bộ lòng những con cá nọ như đèn
lại sáng lên một lần
tỉnh dậy, trong miệng ngậm muối
tuyệt như niềm vui mới nếm lần đầu
tôi ra ngoài đi dạo
căn nhà học cách lắng nghe
một số cây rùng mình
ai đó vừa thành anh hùng
buộc phải vẫy tay chào hỏi
chim và người bắn chim
tình yêu giữa đám núi
vĩnh hằng, chính như sự nhẫn nại của vạn vật
giản hóa tiếng người
một tiếng kêu thê thiết
từ xa xưa đến tận bây giờ
nghỉ ngơi đi, kẻ lữ hành mệt nhoài
vành tai bị thương
bộc lộ sự tôn nghiêm của anh
một tiếng kêu thê thiết
người từ biển sâu trở về
mang theo mật mã mặt trời mọc
sự yên lặng của triệu triệu con ngựa bị nhuộm xanh
chuông, vành tai của thời đại này
bởi điếc nên ở trung tâm sự huyên náo
chim ưng chao liệng trên trời như ngôn ngữ ký hiệu
bởi một tín hiệu thốt ra từ chiếc miệng cổ xưa
cầu vồng nối xuyên qua tất cả triều đại đến phút này
chiếc bóng được tiếp điện bật đứng dậy
sông gầy guộc chảy xuống từ trời
xuyên qua rừng táo tình đầu của người chủ nghèo
từ trên mặt y ráng chiều tan mất
chữ Hán in đầy đêm đen
cá sấu sông Congo trên TV
ngoạm chặt bọng đái của người nằm mơ
khi đũa kéo căng cây cung đầy tháng
đầu bếp một nhát chém đứt
bình minh trong đầu gà trống.
Nguồn: Theo nguyên tác tiếng Hoa trong tập thơ song ngữ Hoa-Anh 時間的玫瑰 – The Rose of Time (Hoa Hồng Của Thời Gian) của Bắc Đảo, bài “Sáng sớm” [早晨] tr. 148, bài “Ở chân trời” [在天涯] tr.114 và bài “Thời kỳ quá độ” [过渡时期] tr.268.
.