Home » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

mắc cạn

0 comment ♦ 27.07.2026

Huế_Lăng Tẩm_2

Mưa Huế có cái kiểu lạ đời lắm. Nó không dữ dằn như mưa núi. Nó cứ lất phất, dai dẳng, như có ai ngồi trên trời rỉ rả nhớ chuyện cũ hoài không chịu dứt. Những ngày cuối năm, đồi Thiên An chìm trong thứ sương mù trắng đục. Nhìn xa cứ tưởng cả khu rừng thông đang bị một bàn tay âm phủ vuốt ve chầm chậm.

Chiều đó, ông Phan Hữu Trí chạy chiếc Dream cũ lên hồ Thủy Tiên. Ông sáu mươi tám tuổi, người cao gầy, mắt sâu, tóc bạc như muối rang. Dân Huế cũ nhiều người còn nhớ ông hồi trẻ nổi tiếng lanh lợi, nói chuyện có duyên, viết báo sắc như dao cạo. Hồi sinh viên Văn khoa Sài Gòn trước bảy lăm, ông từng xuống đường, hô khẩu hiệu, tưởng rằng mình đang cứu một đất nước. Rồi ông có vô bưng học chính trị mấy tháng, viết báo tuyên truyền. Sau năm 1975, ông về Huế làm bên văn hóa.

Người ta từng nghĩ ông sẽ lên nữa. Ông cũng từng nghĩ vậy. Lúc trẻ, ai không từng nghĩ mình đúng. Cái nguy hiểm của tuổi trẻ là tin mình đúng tới mức không còn biết sợ.

Con đường lên đồi Thiên An bữa đó ướt nhẹp. Hai bên thông đứng đen sì. Gió lùa qua rừng nghe như tiếng ai thở dài. Ông Trí dừng xe kế bên cái cổng công viên cũ, chỗ lối nhỏ đi vào, có dựng cái bảng: “Công trình Cải tạo Công viên nước Hồ Thủy Tiên”. Bảng mới tinh. Nhưng bên trong thì vẫn còn đầy mùi mục, xi măng ẩm, rong rêu và thời gian chết.

Ông Trí nhớ hồi sáng có đọc trên mạng, mấy tờ báo địa phương đăng tin công trình hồ Thủy Tiên bắt đầu đào móng giai đoạn hai từ hôm nay. Bên dưới bài báo, ai đó để lại bình luận: “Đêm nay họp hiện trường lúc mười một giờ, mấy ông lớn vô xem tiến độ.” Người ta hay làm vậy, họp đêm để tránh báo chí, tránh dân tụ tập.

Ông đứng nhìn tượng rồng giữa hồ. Nó vẫn còn đó. Đầu ngẩng cao, mắt trợn ngược. Hai cái nanh cong trắng hếu chĩa ra khỏi mép như muốn cắn ai. Người ta mới trám lại mấy vết nứt bằng xi măng. Nhìn giống cái xác chết được vá mặt.

Ông Trí cười nhạt.

— Rứa là tụi bây cũng bị trùng tu như cán bộ hưu trí tụi tao hè…

Gió thổi mạnh hơn. Từ trong miệng rồng tối om, có tiếng nước nhỏ tong tong.

Ông bước vô. Cầu thang xoắn ốc bên trong thân rồng vẫn còn. Rong phủ xanh lét. Những bể cá bỏ hoang đầy chai bia, đầu lọc thuốc lá, mấy hình graffiti tục tĩu của đám trẻ.

Mùi bên trong thân rồng ngai ngái như bùn sông để lâu ngày trong hũ kín, lạnh tanh pha mùi sắt gỉ. Trên vách xi măng, những chỗ trám vá mới còn loang màu xám nhợt. Giữa các đường nứt nhỏ li ti, lâu lâu lại rịn xuống vài giọt nước đục vàng khè, bò chậm dọc thân tường rồi đọng dưới nền.

Ông Trí đứng nhìn một hồi lâu, tự nhiên nhớ tới mấy pho tượng quan đá ở lăng Gia Long hồi còn nguyên chức vụ, hôm đó ông dẫn đoàn khảo sát vô coi trùng tu, trời cũng lâm râm mưa kiểu này. Một ông thợ già người Phú Vang lúc đó ngồi hút thuốc dưới chân tượng quan võ bị mất nửa vành tai, bỗng nói tỉnh queo rằng ban đêm đừng nhìn mặt tượng lâu quá, vì có những pho tới gần sáng mắt nó đổi hướng theo người đứng coi. Hồi đó ông cười, nghĩ dân gian hù nhau. Giờ tự nhiên không cười nổi nữa.

Ngay dưới chân cầu thang xoắn, một mảng xi măng mới trám bỗng bong ra lật xuống nền nghe “bẹp” một tiếng nhỏ, lớp mặt ngoài rơi trước, còn phần bên trong đen nhầy như thịt mục ngâm nước lâu ngày. Nhưng giữa những nét vẽ đó, có một hàng chữ đỏ sậm ai đó nguệch ngoạc:

“Rồng Không Chết. Chỉ Bị Nhốt.”

Ông Trí đứng khựng, tự nhiên bổng thấy rởn gáy. Hồi còn làm phó phụ trách văn xã thành phố, ông từng ký vô mấy hồ sơ giải tỏa quanh Thiên An. Không phải ông muốn, nhưng guồng máy nó vậy.

Ông nhớ rất rõ bữa họp hôm đó. Vị lãnh đạo Thành phố hút thuốc liên tục. Ông phó kinh tế tên Lâm ngồi rung đùi, nói giọng nhẹ hều:

— Phải làm du lịch. Muốn phát triển thì phải hy sinh chút ít.

Ông Trí hỏi:

— Hy sinh ai?

Lâm cười:

— Dân.

Cả phòng cười theo. Riêng ông không cười nổi. Lúc đó, lần đầu tiên trong đời ông thấy chữ “nhân dân” bị nói nhẹ như cọng rác.

Sau này, ông mới hiểu. Khi người ta còn hô hào lý tưởng, nghĩa là người ta chưa có quyền lực. Hồi chưa có quyền lực, người ta hay nói chuyện lý tưởng. Tới lúc ngồi được vô ghế rồi, câu chuyện trên bàn rượu chỉ còn đất, dự án, phần trăm.

Nhưng ông Trí cũng không ghét ông Lâm hoàn toàn, bởi có những bữa ngồi uống rượu khuya ở quán thịt dê dưới chân cầu Bạch Hổ, nghe Lâm nói chuyện đời mình, ông lại thấy cái ác nhiều khi không phải từ bản chất con người, mà từ sợ nghèo, sợ bị người ta dìm xuống. Một ngày nào đó mình sẽ biến mất khỏi cuộc chơi này như cục đá chìm dưới đáy sông Hương không ai buồn nhớ tới.

Bữa đó, Lâm ngồi rót rượu, mắt đỏ ké. Tay ông cầm chai rượu run nhẹ, không phải vì say. Kiểu run của người đã giữ thứ gì nặng quá lâu trong lòng bàn tay tới mức cơ thịt không còn nhớ cách buông.

Lâm nhìn xuống ly rượu một hồi rồi mới nói, giọng khàn như người vừa ngủ dậy giữa chừng:

— Anh Trí biết không, hồi tui mới vô cơ quan, tui có viết một cái đề án. Đề án hỗ trợ dân vùng giải tỏa. Tui thức mấy đêm liền. Giờ không còn nhớ để ở đâu nữa.

Ông Trí nhìn Lâm. Nhìn bàn tay đó, ngón tay to bè, khớp đốt nổi cao, thứ bàn tay không phải của người lớn lên trong nhung lụa.

Lâm rót rượu, lời lại ra theo.

— Anh Trí à, tụi mình giờ đâu còn sống cho mình nữa.

Ông Trí không nói gì.

Lâm cười, cái cười méo xẹo như người nuốt không trôi miếng đắng:

— Anh còn đường lui. Chớ tui mà ngừng lại, tụi nó đạp tui chết liền.

Nói rồi Lâm ngửa mặt uống cạn ly rượu. bên ngoài mưa Huế lắc rắc đổ xuống mái tôn, như tiếng ai cào móng tay lên mặt gỗ mục.

Đêm đó về nhà, ông thức trắng. Ngoài hiên, mưa lất phất quẹt qua hàng bông giấy nghe sột soạt như có ai đứng nép ngoài sân mà thở dài hoài không dứt. Thằng Phong, con trai ông, mới du học về chưa bao lâu, tóc chải bóng, áo sơ mi trắng thẳng nếp, cặp kính gọng vàng hắt ánh đèn lạnh tanh trên sống mũi. Nó vừa bấm điện thoại vừa cười nhạt, cái kiểu cười tỉnh queo của lớp người trẻ bây giờ, chuyện gì cũng quen đem ra cân bằng lời lỗ.

— Ba nghĩ nặng lòng quá. Thời buổi này, người ta sống phải biết thực tế.

Ông Trí ngồi im một hồi rồi mới ngước lên:

— Thực tế kiểu chi?

Phong nhún vai, giọng nhẹ mà nghe lạnh:

— Đất bỏ không thì đem làm ra tiền. Chớ giữ đó cho mấy cái bóng dưới mồ ở hoài sao được.

Ông Trí nhìn con mình, nhìn gương mặt còn rất trẻ mà ánh mắt đã ráo khô tới mức, không còn chỗ cho một điều gì mơ hồ hay kính sợ. Tự nhiên trong lòng ông dội lên cảm giác lạ lắm, như giữa cha con vừa có một quãng nước sâu âm thầm, mở ra từ lúc nào mà không ai hay.

Hồi nhỏ, thằng này từng ngồi trên vai ông coi thả đèn hoa đăng sông Hương. Ông Trí chợt nhớ hồi mười hai tuổi, có lần thằng Phong đi ngang nghĩa địa gần lăng Tự Đức, tự nhiên nó níu chặt tay ông hỏi nhỏ: “Người chết nằm dưới đó có nghe tiếng mình nói không ba?” Hồi đó ông chỉ cười xòa. Giờ nghĩ lại, tự nhiên ông không biết ai mới là người thay đổi trước. Nó từng khóc khi thấy người bán vé số bị đuổi. Mà giờ nó nói chuyện bằng giọng của một nhà đầu tư. Ông bỗng thấy có thứ gì trong mình đã không còn nằm bên phía thằng Phong nữa.

Ông Trí nhìn thằng con một lúc rồi tự nhiên nhớ lại hồi Phong mười lăm tuổi, có lần hai cha con ngồi coi tivi, trên màn hình chiếu lại cảnh người ta xếp hàng mua gạo thời bao cấp. Phong hỏi, giọng tò mò thật sự chứ không phải hỏi cho có:

— Sao hồi đó người ta không ra chợ mua cho rồi ba?

Ông Trí không biết giải thích từ đâu. Nói về tem phiếu, về ngăn sông cấm chợ, những thứ đó với thằng nhỏ lớn lên trong nhà có tủ lạnh, có wifi, còn xa hơn chuyện cổ tích. Ông chỉ ừ một tiếng rồi thôi. Bây giờ đứng nhìn Phong trong ánh đèn lạnh, ông mới hiểu cái ừ đó của mình đã để lại khoảng trống nào.

Một lần hai cha con cãi nhau tới khuya, Phong đứng ngoài ban công nhìn xuống sông Hương, giọng mệt mỏi:

— Ba cứ muốn giữ mọi thứ nguyên vẹn như hồi xưa, nhưng nếu ai cũng giữ kiểu đó thì Huế sống bằng cái gì?

Ông Trí gằn giọng:

— Không lẽ bán hết?

Phong quay lại nhìn cha mình, mắt nó đỏ lên hồi nào không hay:

— Chớ hồi trước ba có bán đời mình cho lý tưởng không? Khác gì tụi con đâu.

Câu nói đó làm ông Trí chết lặng.

Ngoài trời, một chiếc thuyền du lịch thả đèn chạy chậm trên sông, tiếng ca Huế theo gió bay lờ mờ như tiếng người xưa than thở. Ông ngồi im rất lâu, tự nhiên thấy giữa mình với con trai không phải chỉ cách nhau một thế hệ, mà cách nhau nguyên một dòng nước lớn, bên nào cũng nghĩ mình đang cứu lấy điều đúng đắn nhất.

Mưa lớn hơn, ông Trí leo lên tầng cao nhất trong thân rồng. Từ miệng rồng nhìn ra, hồ nước đen như mực tàu. Xa xa là rừng thông Thiên An. Xa nữa là hướng sông Hương.

Bất chợt, ông nghe tiếng gì đó sau lưng. Ông Trí đứng im. Mồ hôi lạnh rịn sau gáy.

— Ai?

Tiếng cười khô khốc vang lên trong bụng tượng rồng. Ông nghe tim mình đập mạnh. Ngoài hồ, gió bỗng nổi cuồn cuộn. Mặt nước dềnh lên. Và từ dưới hồ, có cái gì đó đang chuyển động. Một cái đầu dài đen ngòm từ từ nhô lên giữa mặt nước.

Không phải cá, chẳng phải rắn. Nó giống một con thuồng luồng khổng lồ. Hai mắt đỏ như than cháy. Nó ngẩng đầu nhìn tượng rồng. Rồi nhìn ông. Ông Trí không chạy. Lạ lùng thiệt. Người già nhiều khi hết sợ. Sợ hết một đời rồi.

Thuồng luồng há miệng. Giọng nó như tiếng nước xiết trong cống đá.

— Ngươi trở lại rồi à?

Ông Trí đứng im. Mồ hôi lạnh rịn sau gáy.

— Ngươi cũng giống họ thôi.

Ông Trí không nói được gì. Cái lạnh từ bụng tượng rồng như thấm ngược vô xương. Trong đầu ông bỗng dội lên cái cảnh bữa họp năm đó. Bàn tay ông Lâm rung đùi, điếu thuốc cháy dở trên gạt tàn, tờ hồ sơ giải tỏa nằm chờ chữ ký. Và tay ông đã ký. Không ai cầm tay ông. Không ai ép ông. Tay ông đã ký.

Con thuồng luồng không nói thêm gì. Nó chỉ nằm đó, nhìn ông bằng hai mắt đỏ sâu như cái giếng cũ bỏ hoang giữa đồng. Thứ giếng không phản chiếu bầu trời mà chỉ phản chiếu mặt người đang nhìn xuống.

Ông Trí bỗng thấy trong gương mặt mình phản lại dưới đó không phải ông bây giờ, mà là ông hồi bốn mươi tuổi, ngồi trong phòng họp máy lạnh, tay cầm bút, mắt nhìn ra cửa sổ, và ngoài cửa sổ là một dãy nhà dân đang chờ giải tỏa, mà ông đã cố tình không nhìn kỹ.

Ngoài chớp lóe. Ông nhìn thấy phía bên kia hồ, những pho tượng quan văn, quan võ, voi đá, ngựa đá đứng lố nhố trong sương như một triều đình bị bỏ quên giữa cõi âm. Pho nào pho nấy đen sạm, vai áo đóng đầy rêu, tượng thì mất đầu, tượng nứt dọc sống lưng, mấy vết hàn trám cũ hiện lên ngoằn ngoèo dưới ánh chớp, giống đường chỉ may trên một thân xác từng bị chặt ra rồi ráp lại.

Kỳ lạ nhứt là gương mặt mấy pho tượng. Ban đầu nhìn chỉ thấy lạnh và vô hồn, nhưng đứng lâu thêm chút nữa lại thấy như mỗi tượng đang mang một vẻ riêng. Tượng quan văn cúi mặt. Quan võ trợn mắt. Còn con ngựa đá bên trái hồ không hiểu sao dưới hốc mắt đọng hai vệt nước bùn chảy dài xuống tận mép.

Gió thổi qua rừng thông. Một tiếng “cộp” khô khốc vang lên đâu đó. Ông Trí giật mình nhìn sang thì thấy cánh tay của pho tượng lính túc vệ gần mép hồ vừa rơi xuống nền đá, phần lõi bên trong không phải màu trắng của xi măng mà đen sì như gỗ cháy, lủng lẳng vài sợi rễ cây nhỏ li ti đâm xuyên qua thân tượng, như thể rừng già đã âm thầm mọc vào trong đá tự bao giờ.

Một pho tượng quan võ mất nửa đầu đứng chơ vơ dưới mưa. Con voi đá gần mép hồ nứt ngang bụng, rêu đen ăn sâu vô những đường rạn. Mấy pho lính túc vệ thì lở mất mặt, chỉ còn những hốc tối lặng thinh nhìn ra màn sương đặc quánh. Gần hai trăm năm đứng dầm mưa dãi nắng, đám thạch tượng vẫn im ru. Mà đêm ni, không hiểu răng ông Trí cứ thấy chúng như đang lắng nghe thứ gì rất sâu dưới lòng đất.

Gió bỗng thốc qua rừng thông. Trong khoảnh khắc, ông Trí nghe quanh mình dậy lên vô số âm thanh chồng lấp. Tiếng mái chèo khua lóc cóc trong sương. Tiếng cuốc bổ xuống nền đất mềm nghe hộc hộc dưới mưa dầm. Rồi đâu đó, tiếng máy ủi nghiến qua nền lạnh ngắt. Giữa đám âm thanh lẫn lộn ấy còn chen vô tiếng đàn bà khóc nghẹn, tiếng người gọi nhau thất thanh lúc nhà cửa, mồ mả bị dời đi. Chúng quấn riết lấy nhau như một dòng nước đục đã ngâm quá nhiều oan khuất dưới đáy hồ, tới lúc trồi lên thì chẳng còn ai phân biệt nổi đâu là tiếng người đang sống, đâu là tiếng của kẻ đã chìm mất từ đời nào.

Ông Trí ôm đầu, giọng lạc đi:

— Đủ rồi…

Thuồng luồng khẽ động mình dưới nước, nó nhìn ông rất lâu. Hai con mắt đỏ không dữ, mà sâu hun hút như thứ gì đã nhìn người đời mục rã quá nhiều nên không còn buồn nổi nữa.

Tiếng cười trầm đục nổi lên, nghe như bọt khí vỡ đâu dưới đáy hồ lâu năm không ai khuấy.

— Còn ngươi?

Lần này ông Trí không cần nó nói tiếp. Ông biết câu hỏi đó hỏi gì rồi.

Từ trong miệng rồng tối om vọng xuống tiếng nước nhỏ tong tong chậm rãi. Âm thanh đó nhỏ lắm. Nhỏ tới mức nghe như tiếng ai đang đếm, đếm rất chậm, không biết đang đếm gì, mà nghe tới rởn gáy.

Ông Trí đứng im. Mưa quất vô mặt lạnh buốt. Một hồi lâu sau, ông mới cười, cái cười mỏng dính như hơi khói.

— Hồi trẻ ta cứ tưởng mình khác.

Ông nuốt chậm một hơi nghẹn trong cổ.

— Sau mới hay, hễ đã ngồi cao rồi… người ta dễ quên dưới chân mình có ai.

Ngoài kia, đám tượng đá vẫn đứng bất động giữa màn mưa trắng đục. Nhưng không hiểu sao ông Trí cứ có cảm giác, chúng không nhìn ông bằng oán giận, mà bằng một thứ buồn bã rất cũ, rất xa, như người chết đã thấy chuyện đó lặp đi lặp lại qua quá nhiều đời rồi nên chẳng còn sức để trách thêm ai nữa.

Ông Trí chợt nhớ hồi nhỏ mình từng theo cha chèo đò ngang lăng Minh Mạng vào những bữa sương xuống dày đặc mặt sông. Mỗi lần đi tới khúc đó, ông già đều tự nhiên hạ giọng, bắt ông ngồi im thin thít, không được cười lớn, không hát nghêu ngao, càng không được buông một câu tục tằn nào dù chỉ cho vui miệng. Hồi còn nhỏ, ông thấy vậy là mê tín, là kiểu kính sợ của người xưa trước vua chúa đã chết từ đời nào, nhưng tới tuổi này rồi ông mới thấm. Thứ người ta sợ chưa chắc là uy quyền, mà là khoảng im lặng phủ lên những nơi từng chứa quá nhiều quyền lực. Cần im lặng thì người ta mới nghe được tiếng mục ruỗng đang âm thầm rã ra từ bên trong, những thứ tưởng là vững bền.

Gần nửa đêm, tiếng động cơ xe rồ lên dưới dốc. Rồi ánh đèn pha quét qua hàng thông, trắng lạnh. Một đoàn xe hơi đậu lại trước cổng. Ông Lâm bước xuống trước, áo mưa khoác vội, tay cầm điện thoại còn sáng màn hình. Theo sau là mấy người đàn ông mặc vest, giày da dính bùn đỏ, ai cũng cúi đầu che mưa mà bước nhanh vô. Một người trong nhóm chỉ lên tượng rồng, nói gì đó. Người kia gật đầu, bấm điện thoại chụp ảnh. Ánh flash lóe lên trắng bệch giữa màn đêm. Phong đi sau cùng. Thằng con ông giờ là giám đốc dự án.

Ông Trí mắc mưa. Ướt sũng. Giờ đang đứng trong bóng tối dưới mái hiên cũ, nhìn ra. Lâm chưa thấy ông. Đám người kia cũng chưa thấy. Họ đang bàn tán gì đó, giọng người Bắc, người Nam lẫn lộn, tiếng số liệu, tiếng tên khu đất, tiếng cười ngắn.

Ông đứng thêm một lúc. Rồi bước ra. Phong nhìn cha mình:

— Ba làm gì ở đây?

— Tao chờ tụi bây.

Lâm cười nhếch mép:

— Anh Trí nghỉ hưu rồi còn thích lo chuyện thiên hạ.

Nhưng ông không bước tới. Đứng nguyên chỗ đó, tay vẫn cầm điện thoại mà không nhìn vô màn hình nữa. Như người vừa thấy thứ gì quen mà không muốn nhận ra.

Ông Trí nhìn quanh.

Đồi Thiên An chìm trong sương trắng. Mấy pho tượng đá thấp thoáng sau rừng cây như một triều đình đã chết.

Ông nói nhỏ:

— Mấy người không thấy à?

— Thấy gì?

— Rồng đang nổi giận.

Phong bực mình:

— Ba thôi đi. Toàn nói chuyện không có.

Ông Trí cười.

Lần đầu tiên sau nhiều năm, ông Trí bỗng thấy trong ngực mình nhẹ bẫng. Cái thứ nhẹ lạnh lẽo của một người vừa thôi chống cự với điều gì đó đã đeo bám quá lâu. Ông cười nhạt, giọng khàn đi giữa hơi đất ẩm:

— Ờ… chắc tao già rồi nên đâm ra lú lẫn, nói chuyện không giống ai.

Nói rồi ông chậm rãi đưa tay chỉ xuống mặt hồ phía dưới chân đồi.

Nước đang động, không phải kiểu gợn vì gió. Từng vòng nước đen sì âm thầm nổi lên từ đáy sâu, loang rộng ra như có thứ gì đang trở mình bên dưới lớp bùn đã nằm im mấy chục năm. Xa xa, đèn mấy chiếc xe công trình bỗng chớp tắt liên hồi, ánh sáng giựt từng cơn yếu ớt, như mí mắt người hấp hối, soi thoáng qua mặt nước đang sôi lục bục.

Một tiếng động khủng khiếp vang lên trong thân tượng rồng.

Rắc.

Rồi một tiếng “rắc” nữa khô khốc bật ra từ cổ tượng, nghe không giống tiếng đá nứt mà giống tiếng xương người già bị bẻ mạnh. Một đường rạn đen từ hốc mắt con rồng chậm chậm chạy xuống cần cổ, mấy lớp xi măng vá víu bao năm nay tự nhiên bong lên từng mảng, để lộ bên dưới lớp bê tông cũ đen ngòm, ẩm nhớt.

Rắc.

Rắc.

Mỗi lần thân tượng rung lên, từ hai hốc mắt rồng lại trào ra thứ nước đục màu bùn non, đặc quánh, kéo thành sợi lòng thòng xuống mép nanh trắng hếu. Xa xa dưới hồ, mặt nước cuộn lên từng vòng lớn như có con vật khổng lồ đang trở mình dưới đáy. Còn đám tượng đá bên rừng thông thì không biết do chớp nháy, hay do mắt ông Trí đã già, mà hình như đều vừa nhích tới trước một chút. Một chút thôi, nhưng đủ làm mọi sống lưng lạnh cứng. Từng mảng xi măng rơi xuống hồ. Trong khoảnh khắc chớp lóe, ông Trí thấy con thuồng luồng khổng lồ quẫy mình dưới nước như muốn lao lên trời. Mấy nhà đầu tư hoảng loạn bỏ chạy. Phong đứng chết trân.

Ông Trí quay lưng, lầm lũi đi xuống dốc đồi trong màn sương đang trườn dần qua những gốc thông già.

Phong bỗng gọi giật:

— Ba!

Ông Trí dừng lại nhưng không quay đầu.

Một hồi lâu sau, Phong mới nói rất nhỏ, nhỏ tới mức gần như tan vô tiếng mưa:

— Hồi đó… ba có từng sợ không?

Ông Trí đứng im.

Rồi ông bước tiếp xuống dốc.

— Có chớ. Nhưng hồi trẻ, người ta thường sợ trễ hơn lúc đáng lẽ phải sợ.

Không ai lên tiếng gọi theo ông nữa, chẳng ai bước tới níu lại. Gió rít từng cơn dài xuyên qua rừng cây nghe như tiếng sáo bị ai bẻ gãy giữa chừng.

Đúng lúc bóng ông gần khuất hẳn dưới triền dốc, từ phía hồ Thủy Tiên phía sau bỗng bật lên một tiếng gầm đục nghẹn, kéo dài và nặng trĩu như có thứ gì bị chôn ép dưới bùn non suốt gần hai trăm năm nay, vừa cựa mình đội đất để thở. Tiếng động ấy chẳng giống thú kêu, cũng không giống tiếng máy móc sập đổ, nó nghe như hơi thở mục ruỗng của cả một triều đại, tới bữa đó mới chịu trồi lên khỏi đáy tối.

*

Chiều cuối năm, mưa Huế không còn xối xả mà rả rích như khói nước. Mỏng tới mức nhìn xa tưởng sương đang chảy xuống từ những ngọn thông già trên đồi Thiên An. Người ta nói từ sau bữa đào móng cuối cùng, trên khu đất để hoang bên tu viện xa xa, chỗ địa phương tiếp quản năm xưa, luôn có mùi đất ướt ngai ngái như chiếu cũ lâu ngày bị thấm nước sông, dù nắng chang chang vẫn không tan hết.

Công trình nghỉ dưỡng rồi cũng dừng ngang. Mấy tấm tôn chắn quanh khu đất dần dần rồi cũng sét đỏ, nhiều chỗ tự bong lớp xi măng như da người bị mục lâu ngày dưới nước. Mấy người thợ còn nói tượng đá đặt tạm gần đó sáng nào cũng đọng hai vệt nước mưa mỏng chạy dài dưới mắt, dù hôm trước trời không hề có mưa. Lâu dần, người ta cũng thôi nhắc. Huế nhiều khi lạ vậy. Những chuyện càng nằm sâu thì người ta càng nói nhỏ đi.

Ông Lâm sau đó bán căn nhà dưới phố, dọn đi đâu không rõ. Người ta nói đêm trước khi đi, ông ngồi rất lâu ngoài hiên, hút hết gần nửa bao thuốc, mắt nhìn về phía đồi thông tối đen bên kia sông. Như nhìn một thứ gì còn mắc lại mà cả đời mình không gỡ nổi. Người ta kể lúc đứng lên, ông đã già sọm đi.

Còn Phong thì không quay lại Thiên An thêm lần nào nữa. Nghe đâu cậu ra Đà Nẵng làm cho một tập đoàn lớn. Vest giày vẫn chỉnh tề. Giọng nói dự án vẫn ráo hoảnh.

Chỉ có một chuyện lạ. Hễ chiều xuống mà trời mưa lâm râm kiểu Huế, hoặc tình cờ nghe tiếng mái chèo khua lóc cóc ở một quán ven sông, Phong thường khựng lại giữa câu nói, không xong. Ánh mắt trôi đi đâu đó rất xa. Rồi cậu lặng lẽ châm một điếu thuốc, đứng im rất lâu ngoài hiên. Người quen thấy vậy hay hỏi nghĩ gì. Phong bao giờ cũng cười, lắc đầu: không có gì.

Cái dáng đứng đó của Phong, không ai nhận ra, trừ những người từng biết ông Trí hồi trẻ.

Mùa mưa năm sau, mấy người chèo đò trên sông Hương bắt đầu truyền nhau một chuyện lạ. Hễ đưa khách ngang đoạn nhìn lên rừng thông Thiên An lúc trời sập tối, họ thường chống sào đi chậm lại, rồi tự động nói nhỏ đi, như sợ động giấc ai đó đang nằm sâu dưới đất. Không ai biểu họ làm vậy hết. Chỉ là lâu dần, thành lệ. Rồi từ đó, mỗi khi qua khúc sông ấy vào những đêm có sương, gần như chẳng còn người chèo đò nào dám huýt sáo nữa.

Articles by Nguyễn Đông A

Comments


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

@2006-2025 damau.org ♦ Da Màu Magazine
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)