*
Thời gian đổ xô vào quá khứ, và đoàn lữ hành cũng giống vậy, nhà hóa kim nghĩ, khi ông ngắm nhìn hàng trăm người và súc vật đổ vô ốc đảo. Người ta đang hò la với những người mới tới, bụi tung mờ mặt trời sa mạc, và đám con nít trong ốc đảo òa lên vì kích động trước dòng người lạ đổ vào. Nhà hóa kim thấy các vị tù trưởng chào đón người trưởng đoàn lữ hành, và trò chuyện với ông ta thiệt lâu.
Nhưng điều đó chẳng thành vấn đề gì với nhà hóa kim. Ông đã thấy nhiều người đến và đi, còn sa mạc thì lúc nào cũng như xưa. Ông đã thấy vua chúa và ăn mày đi trên cát sa mạc. Những đụn cát thay đổi hình dạng thường xuyên vì gió, tuy vậy chúng cũng vẫn là thứ cát ông biết từ khi còn nhỏ. Ông luôn vui thú khi thấy sự sung sướng mà những người du hành nghiệm được khi họ vừa trông thấy màu xanh lá cọ sau nhiều tuần lễ chỉ thấy màu vàng cát và màu xanh da trời. Có lẽ Trời tạo ra sa mạc để người ta có thể thấy quí cây cọ, ông nghĩ.
Ông quyết định chú mục vô những vấn đề thiết thực hơn. Ông biết trong đoàn lữ hành có một người ông có trách nhiệm phải truyền dạy lại một số bí quyết. Các điềm lạ đã báo cho ông biết vậy. Ông chưa biết đó là ai, nhưng cặp mắt lão luyện sẽ giúp ông nhận ra khi người đó xuất hiện. Ông hy vọng người đó có khả năng ngang với tay đồ đệ trước của mình.
Mình không biết tại sao mấy thứ này phải được truyền bằng lời từ cửa miệng, ông nghĩ. Chẳng phải chúng bí mật gì; ông Trời hé lộ các bí mật của mình một cách dễ dàng trước mọi sinh linh.
Ông chỉ có mỗi một cách giải thích cho chuyện này: mọi thứ phải được truyền kiểu này vì chúng được tạo ra từ một đời sống tinh khiết, và loại đời sống này không thể nắm bắt được bằng hình ảnh hoặc ngôn từ.
Vì người ta trở nên mê đắm với hình ảnh và ngôn từ, rồi kết cục quên luôn cái Tiếng Chung.
*
Thằng con trai chẳng thể tin ở mắt mình: thay vì chỉ là một cái giếng có vài cây cọ vây quanh – như nó đã từng thấy trong sách địa lý, cái ốc đảo rộng lớn hơn các thành thị ở Tây Ban Nha nhiều. Có ba trăm cái giếng, năm mươi ngàn cây cọ, và vô số lều đủ màu tản mác dưới bóng cọ.
“Cứ như trong Ngàn Lẻ Một Đêm,” ông người Anh nói, bồn chồn chờ gặp nhà hóa kim.
Họ bị đám con nít bao quanh, tò mò nhìn các con vật và người mới tới. Giới đàn ông trong ốc đảo muốn biết họ có thấy bất kỳ cảnh đánh nhau nào không, và giới đàn bà cạnh tranh lẫn nhau để lấy mối vải vóc và đá quí giới thương nhân mang tới. Sự tĩnh lặng của sa mạc chỉ còn là một giấc mơ xa; khách lữ hành nói luôn miệng, cười la như thể họ ngoi ra từ cõi âm và thấy mình một lần nữa về lại với thế giới loài người. Họ thấy khoan khoái và vui sướng.
Họ vẫn tiếp tục giữ các biện pháp đề phòng cẩn thận trong sa mạc, nhưng người dẫn lạc đà giải thích cho thằng con trai biết là các ốc đảo luôn được coi là các lãnh thổ trung lập, vì đa phần dân cư là đàn bà và con nít. Có nhiều ốc đảo trong sa mạc, nhưng đám người bộ lạc chỉ đánh nhau trong sa mạc, để yên cho các ốc đảo như những chốn tị nạn.
Với một ít khó khăn, người trưởng đoàn lữ hành họp mọi người lại và cho họ các hướng dẫn. Toàn nhóm sẽ ở lại ốc đảo cho tới khi xung đột bộ lạc chấm dứt. Vì họ là khách, họ sẽ phải sống chung với người ở ốc đảo, và sẽ được hưởng những tiện nghi tốt nhất. Đó là lệ hiếu khách. Sau đó ông ta yêu cầu mọi người, kể cả đám gác của mình, trao hết vũ khí cho những người được các vị tù trưởng chỉ định.
“Đó là nguyên tắc chiến tranh,” người trưởng đoàn giải thích. “Các ốc đảo không cung cấp chỗ trú cho các đạo quân.”
Trước vẻ ngạc nhiên của thằng con trai, ông người Anh rút một cây súng sáu mạ kền ra khỏi túi và đưa nó cho người thu giữ vũ khí.
“Sao lại có cây súng sáu?” nó hỏi.
“Nó giúp tôi tin được người ta,” ông người Anh trả lời.
Trong khi đó, thằng con trai nghĩ về kho báu của mình. Khi nó đến gần hơn với việc biến giấc mơ của mình thành hiện thực, mọi thứ trở nên khó khăn hơn. Dường như cái vị vua già gọi là “cái may của kẻ mới khởi đầu” không còn nữa. Trong việc theo đuổi giấc mơ, nó thường xuyên bị thử thách sự kiên trì và lòng dũng cảm. Vì vậy nó không thể vội mà cũng không thể thiếu kiên nhẫn. Nếu nó rấn tới một cách hấp tấp, nó sẽ không thấy được các dấu hiệu và những điềm lạ ông Trời lưu lại dọc theo con đường nó đi.
Ông Trời đặt chúng dọc theo đường mình đi. Nó tự ngạc nhiên với cái ý nghĩ của mình. Cho tới lúc đó, nó luôn coi những điềm lạ là những thứ thuộc về thế gian này. Như ăn ngủ, hoặc như tìm một tình yêu hoặc một công việc. Nó chưa hề nghĩ đến chúng như một ngôn ngữ ông Trời dùng để báo hiệu những gì nó nên làm.
“Đừng mất kiên nhẫn,” nó lặp lại. “Đó y như là cái người dẫn lạc đà nói: “Ăn khi đến lúc phải ăn. Và đi tiếp khi đến lúc phải đi tiếp.””
Trong cái ngày đầu đó, mọi người ngủ vùi vì kiệt sức, kể cả ông người Anh. Thằng con trai được cho ở chung lều với năm thanh niên cùng tuổi khác, cách xa ông bạn của mình. Họ là người sa mạc, và ầm ĩ đòi nghe chuyện các thành phố lớn.
Thằng con trai kể họ nghe về đời chăn cừu, và sắp kể họ nghe các trải nghiệm ở tiệm pha lê thì ông người Anh bước vô lều.
“Tôi đã tìm bạn suốt buổi sáng,” ông ta nói, khi dẫn thằng con trai ra ngoài. “Tôi cần bạn tìm giúp nhà hóa kim sống ở đâu.”
Đầu tiên, họ tự mình tìm vị đó. Một nhà hóa kim có lẽ sống theo một cung cách khác biệt với mọi người khác ở ốc đảo, và chắc chắn trong lều của vị đó có cái lò lửa cháy liên tục. Họ tìm khắp nơi, và nhận ra ốc đảo lớn hơn họ tưởng nhiều; có hàng trăm căn lều.
“Mình đã phí phạm cả ngày,” ông người Anh nói, ngồi xuống với thằng con trai bên một cái giếng.
“Có lẽ tốt hơn nên hỏi ai đó,” thằng con trai gợi ý.
Ông người Anh không muốn kể người khác biết sao mình có ở ốc đảo này, và thấy khó quyết. Nhưng, cuối cùng, ông ta đồng ý với thằng con trai, vốn nói tiếng Ả Rập giỏi hơn, là nên làm vậy. Thằng con trai đến bên một người đàn bà, đến giếng để đổ đầy nước vô cái bình da dê.
“Chào bà. Tôi đang cố tìm ra nhà hóa kim sống ở đâu trong ốc đảo này.”
Bà ta nói chưa hề nghe nói đến một người như vậy, và vội vã bước đi. Nhưng trước khi chạy khỏi, bà ta khuyên đừng cố nói chuyện với những người đàn bà bận đồ đen, vì họ có chồng. Nó nên tôn trọng truyền thống.
Ông người Anh thấy thất vọng. Dường như ông ta đã đi hết một hành trình dài để rồi không được gì hết. Thằng con trai cũng buồn lây; ông bạn của nó đang theo đuổi cái Niềm Riêng. Và, khi ai đó đang ở trong cuộc tìm kiếm như vậy, toàn vũ trụ cố giúp người đó thành công – đó là cái vị vua già đã nói. Ổng không thể sai.
“Tôi chưa hề nghe nói đến có nhà hóa kim trước đây,” thằng con trai nói. “Có lẽ cũng chẳng có ai ở đây nghe đến.”
Đôi mắt của ông người Anh sáng lên. “Đúng rồi. Có lẽ không một ai ở đây biết nhà hóa kim là gì! Hãy tìm ai trị bệnh cho người ở đây!”
Nhiều người đàn bà bận đồ đen đến giếng lấy nước, nhưng thằng con trai không chịu nói với ai hết, dù ông người Anh nài nỉ. Rồi một người đàn ông tới.
“Ông có biết ở đây ai trị bịnh cho người ta không?” thằng con trai hỏi.
“Allah trị bịnh cho chúng ta,” người đàn ông nói, rõ ràng hoảng sợ trước người lạ. “Anh đang tìm đám phù thủy.” Ông ta đọc vài đoạn kinh Koran, và đi tiếp.
Một người đàn ông khác xuất hiện. Ông này già hơn, và mang theo một cái xô nhỏ. Thằng con trai lặp lại câu hỏi.
“Sao con muốn tìm loại người đó?” người đàn ông Ả Rập hỏi.
“Vì ông bạn con đã du hành suốt nhiều tháng ròng chỉ cốt để gặp ông ta,” thằng con trai nói.
“Nếu người đàn ông đó ở trong ốc đảo này, ông ta phải là một người có rất nhiều quyền lực,” ông già nói sau một lúc suy nghĩ. “Ngay cả các vị tù trưởng cũng không thể đến gặp ông ta khi muốn. Chỉ khi được ông ta ưng thuận.
“Hãy đợi cho cuộc chiến tàn. Rồi theo đoàn lữ hành đi khỏi đây. Đừng cố xía vô đời sống ốc đảo,” ông già nói rồi bước đi.
Nhưng ông người Anh thấy hoan hỉ. Họ đã theo đúng hướng.
Cuối cùng, một thiếu nữ không bận đồ đen đi đến. Cô mang cái bình trên vai, đầu quấn khăn, nhưng không che mặt. Thằng con trai tiến đến và hỏi về nhà hóa kim.
Ngay lúc đó, với nó, thời gian bỗng như ngừng trôi, và cái Hồn Chung trỗi dậy trong lòng. Khi nó nhìn vô đôi mắt đen huyền, và thấy đôi môi cô cười e lệ, nó biết được phần quan trọng nhất của cái ngôn ngữ cả thế gian đều dùng – loại ngôn ngữ mọi người trên trái đất đều hiểu được bằng trái tim mình. Tình yêu. Một cái gì đó xưa hơn nhân loại, cổ hơn sa mạc. Một cái gì đó tạo ra lực khi hai đôi mắt gặp nhau, như họ lúc này bên miệng giếng. Cô cười, và đó chắc chắn là một điềm lạ – cái điềm lạ nó đã chờ, ngay cả không biết là mình đã chờ, suốt một đời. Cái điềm lạ nó đã cố tìm ở bầy cừu, trong sách vở, trong pha lê, và trong sự tĩnh lặng của sa mạc.
Đó là cái Tiếng Chung tinh khiết, chẳng cần tới giải thích, như thể vũ trụ không cần giải thích khi du hành qua thời gian bất tận. Cái thằng con trai cảm nhận được lúc đó là người con gái của đời mình đang hiện hữu trước mặt, và chẳng cần tới ngôn từ, cô cũng cảm nhận y như nó. Nó chắc chắn về điều đó hơn bất kỳ điều gì khác trong thế gian này. Cha mẹ và ông bà đã bảo nó phải yêu và biết thiệt rõ ai đó trước khi muốn cưới. Nhưng có lẽ những người cảm nhận theo cách đó chưa bao giờ học được cái ngôn ngữ phổ quát. Vì, khi bạn biết cái ngôn ngữ đó, thiệt dễ để hiểu ra có ai đó ở thế gian này đang chờ bạn, dù đó là ở giữa lòng sa mạc hay ngay trong một thành phố lớn. Và khi hai người bất ngờ chạm mặt, rồi mắt họ gặp nhau, quá khứ và tương lai không còn quan trọng nữa. Chỉ có khoảnh khắc đó, và chỉ có sự chắc chắn đến mức khó tin là vạn vật dưới ánh mặt trời đã được viết ra bởi một bàn tay duy nhất. Đó là bàn tay đã khơi dậy tình yêu, và sáng tạo nên cái tâm hồn đồng điệu cho mỗi người ở thế gian này. Không có tình yêu đó, những giấc mơ của một đời người sẽ chẳng còn ý nghĩa.
Maktub, thằng con trai nghĩ.
Ông người Anh lắc thằng con trai: “Làm ơn hỏi hộ cái!”
Thằng con trai nhích lại gần cô gái hơn, và khi cô cười, nó cũng cười.
“Em tên gì?” nó hỏi.
“Fatima,” cô gái trả lời, liếc nhìn qua chỗ khác.
“Con gái xứ anh cũng có tên đó.”
“Đó là tên con gái đấng Tiên Tri,” Fatima nói. “Những kẻ xâm lăng đem cái tên đó đi khắp nơi.” Người con gái đẹp nói đến những kẻ xâm lăng với vẻ tự hào.
Ông người Anh thúc nó, và thằng con trai hỏi cô về người đàn ông trị bịnh cho người ở đây.
“Đó là người biết hết mọi bí mật của thế gian này,” cô nói. “Ông ta thông giao với thần linh sa mạc.”
Thần linh sa mạc là những linh hồn thiện và ác. Cô chỉ về hướng nam, tỏ dấu đó là nơi người đàn ông kỳ lạ sống. Rồi cô đổ nước vô đầy bình và đi khỏi.
Ông người Anh cũng biến luôn, đi tìm nhà hóa kim. Còn thằng con trai ngồi lại bên giếng một lát, nhớ lại cái ngày ở Tarifa ngọn gió Levant mang đến cho nó mùi hương của cô gái đó, và nhận ra nó đã yêu cô ngay cả trước khi nó biết cô tồn tại. Nó biết mối tình mình dành cho cô sẽ giúp nó khám phá ra mọi kho báu trên thế gian này.
Hôm sau, thằng con trai trở lại bên giếng, hy vọng gặp lại cô gái. Trời đất, ông người Anh cũng ở đó, nhìn ra ngoài sa mạc.
“Tôi chờ suốt buổi chiều và suốt đêm,” ông ta nói. “Thầy xuất hiện khi ánh sao đầu tiên hiện lên trong đêm. Tôi nói cho thầy biết cái tôi đang tìm kiếm, và thầy hỏi tôi đã bao giờ biến được chì thành vàng chưa. Tôi nói với thầy rằng đó là điều tôi đến đây để học.
“Thầy bảo tôi nên cố làm cho được điều đó. Đó là những gì thầy nói: ‘Đi đi và cố lên.’”
Thằng con trai chẳng nói gì. Ông người Anh tội nghiệp đã du hành hết quãng đường này chỉ để được bảo là ông ta nên lặp lại những gì ông ta đã làm quá nhiều lần rồi.
“Vậy thì, hãy cố lên,” nó nói với ông người Anh.
“Đó là cái mà tôi sẽ làm. Tôi sẽ bắt tay vô làm ngay bây giờ.”
Khi ông người Anh đi khỏi, Fatima đến và đổ nước vô đầy bình.
“Anh đến để nói với em một điều,” thằng con trai nói. “Anh muốn em làm vợ. Anh yêu em.”
Cái bình rớt khỏi tay cô, và nước đổ tung ra.
“Anh sẽ đợi em ở đây mỗi ngày. Anh băng qua sa mạc để tìm ra kho báu nằm đâu đó bên những ngọn Kim Tự Tháp, và với anh, chiến tranh dường như là một lời nguyền. Nhưng giờ đây nó lại là một phúc lành, vì nó mang em đến với anh.”
“Một ngày nào đó cuộc chiến sẽ tàn,” cô nói.
Thằng con trai nhìn đảo qua những gốc cọ. Nó tự nhắc mình nó là đứa chăn cừu, và sẽ lại làm đứa chăn cừu một lần nữa. Fatima quan trọng hơn kho báu.
“Đàn ông bộ lạc luôn tìm kiếm kho báu,” cô nói, dường như cô đoán ra được điều nó nghĩ. “Con gái sa mạc tự hào về đàn ông của mình.”
Cô đổ nước vô đầy bình lại, rồi đi.
Thằng con trai đến bên giếng mỗi ngày để gặp Fatima. Nó kể cô nghe đời chăn cừu, về vị vua, và tiệm pha lê. Họ thành bạn, và ngoại trừ mười lăm phút có được với cô, mỗi ngày dường như chẳng chịu qua đi. Khi nó lưu lại ốc đảo hầu như được một tháng, người trưởng đoàn lữ hành triệu tập một cuộc họp với tất cả mọi người du hành chung với mình.
“Chúng ta không biết được khi nào thì chiến tranh kết thúc, vì vậy chúng ta không thể tiếp tục hành trình của mình,” ông ta nói. “Các trận đánh có thể kéo dài trong một thời gian dài, có lẽ ngay cả nhiều năm. Cả hai phía đều có lực lượng mạnh, và cuộc chiến quan trọng cho cả hai. Nó không phải là trận chiến thiện chống ác. Nó là một cuộc chiến giữa hai lực lượng đánh nhau để cân bằng quyền lực, và, khi kiểu chiến tranh đó bắt đầu, nó kéo dài hơn những trận chiến khác – vì Allah ở với cả hai phía.”
Người ta quay lại chỗ ở, và trưa hôm đó thằng con trai đi gặp Fatima. Nó kể cô nghe cuộc họp hồi sáng. “Cái ngày sau khi mình gặp,” Fatima nói, “anh nói là anh yêu em. Rồi anh dạy em chút chút về cái ngôn ngữ phổ quát và cái Hồn Chung. Vì lẽ đó, em đã thành một phần đời anh.”
Thằng con trai lắng nghe giọng nói của cô, và nghĩ nó còn đẹp hơn cả âm thanh gió qua hàng cọ.
“Em đã chờ anh ở đây trong cái ốc đảo này suốt một thời gian dài. Em đã quên quá khứ, quên truyền thống của mình, và cái cách đàn ông sa mạc mong đàn bà xử sự. Từ hồi nhỏ, em đã mơ sa mạc sẽ đem lại cho mình món quà kỳ diệu. Giờ món quà đã tới, là anh đó.”
Thằng con trai muốn nắm lấy tay cô. Nhưng đôi tay của Fatima đang giữ cặp quai bình.
“Anh đã kể em nghe những giấc mơ của mình, về vị vua già, và kho báu. Anh kể em nghe về những điềm lạ. Vì vậy giờ em không sợ gì hết, vì những điềm lạ đó mang anh đến bên em. Em là một phần giấc mơ của anh, một phần trong cái Niềm Riêng của anh, như cách anh gọi đó.
“Đó là sao em muốn anh tiếp tục hướng đến mục tiêu của mình. Nếu anh phải chờ cho đến tàn chiến cuộc, thì cứ chờ. Nhưng nếu anh phải đi trước lúc đó, hãy tiếp tục theo đuổi giấc mơ của mình. Các đụn cát thay đổi theo gió, nhưng sa mạc không bao giờ thay đổi. Tình mình cũng vậy.
“‘Maktub,’ cô nói. ‘Nếu em đúng là một phần giấc mơ của anh, một ngày nào đó anh sẽ quay về.’”
Thằng con trai thấy buồn khi từ giã cô ngày hôm đó. Nó nghĩ đến mấy thằng chăn cừu có vợ mà nó biết. Họ gặp rất nhiều khó khăn để thuyết phục vợ mình là họ phải đi tới những cánh đồng xa. Tình yêu đòi họ ở lại với người mình yêu.
Thằng con trai kể lại cho Fatima nghe chuyện đó trong lần gặp kế.
“Sa mạc bắt đàn ông ra khỏi tay con gái bọn em, và chẳng phải lúc nào họ cũng về lại được,” cô nói. “Tụi em biết điều đó, và tụi em quen với nó rồi. Những ai không về trở thành một phần mây trời, một phần muông thú dấu mình trong khe núi, và một phần giòng nước đến từ lòng đất. Họ thành một phần của vạn vật… họ thành cái Hồn Chung.
“Vài người quay về được. Và rồi những người con gái khác vui sướng vì người đàn ông của mình có lẽ một mai cũng sẽ quay về. Em nhìn những người con gái đó và thấy ganh với hạnh phúc của họ. Rồi đây, em cũng sẽ thành một trong số những cô gái phải chờ.
“Em là con gái sa mạc, và em thấy tự hào về điều đó. Em muốn chồng mình phiêu lãng tự do như ngọn gió tạo nên hình hài những đụn cát. Và, nếu phải chịu, em sẽ chấp nhận chuyện chồng mình trở thành một phần mây trời, một phần muông thú, và một phần nguồn nước sa mạc.”
Thằng con trai đi tìm ông người Anh. Nó muốn kể cho ông ta nghe về Fatima. Nó ngạc nhiên hết sức khi thấy ông người Anh đã tự mình xây một cái lò bên ngoài căn lều của mình. Đó là một cái lò kỳ lạ, đốt bằng củi, có cái bầu trong suốt nung trên mặt lò. Khi ông người Anh nhìn ra sa mạc, đôi mắt ông ta như sáng hơn so với lúc đọc sách.
“Đây là giai đoạn đầu của công việc,” ông ta nói. “Tôi phải tách lưu huỳnh ra. Để làm được điều đó thành công, tôi phải không sợ thất bại. Chính cái nỗi sợ thất bại đã ngăn tôi đạt được Kỳ Công. Giờ đây, tôi đang bắt vô làm cái tôi lẽ ra phải bắt vô làm từ mười năm trước. Nhưng tôi thấy sướng là tôi đã không phải đợi tới hai mươi năm.”
Ông ta tiếp tục nuôi lửa, và thằng con trai ở lại đó cho tới khi sa mạc ngã hồng dưới ánh chiều tà. Nó cảm thấy nỗi thôi thúc đi vô sa mạc, để coi sự tĩnh lặng của nó có giữ những câu trả lời cho các câu hỏi của nó hay không.
Nó lang thang trong một lúc, giữ bóng cọ ốc đảo trong tầm mắt. Nó lắng nghe tiếng gió, và cảm nhận đá dưới chân. Đó đây, nó tìm thấy những mảnh vỏ sò, và nhận ra sa mạc, thời xa xưa, đã từng là đáy biển. Nó ngồi trên một tảng đá, và để cho đường chân trời thôi miên. Nó cố xử trí với khái niệm tình yêu tách bạch khỏi cái ham muốn sở hữu, và không thể phân chúng ra. Nhưng Fatima là con gái sa mạc, và, nếu có bất kỳ điều gì có thể giúp nó hiểu được nàng, thì đó chính là sa mạc.
Khi ngồi đó nghĩ ngợi, nó cảm nhận được một số chuyển động trong bầu không phía trên. Ngước nhìn lên, nó thấy một cặp diều hâu đang bay cao trên bầu trời.
Nó ngắm cặp diều hâu khi chúng lượn trong gió. Cho dù đường bay của chúng có vẻ không theo một cách thức nào hết, nó có ý nghĩa gì đó với thằng con trai. Chỉ có điều là thằng con trai chưa thể nắm bắt được nó có nghĩa gì. Nó dõi theo sự di chuyển của đôi diều, cố đọc ra ý nghĩa. Có lẽ những cánh chim sa mạc này có thể giải thích được cho nó cái ý nghĩa của tình yêu chẳng màng sở hữu.
Nó thấy buồn ngủ. Trong thâm tâm nó muốn thức, nhưng nó cũng muốn ngủ. “Mình đang học cái Tiếng Chung, và vạn vật ở thế gian này bắt đầu có ý nghĩa với mình… ngay cả đường bay của đôi diều,” nó tự nhủ. Và, trong trạng thái tâm thần đó, nó thấy cảm kích khi được yêu. Khi yêu, mọi vật có ý nghĩa hơn, nó nghĩ.
Bất thình lình, một con diều hâu lao chớp nhoáng ngang trời, tấn công con kia. Khi con diều hâu làm vậy, bất thình lình, một hình ảnh thoáng qua đầu nó: một đạo quân, đao kiếm tuốt trần, phi vào ốc đảo. Cái ảo mộng đó tan biến ngay lập tức, nhưng nó làm thằng con trai run rẩy. Nó đã nghe người ta nói về ảo giác, và tự mình trông thấy một ít: chúng là những ao ước, do cường độ mạnh, hiện ra trên mặt cát sa mạc. Nhưng chắc chắn là nó không ao ước thấy một đạo quân xâm phạm cái ốc đảo.
Nó muốn quên cái ảo mộng, và trở lại với sự nhập định. Nó cố tập trung trở lại vô bóng chiều sa mạc tím hồng, và những tảng đá. Nhưng có gì đó trong tim không cho nó làm vậy.
“Hãy luôn để ý đến các điềm lạ,” vị vua già đã nói. Thằng con trai nhớ lại cái nó đã thấy trong ảo mộng, và cảm nhận rằng điều đó sẽ xảy ra thiệt.
Nó nhổm dậy, và quay lại rừng cọ. Một lần nữa, nó nhận thức được có nhiều ngôn ngữ trong vạn vật quanh ta: lần này, sa mạc vẫn an bình, chính cái ốc đảo mới trở nên nguy hiểm.
Người dẫn lạc đà đang ngồi ở một gốc cọ, ngắm hoàng hôn. Anh ta thấy thằng con trai hiện ra từ phía sau đụn cát.
“Một đạo quân đang tiến đến,” thằng con trai nói. “Tôi có ảo mộng.”
“Sa mạc lấp đầy trái tim đàn ông bằng ảo mộng,” người dẫn lạc đà trả lời.
Nhưng thằng con trai kể cho anh ta nghe về cặp diều hâu: nó đã ngắm đường bay của chúng và bất thình lình thấy mình sa vào cái Hồn Chung.
Người dẫn lạc đà hiểu được cái thằng con trai đang cố nói. Anh ta biết rằng bất kỳ điều gì trên mặt đất cũng có thể bộc lộ được lịch sử của vạn vật. Một người có thể mở sách ra ở bất cứ trang nào, hoặc nhìn vô bàn tay ai đó; một người có thể lật một lá bài, hoặc dõi theo cánh chim bay… từ bất kỳ điều gì quan sát được, một người có thể tìm ra sự nối kết với trải nghiệm của mình về lúc đó. Thật vậy, không phải tự những cái đó biểu lộ ra bất kỳ điều gì; chính là người ta, khi nhìn vào những gì xảy ra quanh họ, có thể nhận ra được phương tiện để thấu suốt được cái Hồn Chung.
Sa mạc đầy dẫy những người kiếm sống dựa trên cái biệt tài có thể dễ dàng thấu suốt được cái Hồn Chung. Họ được coi như những thầy số. Đàn bà và người già sợ họ. Đàn ông bộ lạc cũng ngần ngại khi vấn ý họ, vì sẽ không thể đánh đấm ra trò được nếu biết được rằng mình có số chết. Đàn ông bộ lạc khoái cái vị đánh đấm, và cái rờn rợn của không biết kết quả nào sẽ đến; tương lai đã được viết ra bởi Allah, và cái ổng viết luôn vì sự tốt đẹp của con người. Vì vậy đàn ông bộ lạc chỉ sống cho hiện tại, vì hiện tại đầy dẫy ngạc nhiên, và họ phải tỉnh táo trước nhiều điều: kiếm của kẻ thù đang ở vị trí nào? ngựa của nó ở đâu? Nên ra đòn nào để sống còn? Người dẫn lạc đà không phải là chiến sĩ, và anh ta đã vấn ý nhiều thầy số. Nhiều người nói đúng, trong khi một số khác nói sai. Rồi, một ngày nọ, ông thầy số già nhất mà anh ta trước giờ tìm tới (và là người bị sợ nhất) đã hỏi anh ta sao lại quá quan tâm tới tương lai vậy.
“Ô… nhờ vậy tôi có thể làm được nhiều điều,” anh ta đã đáp. “Và nhờ vậy tôi có thể thay đổi được những điều tôi không muốn thấy xảy ra.”
“Nhưng khi đó chúng không còn là một phần tương lai anh nữa,” ông thầy số nói.
“Ơ, có lẽ tôi chỉ muốn biết tương lai để tự chuẩn bị cho những gì sẽ tới.”
“Nếu những điều tốt đến, chúng sẽ là sự ngạc nhiên đáng hài lòng,” ông thầy số nói. “Nếu các điều xấu đến, và anh đã biết trước, anh sẽ đau khổ kinh khủng ngay cả trước khi chúng xảy ra.
“Tôi muốn biết tương lai vì tôi là đàn ông,” người đánh lạc đà nói với ông thầy số. “Và đàn ông luôn sống vì tương lai.”
Ông thầy số là một người chuyên gieo nhánh cây; ông ta gieo chúng xuống đất, và diễn giải dựa theo cách chúng rơi. Bữa nọ, ông ta không gieo nhánh cây nữa, bọc chúng trong một mẩu vải rồi đặt chúng vô lại trong túi.
“Tôi kiếm sống bằng đoán hậu vận người ta,” ông ta nói. “Tôi biết được cái khoa về cành cây, và tôi biết dùng chúng ra sao để thấu tới cái nơi mọi thứ được viết ra. Ở đó, tôi có thể đọc được khá khứ, khám phá lại những gì bị quên lãng, và hiểu được những điềm lạ vốn ở ngay đây trong hiện tại.
“Khi người ta vấn ý tôi, chẳng phải tôi đang đọc được tương lai; tôi đang đoán tương lai. Tương lai tùy thuộc vào ông Trời, và chỉ có ông ta mới hé lộ được nó, ở một số trường hợp khác thường. Làm sao tôi đoán được tương lai? Căn cứ theo những điềm lạ trong hiện tại. Bí mật nằm ở đây trong hiện tại. Nếu anh chú ý tới hiện tại, anh có thể cải thiện được nó. Và nếu anh cải thiện được hiện tại, cái tới sau này cũng sẽ tốt hơn. Hãy quên tương lai đi, và sống mỗi ngày theo các lời khuyên dạy, tự tin rằng ông Trời yêu đàn con của mình. Mỗi ngày, tự nó, mang trong mình sự vĩnh cữu.”
Người dẫn lạc đà hỏi trong những trường hợp nào ông Trời sẽ cho phép anh ta thấy được tương lai.
“Chỉ khi tự ổng hé lộ nó. Và ông Trời hiếm khi hé lộ tương lai. Khi ổng làm vậy, chỉ với một lý do duy nhất: đó là cái tương lai được viết ra để được thay đổi.”
Ông Trời đã chỉ cho thằng con trai một phần của tương lai, người dẫn lạc đà nghĩ. Tại sao ổng lại muốn thằng con trai làm công cụ cho ổng?
“Hãy đến nói với các vị tù trưởng bộ lạc,” người dẫn lạc đà nói. “Nói cho họ biết một đạo quân đang tiến sát đến ốc đảo.”
“Họ sẽ cười vô mặt tôi.”
“Họ là dân miền sa mạc, và dân miền xa mạc quen xử trí với các điềm lạ rồi.”
“Ô, họ có thể đã biết rồi.”
“Họ chưa quan tâm tới điều đó lúc này. Họ tin là nếu họ phải biết đến một điều gì đó Allah muốn họ phải biết, thì một ai đó sẽ nói cho họ biết điều đó. Nó xảy ra nhiều lần rồi. Nhưng lần này, cái người đó chính là bạn.”
Thằng con trai nghĩ đến Fatima. Và nó quyết định sẽ đến gặp các vị tù trưởng của bộ lạc.
[CÒN TIẾP]
.