Tôi,” thằng con trai nói. Và kể lại cái nó thấy.

“Tại sao sa mạc hé lộ điều đó cho một người lạ, khi nó biết bọn ta đã ở đây từ nhiều đời rồi?” một vị tù trưởng khác hỏi.

“Vì mắt tôi chưa quen với sa mạc,” thằng con trai nói. “Tôi có thể thấy được cái một đôi mắt quen với sa mạc có lẽ không thấy.”

Và cũng bởi mình biết được cái Hồn Chung, nó nghĩ trong đầu.

“Ốc đảo là mảnh đất trung lập. Không ai tấn công một ốc đảo.” vị tù trưởng thứ ba nói.

“Tôi chỉ có thể nói cho ông biết cái tôi thấy. Nếu ông không muốn tin tôi, ông không cần phải làm bất cứ điều gì cho nó.”

Các vị tù trưởng sa vào một cuộc thảo luận sống động. Họ nói bằng một thứ phương ngữ Ả Rập thằng con trai không hiểu được, nhưng, khi nó dợm bước đi, viên vệ sĩ kêu nó ở lại. Thằng con trai thấy lo sợ; các điềm lạ cho nó biết có gì đó không đúng. Nó thấy hối khi kể với người dẫn lạc đà cái nó thấy trong sa mạc.

Bất thình lình, vị tù trưởng già ở giữa cười, hầu như rất khó nhận ra, và thằng con trai cảm thấy dễ chịu hơn. Ông này nãy giờ không tham gia vô cuộc hội luận, và trong thực tế, đến lúc đó cũng chưa hề nói một lời nào. Nhưng thằng con trai đã quen với cái Tiếng Chung, và nó có thể cảm được những rung động hòa hoãn trong suốt ngôi lều. Trực giác cho nó biết nó đúng khi đến đây.

Cuộc thảo luận kết thúc. Các vị tù trưởng im lặng trong một lúc khi họ lắng nghe những gì vị tù trưởng già đang nói. Sau đó ông ta xoay qua thằng con trai: lần này khuôn mặt ông ta lạnh lùng và xa vắng.

“Hai ngàn năm trước, ở một miền đất xa xôi, có một người tin ở những giấc mơ bị ném xuống hầm ngục rồi bị bán làm nô lệ,” vị tù trưởng già nói, giờ bằng một phương ngữ thằng con trai hiểu được. “Thương nhân của chúng ta mua được người đó và mang đến Ai Cập. Hết thảy bọn ta đều tin là ai tin ở những giấc mơ cũng sẽ biết cách lý giải nó.”

Vị tù trưởng già tiếp tục, “Khi Pharaoh mơ thấy đàn bò ốm và đàn bò mập, người này đã cứu Ai Cập khỏi chết đói. Anh ta tên là Joseph. Người này cũng là một người lạ trên một miền đất lạ, như ngươi, và có lẽ cũng trạc tuổi ngươi.”

Ông ta ngừng, và đôi mắt vẫn thiếu thân thiện.

“Bọn ta luôn tôn trọng Truyền Thống. Truyền Thống đã cứu Ai Cập khỏi chết đói những ngày đó, và làm cho người Ai Cập thành những người giàu có nhất. Truyền Thống dạy người ta làm sao băng qua sa mạc, và con cái họ nên cưới hỏi ra làm sao. Truyền Thống nói ốc đảo là một lãnh thổ trung lập, bởi cả hai phía đều có các ốc đảo, vì vậy cả hai đều có thể bị phương hại.”

Không ai nói một tiếng khi người tù trưởng già tiếp tục.

“Nhưng Truyền Thống cũng nói là bọn ta nên tin ở các thông điệp của sa mạc. Mọi cái bọn ta biết được đều nhờ sa mạc dạy cho.”

Vị tù trưởng già ra dấu, và mọi người đứng dậy. Cuộc họp chấm dứt. Các ống hookah được dụi tắt, và bọn vệ sĩ đứng chú ý nghe lệnh. Thằng con trai dợm bước đi, nhưng vị tù trưởng già nói tiếp:

“Ngày mai, bọn ta sẽ hủy cái thỏa ước không ai trong ốc đảo được mang vũ khí. Suốt ngày chúng ta sẽ cảnh giác kẻ thù. Khi mặt trời lặn, đàn ông phải giao nộp lại vũ khí cho ta. Cứ mỗi mười tên giặc bị giết, ngươi sẽ nhận được một thoi vàng.

“Nhưng không thể rút vũ khí ra rồi lại không dùng tới. Vũ khí thiệt khó lường như sa mạc vậy, và, nếu chúng không được sử dụng, lần tới chúng có thể không hoạt động đúng chức năng. Nếu ít nhất có một thứ vũ khí nào không được dùng cho đến hết ngày, nó sẽ được sử dụng cho ngươi.”

Khi thằng con trai rời khỏi lều, chỉ còn vầng trăng tròn chiếu sáng ốc đảo. Nó ở cách lều mình khoảng hai mươi phút, và bắt đầu đi về hướng đó.

Những gì đã xảy ra khiến nó lo lắng. Nó đã thành công trong đến được với cái Hồn Chung, và giờ đây cái giá cho làm được điều đó có thể là mạng sống của nó. Đó là một trò đặt cuộc đáng sợ. Nhưng nó đã đánh cuộc liều lĩnh từ cái ngày nó bán đàn cừu để theo đuổi cái Niềm Riêng của mình. Và, như người dẫn lạc đà đã nói, có chết vào ngày mai cũng chẳng tệ hơn chết vào bất kỳ một ngày nào khác. Mỗi ngày là để sống hoặc để chết. Mọi thứ tùy thuộc vô chỉ một từ: “Maktub.”

Bước đi trong tĩnh lặng, nó không hề thấy hối tiếc. Nếu ngày mai nó chết, là do Trời không muốn thay đổi tương lai. Ít nhất nó chết sau khi băng qua eo biển, sau khi làm việc ở tiệm pha lê, và sau khi biết được sự tĩnh lặng của sa mạc và đôi mắt của Fatima. Đã lâu lắm rồi, từ khi rời nhà, nó sống mỗi ngày trong đời mình một cách mãnh liệt. Nếu ngày mai nó chết, nó đã thấy được nhiều hơn những đứa chăn cừu khác, và nó thấy tự hào về điều đó.

Bất thình lình nó nghe thấy một âm thanh vang động, và một cơn gió không biết loại gió gì cuốn nó té nhào xuống đất. Cả khu bụi xoáy mù trời, mờ mịt đến nỗi không thấy được cả mặt trăng. Trước mặt nó là một con ngựa trắng khổng lồ, chồm qua người nó với một tiếng hí lạnh người.

Khi bụi mù lắng xuống một chút, thằng con trai run bắn lên trước cái cảnh nó thấy. Ngồi trên mình ngựa là một kỵ sĩ bận toàn đồ đen, có con chim ưng đậu trên vai trái. Ông ta đội khăn và toàn khuôn mặt, trừ đôi mắt, được che bằng một cái khăn đen. Ông ta có vẻ là một sứ giả từ sa mạc, nhưng sự hiện diện của ông ta thì đầy uy lực hơn nhiều so với sự hiện diện của một sứ giả thông thường.

Kỵ sĩ kỳ lạ rút một thanh kiếm cong lớn ra khỏi cái vỏ kiếm đeo bên yên ngựa. Lưỡi kiếm thép lấp lánh trong ánh trăng.

“Đứa nào dám đọc ý nghĩa đường bay của diều hâu?” ông ta đòi hỏi, to đến mức lời ông ta vang vọng qua toàn bộ năm chục ngàn ngọn cọ của Al-Fayoum.

“Chính tôi là kẻ dám làm điều đó,” thằng con trai nói. Nó nhớ lại hình ảnh Santiago Matamoros, cỡi trên con ngựa trắng, với những kẻ ngoại đạo quỳ dưới gót giày. Người đàn ông này giống y chang như vậy, ngoại trừ sự đổi vai.

“Chính tôi là kẻ dám làm điều đó,” nó lặp lại, và cúi đầu xuống để nhận một nhát chém. “Nhiều mạng sống sẽ được cứu, vì tôi có thể thấy xuyên qua cái Hồn Chung.”

Lưỡi kiếm không bổ xuống. Thay vào đó, người lạ hạ nó từ từ, cho đến khi mũi kiếm chạm vào trán thằng con trai. Một giọt máu nhỏ ra.

Kỵ sĩ hoàn toàn bất động, thằng con trai cũng vậy. Cũng chẳng xảy ra cái cảnh thằng con trai bỏ chạy luôn. Trong thâm tâm, nó cảm thấy một cảm giác vui sướng lạ lùng: Nó sắp chết vì theo đuổi cái Niềm Riêng của mình. Và vì Fatima. Sau cùng, các điềm lạ đã thành sự thực. Nó ở đây, đối mặt với kẻ thù của mình, nhưng không phải quan ngại về cái chết – cái Hồn Chung đang chờ nó, và chẳng bao lâu nó sẽ là một phần của chúng. Và ngày mai, kẻ thù của nó cũng sẽ trở thành một phần của Hồn đó.

Người lạ tiếp tục dí kiếm vào trán thằng con trai. “Sao ngươi dám đọc đường bay của những cánh chim?”

“Tôi chỉ đọc cái mà những cánh chim muốn cho tôi biết. Chúng muốn tôi cứu cái ốc đảo. Ngày mai tất cả bọn ngươi sẽ chết, vì người ở ốc đảo đông hơn bọn ngươi.”

Lưỡi kiếm vẫn ở nguyên vị. “Ngươi là ai mà dám thay đổi cái Allah muốn?”

“Allah tạo ra các đạo quân, và ngài cũng tạo ra cặp diều hâu. Allah dạy tôi ngôn ngữ của cánh chim. Mọi thứ đã được viết ra bởi cùng một bàn tay,” thằng con trai nói, nhớ lại lời của người dẫn lạc đà.

Người lạ rút kiếm khỏi trán thằng con trai, và nó cảm thấy nhẹ cả người. Nhưng nó vẫn không thể bỏ chạy.

“Hãy cẩn thận với sự tiên đoán của ngươi,” người lạ nói. “Khi một điều gì được viết ra, chẳng có cách gì để thay đổi nó.”

“Tất cả những gì tôi thấy chỉ là một đạo binh,” thằng con trai nói. “Tôi không thấy được kết quả của trận đánh.”

Người lạ dường như thỏa mãn với câu trả lời. Nhưng ông ta vẫn giữ thanh kiếm trong tay. “Kẻ lạ, ngươi làm gì trên một vùng đất lạ?”

“Tôi đang theo đuổi cái Niềm Riêng của mình. Ngươi không hiểu được nó đâu.”

Người lạ tra kiếm vô bao, và đứa con trai thấy hết căng thẳng.

“Ta phải thử thách lòng dũng cảm của con,” người lạ nói. “Dũng cảm là phẩm chất thiết yếu nhất để hiểu được cái Tiếng Chung.”

Thằng con trai ngạc nhiên. Người lạ đang nói đến cái điều chỉ có vài người biết được.

“Con không nên ngưng lại, ngay cả sau khi đã đi được xa như vầy,” ông ta tiếp tục. “Con phải yêu sa mạc, nhưng chớ hề tin nó hoàn toàn. Vì sa mạc thử thách mọi người: nó thách thức mọi bước đi, và giết những ai trở nên phân tâm.”

Cái ông ta nói làm thằng con trai nhớ lại vị vua già.

“Nếu đám chiến binh tới đây, và đầu con vẫn còn trên vai lúc mặt trời lặn, đến tìm ta,” người lạ nói.

Cũng cái bàn tay đã vung thanh kiếm giờ nắm lấy một cái roi ngựa. Con ngựa chồm lên, khuấy lên một đám mây bụi.

“Ông sống ở đâu?” thằng coi trai kêu lên khi kỵ sĩ phóng đi.

Bàn tay cầm roi chỉ về hướng nam.

Thằng con trai đã gặp được nhà hóa kim.

*

Sáng hôm sau, hai ngàn người vũ trang tản ra khắp các gốc cọ ở Al-Fayoum. Trước khi mặt trời lên tới đỉnh, năm trăm người xuất hiện ở chân trời. Đạo kỵ binh tiến vô ốc đảo từ hướng bắc, làm ra vẻ là một cuộc viễn hành hòa bình, nhưng tất cả bọn họ đều mang theo vũ khí giấu trong áo. Khi họ tới được ngôi lều trắng ở trung tâm Al-Fayoum, họ rút mã tấu và súng trường ra, tấn công cái lều trống không.

Người ốc đảo bao vây đám kỵ sĩ từ sa mạc và chỉ trong nửa giờ tất cả những kẻ xâm phạm, trừ lại một tên, đều chết. Con nít được giữ ở phía bên kia của rừng cọ, và không thấy được cái gì đã xảy ra. Đàn bà ở lại lều, cầu nguyện cho sự an toàn của chồng mình, và cũng chẳng thấy được trận đánh. Nếu không có xác chết trên mặt đất, đó sẽ là một ngày bình thường ở ốc đảo.

Người được tha mạng là tay thủ lãnh đạo binh. Trưa hôm đó, hắn được đưa tới trước các vị tù trưởng để hỏi sao vi phạm Truyền Thống. Tay thủ lãnh nói người của mình đang bị đói khát và kiệt sức do nhiều ngày chiến trận, và đã quyết định chiếm ốc đảo để có thể quay lại với chiến cuộc.

Vị tù trưởng nói ông tiếc cho mạng sống của họ, nhưng Truyền Thống là thiêng liêng. Ông kết tay thủ lãnh cái án tử hình tước hết danh dự. Thay vì bị chết chém hay chết bắn, hắn bị treo cổ ở một cây cọ chết, thây lắc qua lắc lại trong gió.

Vị tù trưởng gọi thằng con trai tới, tặng nó năm mươi thoi vàng. Ông ta lặp lại câu chuyện Joseph ở đất Ai Cập, và mời thằng con trai làm cố vấn cho ốc đảo.

*

Khi mặt trời đã lặn, và những ánh sao đầu tiên hiện ra, thằng con trai bắt đầu đi về hướng nam. Nó kết cục thấy được một căn lều đơn độc, và một nhóm Ả Rập đi ngang qua nói cho nó biết đó là nơi ở của thần linh. Nhưng thằng con trai ngồi xuống đợi.

Chẳng cần chờ tới lúc trăng lên cao, nhà hóa kim phi tới. Ông đeo hai con diều hâu chết trên vai.

“Con đây,” thằng con trai nói.

“Con không nên ở đây,” nhà hóa kim trả lời. “Hay là cái Niềm Riêng mang con tới đây?”

“Với các cuộc chiến tranh giữa các bộ lạc, không thể nào băng qua sa mạc được. Vì vậy con tới đây.”

Nhà hóa kim xuống ngựa và ra dấu bảo thằng con trai nên vô lều với mình. Đó là một căn lều như bao cái khác ở ốc đảo. Thằng con trai nhìn quanh tìm cái lò nung và các dụng cụ khác được sử dụng trong thuật hóa kim, nhưng chẳng thấy gì. Chỉ có vài cuốn sách chất thành chồng, một cái lò nấu ăn nhỏ, và những tấm thảm trang trí đầy những hoa văn kỳ bí.

“Ngồi xuống đi. Mình sẽ uống chút gì đó và ăn mấy con diều này,” nhà hóa kim nói.

Thằng con trai ngờ rằng chúng là cặp diều hâu nó thấy hôm trước, nhưng nó không nói gì. Nhà hóa kim đốt lửa, và chẳng bao lâu mùi đồ ăn ngon lan tỏa khắp căn lều. Nó dễ chịu hơn mùi mấy cái hookah nhiều.

“Sao ông muốn gặp con?” thằng con trai hỏi.

“Vì các điềm lạ,” nhà hóa kim trả lời. “Gió nói cho ta biết con sẽ đến, và con cần được giúp.”

“Không phải con là người ngọn gió nói với ông đâu. Đó là một người ngoại quốc khác, ông người Anh. Ổng mới là người tìm ông.”

“Ông ta có những điều khác phải làm trước. Nhưng ông ta đã đi đúng đường. Ông ta đã bắt đầu cố hiểu sa mạc.”

“Còn con?”

“Khi ai thực lòng ao ước điều gì, toàn vũ trụ hợp lại giúp người đó biến giấc mơ của mình thành hiện thực,” nhà hóa kim nói, lặp lại lời của vị vua già. Thằng con trai hiểu ra. Một người nữa có ở đó để giúp nó đạt được cái Niềm Riêng.

“Ông sẽ ra chỉ thị cho con?”

“Không. Con đã biết mọi cái con cần biết. Ta chỉ hướng con theo hướng kho báu của con.”

“Nhưng có một cuộc chiến tranh bộ lạc,” thằng con trai lặp lại.

“Ta biết những gì xảy ra trong sa mạc.”

“Con đã tìm được kho báu của mình. Con có một con lạc đà. Con có tiền dành dụm được từ tiệm pha lê, và con có năm mươi thoi vàng. Ở nước mình, con sẽ là một người giàu có.”

“Nhưng chẳng có thứ nào từ các ngọn Kim Tự Tháp hết,” nhà hóa kim nói.

“Con cũng có Fatima. Nàng là cái kho báu lớn hơn bất kỳ thứ nào khác con có được.”

“Nàng cũng chẳng phải được tìm thấy ở Kim Tự Tháp.”

Họ ăn trong im lặng. Nhà hóa kim khui một cái chai và rót một chất lỏng màu đỏ vào trong ly thằng con trai. Đó là thứ rượu vang ngon nhất mà nó được nếm từ trước tới giờ.

“Rượu vang chẳng phải bị cấm ở đây sao?” thằng con trai hỏi.

“Không phải cái vô miệng người là xấu,” nhà hóa kim trả lời. “Những cái ra khỏi miệng họ mới xấu.”

Nhà hóa kim có chút gì đó đáng sợ, nhưng khi thằng con trai uống rượu vang, nó thấy thư thả. Sau khi ăn xong, họ ra ngồi bên ngoài căn lều, dưới vầng trăng sáng tới mức làm những ngôi sao lợt lạt hẳn.

“Tự uống và tự thưởng thức nhé,” nhà hóa kim nói, để ý thấy thằng con trai đang thấy vui hơn. “Ngủ cho trọn giấc đêm nay, như thể con là một chiến binh đang chuẩn bị cho chiến trận. Nhớ là bất kỳ nơi nào con tim con hướng tới, đó là nơi con sẽ tìm ra kho báu. Con phải tìm cho ra kho báu, nhờ đó mọi thứ con đã học được dọc đường có thể có được ý nghĩa gì đó.

“Ngày mai, hãy bán con lạc đà đi và mua lấy một con ngựa. Lạc đà đầy phản trắc lắm: chúng đi được hàng ngàn bước và chẳng bao giờ có vẻ mệt. Rồi bất thình lình, chúng quỵ xuống chết. Còn ngựa thì mệt từ từ. Con luôn biết đến mức nào con có thể đòi hỏi được từ nó, và khi nào là lúc chúng sắp chết.”

*

Đêm hôm sau, thằng con trai xuất hiện ở lều của nhà hóa kim với một con ngựa. Nhà hóa kim đã sẳn sàng. Ông lên ngựa, đặt con chim ưng lên vai trái. Ông nói với thằng con trai: “Chỉ cho ta nơi nào có sự sống trong sa mạc. Chỉ những ai nhìn được những dấu hiệu đó của sự sống mới có thể tìm ra kho báu.”

Họ bắt đầu phóng đi trên cát, với vầng trăng soi đường. Không biết là mình có tìm ra sự sống trong sa mạc không, thằng con trai nghĩ. Mình chưa biết sa mạc giỏi đến mức đó.

Nó muốn nói vậy với nhà hóa kim, nhưng nó ngại ông ta. Họ đến một nơi đầy đá, cái chỗ thằng con trai thấy những con diều hâu trên trời cao, nhưng giờ đây chỉ có sự tĩnh lặng và gió.

“Con không biết làm sao để nhận ra sự sống trong sa mạc,” thằng con trai nói. “Con biết có sự sống ở đây, nhưng con không biết tìm chỗ nào.”

“Sự sống thu hút sự sống,” nhà hóa kim trả lời.

Khi đó thì thằng con trai hiểu ra. Nó buông lỏng cương ngựa, vốn đang phi nước đại qua mặt cát đá. Nhà hóa kim phi theo ngựa của thằng con trai khi nó phóng suốt gần nửa giờ. Họ không còn thấy hàng cọ ốc đảo nữa – chỉ vầng trăng khổng lồ phía trên, và ánh bạc phản chiếu từ đá sa mạc. Bất thình lình, con ngựa của thằng con trai bắt đầu chạy chậm lại chẳng vì một lý do hiển nhiên nào.

“Có sự sống ở đây,” thằng con trai nói với nhà hóa kim. “Con không biết ngôn ngữ của sa mạc, nhưng con ngựa của con biết ngôn ngữ của sự sống.”

Họ xuống ngựa, và nhà hóa kim không nói gì. Chầm chậm tiến bước, họ dò tìm giữa những hòn đá. Nhà hóa kim bất thần dừng lại, và cúi xuống đất. Có một miệng hang giữa những hòn đá. Nhà hóa kim đưa bàn tay vô hang, rồi toàn bộ cánh tay, lên tới tận vai. Có cái gì di chuyển bên dưới, và đôi mắt nhà hóa kim – thằng con trai chỉ có thể thấy được đôi mắt của ông – nhíu lại theo sự gắng sức của ông. Cánh tay ông dường như đang đánh nhau với cái gì đó trong hang. Rồi, với một chuyển động làm thằng con trai giật mình, ông kéo tay ra và nhảy dựng lên. Ông nắm đuôi một con rắn trong tay.

Thằng con trai cũng nhảy dựng lên, nhưng ra xa khỏi nhà hóa kim. Con rắn dãy dụa điên cuồng, rít lên xì xì làm rạn vỡ vẻ tĩnh lặng của sa mạc. Nó là rắn hổ mang, nọc của nó có thể giết một người trong vài phút.

“Coi chừng nọc độc của nó,” thằng con trai nói. Nhưng dù nhà hóa kim đã đặt tay mình vô trong hang, chắc chắn đã bị cắn, gương mặt ông bình lặng. “Nhà hóa kim đã hai trăm tuổi,” ông người Anh có nói cho nó biết. Ông hẳn biết phải xử trí làm sao với rắn sa mạc.

Thằng con trai nhìn theo khi người đồng hành đến bên con ngựa và rút ra một cây mã tấu. Ông vẽ một vòng tròn trên cát bằng lưỡi mã tấu, rồi thảy con rắn vô trong đó. Con rắn hết căng thẳng ngay lập lức.

“Đừng lo,” nhà hóa kim nói. “Nó không bò ra khỏi vòng tròn đâu. Con đã tìm ra sự sống trong sa mạc, cái điềm ta cần.”

“Sao điều đó quan trọng quá vậy?”

“Vì sa mạc vây quanh những ngọn Kim Tự Tháp.”

Thằng con trai không muốn nhắc đến Kim Tự Tháp. Trái tim nó nặng trịch, và nó u sầu suốt từ đêm qua. Tiếp tục tìm kiếm kho báu có nghĩa là nó phải bỏ rơi Fatima.

“Ta sẽ hướng dẫn con băng qua sa mạc,” nhà hóa kim nói.

“Con muốn ở lại ốc đảo,” thằng con trai đáp. “Con đã tìm được Fatima, và theo như con thấy, nàng có giá trị hơn kho báu nhiều.”

“Fatima là con gái sa mạc,” nhà hóa kim nói. “Nàng biết đàn ông phải ra đi để rồi quay lại. Và nàng đã có được kho báu của mình: con đó. Nàng giờ đang trông đợi con tìm được cái con đang đi tìm.”

“Ô, nếu con muốn ở lại thì sao?”

“Để ta nói cho con biết điều gì sẽ xảy ra. Con sẽ là ông cố vấn của ốc đảo. Con có đủ vàng để mua nhiều cừu và lạc đà. Con sẽ cưới Fatima làm vợ, và cả hai sẽ hạnh phúc trong một năm. Con sẽ biết yêu sa mạc, và con sẽ biết rõ từng gốc trong năm chục ngàn gốc cọ. Con sẽ ngắm chúng khi chúng mọc, chứng tỏ thế giới luôn biến đổi ra sao. Và con sẽ càng lúc càng giỏi hơn trong việc hiểu được các điềm lạ, vì có sa mạc là ông thầy giỏi nhất.

“Đôi lúc trong năm thứ hai, con sẽ nhớ tới kho báu. Các điềm lạ bắt đầu nói bền bỉ về nó, và con sẽ cố lờ chúng đi. Con sẽ sử dụng kiến thức của mình cho phúc lợi của ốc đảo và cư dân của nó. Các vị tù trưởng sẽ cảm kích những điều con làm. Và đàn lạc đà sẽ mang lại cho con của cải và quyền lực.

“Suốt năm thứ ba, các điềm lạ tiếp tục nói đến kho báu và cái Niềm Riêng của con. Con sẽ đi quanh ốc đảo, hết đêm này tới đêm kia, và Fatima sẽ hết thấy hạnh phúc vì nàng cảm thấy mình là kẻ làm gián đoạn sự tìm kiếm của con. Nhưng con yêu nàng, và nàng yêu con. Con sẽ nhớ ra là nàng chưa hề yêu cầu con ở lại, vì người con gái sa mạc biết rằng nàng phải chờ mong người đàn ông của mình. Vì vậy con sẽ không rủa nàng. Nhưng nhiều lúc con đi trên mặt cát sa mạc nghĩ ngợi rằng có lẽ mình nên ra đi… rằng con có lẽ nên tin tưởng hơn ở tình yêu của mình dành cho Fatima. Vì cái giữ con lại ốc đảo chính là chính cái chuyện con sợ con sẽ không bao giờ trở lại. Vào lúc đó, các điềm lạ sẽ cho con biết kho báu của con đã bị chôn vùi mãi mãi.

“Rồi, một lúc nào đó trong năm thứ tư, các điềm lạ sẽ bỏ rơi con, vì con đã ngừng lắng nghe chúng. Các vị tù trưởng sẽ thấy được điều đó, và con sẽ bị cách chức cố vấn. Nhưng lúc đó con đã là một thương nhân giàu có, có nhiều lạc đà và một lượng hàng hóa lớn. Con sẽ dành những ngày còn lại của đời mình chỉ để biết ra con đã không theo đuổi cái Niềm Riêng, và giờ thì đã quá trễ.

“Con phải hiểu rằng tình yêu không bao giờ ngăn người đàn ông khỏi chuyện theo đuổi cái Niềm Riêng của mình. Nếu anh ta bỏ cuộc, chỉ vì nó chẳng phải là tình yêu đích thực… tình yêu nói bằng cái Tiếng Chung.”

Nhà hóa kim xóa cái vòng tròn trên cát, và con rắn trườn đi giữa đám đá. Thằng con trai nhớ tới ông chủ tiệm pha lê vốn luôn muốn đi Mecca, và ông người Anh đi tìm nhà hóa kim. Nó nghĩ đến người con gái tin ở sa mạc. Rồi nó nhìn ra cái sa mạc đã mang đến người con gái nó yêu.

Họ lên ngựa, và lần này thằng con trai theo sau nhà hóa kim về lại ốc đảo. Gió mang những âm thanh của ốc đảo đến với họ, và thằng con trai cố lắng nghe giọng Fatima.

Nhưng đêm đó, khi nó quan sát con rắn hổ mang ở giữa vòng tròn, người kỵ sĩ kỳ lạ với con chim ưng trên vai đã nói về tình yêu và kho báu, về con gái sa mạc và cái Niềm Riêng của nó.

“Con sẽ đi với ông,” thằng con trai nói. Và nó lập tức cảm thấy bình an trong tâm.

“Mình sẽ ra đi ngày mai, trước khi mặt trời mọc,” là lời đáp duy nhất của nhà hóa kim.

[CÒN TIẾP]

.

Articles by Paulo Cuelho

Comments


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

@2006-2025 damau.org ♦ Da Màu Magazine
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)