Dịch từ nguyên tác tiếng Anh “Beyond Borders: A Journey Through Boundaries”, lời tựa của Đặng Thơ Thơ viết cho tuyển tập Beyond Borders (Da Màu Press, 2024)
Khái niệm qua lại giữa những biên giới là chủ đề chính nối kết các truyện ngắn trong tuyển tập Beyond Borders (Vượt Qua Những Biên Giới). Như tựa đề gợi ý, mọi truyện trong tuyển tập đều đưa ra một suy nghiệm về khái niệm biên giới, theo một cách nào đó. Biên giới là gì? Biên giới là những dấu mốc cụ thể, như bức tường, trạm canh, hàng rào quan thuế… nhằm ngăn chặn, phân cách con người với con người; và phân chia các không gian địa lý? Hay biên giới đã chuyển hoá về mặt tinh thần, thành những vùng tập tục, văn hoá, tín ngưỡng nằm trong lòng cộng đồng và nới rộng ra ngoài các giới hạn lãnh thổ? Có lẽ trong thế giới ngày càng kết nối chặt chẽ hơn của chúng ta, biên giới đã lan tràn khắp nơi, rõ rệt và ẩn giấu, phức tạp và đa dạng.
Cấu trúc của biên giới trong các truyện có thể đóng khung thành những không gian biệt lập, như một ngôi giáo đường, viện dưỡng lão, văn phòng, hòn đảo hoang vắng, phòng tối rửa hình, ký túc xá dành cho nữ sinh… Cấu trúc của biên giới có khi thu nhỏ lại, thành một vết sẹo, một điểm giữ thăng bằng, một nấc lệch, hay một thời khắc xảy ra biến cố… Có những truyện mà cấu trúc biên giới loãng ra, trừu tượng hơn, như ẩn dụ, như chiêm bao, như cơn mê dài khi trí não bị đẩy vào vùng vô thức; hay như một màn ảo thuật, một sự đánh tráo trí nhớ. Hoặc biên giới trở nên di động, đi từ không gian này sang không gian khác, di chuyển tới lui dọc theo trục thời gian. Biên giới đi theo con người, một mặt nào đó chính biên giới định hình nên những nhân vật truyện.
Biên giới là đường phân định giữa điều có thể và không thể, điều được phép và điều cấm kỵ. Về mặt xã hội, biên giới còn khoanh vùng những tập quán và định chế, nhằm quản thúc con người trong những giới hạn được xã hội chấp nhận. Biên giới như thế, về mặt tâm lý, là cảm thức hoang mang về giới tính và quan hệ đồng tính trong “Lệch Một Khấc”/ “Deviate” của Trần Thị NgH. và “Chiêm Bao Lần Nữa”/ “Dreaming Once More” của Trần Nguyên Đán. Trong “Lệch Một Khấc” của Trần Thị NgH., hai bức tranh Đĩ Đực và Đĩ Ngựa do chính tác giả vẽ giữ vai trò nội dung, ở phần mở đầu và kết thúc truyện. Đĩ Ngựa là bức tranh tình yêu giữa hai người phụ nữ, vẽ một người thiếu nữ nằm xấp trên lưng một con ngựa hồng, cả hai bị mắc kẹt trong một rừng gai. Bố cục của bức tranh gợi cảm giác bị giam cầm, nỗi phấn khích đi song song với nguy kịch khi các nhân vật tìm cách vượt qua những quy ước xã hội. Rừng gai tua tủa chạy ngang bề mặt bức tranh gợi liên tưởng về một hàng rào, ngăn cách người xem tranh và nội dung tranh, như một cách răn đe về những hình phạt khi tìm cách vượt qua biên giới. Tương tự, những định kiến hẹp hòi, khe khắt của xã hội trong “Ngôi Nhà Thờ Trắng” của Trịnh Y Thư đã khiến con người không thể gọi tên chính xác tình cảm giữa cậu học trò nhỏ và cô giáo dạy tây ban cầm, khác ngôn ngữ, khác màu da, chênh lệch về tuổi tác.
Một số truyện khác trong tuyển tập khai phá khái niệm biên giới từ những chấn thương tâm lý mà các nhân vật gặp phải hay tự dựng lên. Những nhân vật này được định hình từ những biến cố trong đời sống, từ ám ảnh của quá khứ, và những thứ này lần lượt chi phối cách giao tiếp lẫn ứng xử của họ. Điều này rất rõ trong “Những Chớp Đời Như Vết Sẹo”/ “On Pets and Sharp Objects” của Đinh Từ Bích Thúy, “Bắt Hến Ở Hồ Isabella”/ “Catching Clams at Isabella Lake” của Phùng Nguyễn và nhiều truyện khác trong tuyển tập.
Nhưng biên giới không hẳn là ngăn chặn lại, mà cũng là nơi mở ra những khả thể mới cho con người. Trong “Nơi Ẩn Náu”/ “A Refuge” của Hoàng Chính và “Phân Cảnh”/ “Mise-en-Scène” của Trần C. Trí, là hai truyện nói về bạo động trong gia đình và nơi làm việc, người viết cho thấy, bằng nghệ thuật và khả năng tưởng tượng, con người có thể hoán chuyển vị trí của họ qua lại phía này hay phía kia biên giới. Người vợ trong “Phân Cảnh” dùng sự tưởng tượng như giải pháp tinh thần để tự cứu mình khỏi những ràng buộc của một cuộc hôn nhân bất hạnh. Nhà văn thiểu số trong “Nơi Ẩn Náu” dùng văn chương để tập quen dần với thực tế bị kỳ thị về văn hóa, màu da, và giai cấp. Văn chương là cách để nhà văn sống trước, diễn tập, và tìm cách miễn nhiễm với sự kỳ thị. “Tháp Gẫy”/ “Broken Obelisk” của Lê Sông Văn là hành trình tìm cách vượt qua sự mất mát, lạc lõng, vô vọng, bằng nghệ thuật. Khi nhân vật xưng tôi trong truyện nhìn ngắm tác phẩm điêu khắc Broken Obelisk của Barnett Newman, cô thán phục sự thăng bằng tuyệt hảo của hai khối kim khí nối với nhau tại một điểm duy nhất, và cô nghiệm ra một điều: vết gẫy trong tâm hồn cô là một thứ biên giới mà cô phải vượt qua để tìm ra điều thiếu vắng trong đời sống: bản ngã của chính mình- nằm ở phía bên kia biên giới!
“Tôi không còn lướt qua cuộc sống một cách hời hợt nữa. Có lẽ tất cả đã hiện ra ở đây. Tôi đã bước hẳn một bước sang phía bên kia (tạm gọi là như thế vì trước đây tôi chỉ ở một phía, tạm gọi là phía bên này). Tôi đã tìm ra một vết nứt trong tâm hồn. Tôi đã gãy, đổ, và đứng dậy, nhập vào thời gian, tôi trôi theo giấc mơ, đi tìm những điều thiếu sót ở cuộc sống và con người mình.”
Khác với biên giới đã thu nhỏ lại thành một điểm nội tại như vừa nói, “Đi. Trong Một Buổi Sáng”/ “Walking with The Morning’” của Trần Doãn Nho và “Gặp Người Đàn Ông Gia-Rai và Vợ ở Nữu Ước”/ “Meeting a Jarai Tribesman and His Wife in New York City” của Nguyễn Đức Tùng dẫn đến một thứ biên giới động theo những bước đi của con người. Trong hành trình lưu lạc bị bật ra khỏi đất bộ tộc, những vùng đất bị người Kinh chiếm, bị truy lùng, bị săn đuổi, vượt biên giới đến Cambodia, sống trong trại tỵ nạn, và cuối cùng sang Mỹ, người Jarai mất trí nhớ bỏ lại ký ức sau lưng mỗi khi vượt một biên giới địa lý để bước vào một không gian khác. Nhưng biên giới vẫn đi theo họ. Biên giới của họ là ngôn ngữ của họ, thứ ngôn ngữ gần tuyệt chủng, tiếng Bà Na mà chỉ có họ hiểu với nhau, và ngoài ra không ai cần hiểu. Dù họ có đi đâu thì biên giới ngôn ngữ vẫn bao vây họ. Ngôn ngữ vốn là phương tiện giao tiếp và thông cảm, giờ biến thể, đẩy họ vào vị trí kẻ xa lạ đứng bên lề. Trong truyện Trần Doãn Nho, hai nhân vật mất trí nhớ, sống trong viện dưỡng lão ở Hoa Kỳ- một hình thức biên giới đóng khung- trong một buổi sáng đã trốn khỏi trại đi chơi và tình cờ gặp nhau. Người này tưởng người kia là người yêu cũ của mình. Họ rủ nhau đi lại những con đường cũ ở Việt Nam. Trí nhớ họ lộn xộn những tên đường Việt và khu phố Mỹ, họ thường xuyên qua lại các biên giới giữa hiện thực và quá khứ. Họ đi không có mục đích, như người đàn ông nói: “Hãy đi cho đã, Hà.” Hoặc mục đích đi của họ chỉ là đi, thoát đi, để mở rộng những biên giới đang bao quanh tâm trí họ, để truy tìm và lấy lại những ký ức đẹp đẽ ngày nào, từ trong ánh nắng của buổi sáng:
“Mặt trời, thương nó thiệt! Trong lúc mọi thứ thay hình biến dạng thì nó có lẽ là cái cũ xưa nhất và nhiều kỷ niệm nhất mà chàng cất giữ được trên bầu trời xa kia. Nó thả xuống những buổi sáng vô cùng phơi phới, và đầy thúc giục.”
Ký ức đi theo chúng ta và trở thành thiên đường đánh mất, như trong “Vườn Thuý”/ “Oakton Woods” của Đinh Từ Bích Thúy, nơi ký ức trôi chảy, chuyển dời, mở rộng, co rút, và tăng trưởng. Truyện “Con Voi Biến Mất”/ “The Vanishing Elephant” của ĐỗLê Anh Đào cho thấy bản chất lừa dối của ký ức, gần như màn ảo thuật làm biến mất một con voi không lồ. Từ góc nhìn của một nhà thơ và nhà ảo thuật, ĐỗLê Anh Đào cho thấy ký ức không chỉ đóng khung mà còn làm biến dạng sự thật: “Mỗi lần chúng ta nhớ đến một ký ức, cũng có nghĩa là chúng ta viết lại ký ức ấy. Một số nhà thần kinh học cho rằng càng nhớ nhiều về một điều thì điều đó càng lúc càng xa sự thật hơn.”
Trong hầu hết mọi truyện, các nhân vật bấp bênh giữa thế giới nội tại và hiện thực ngoài đời. “Giấc Mơ Thiên Đường”/ “Dreaming of Heaven” của Hồ Như là một cuộc phiêu lưu vào cõi siêu thực. Khi nhân vật chính bị tai nạn xe cộ và hôn mê, thần trí cô dao động trong vùng biên giới mong manh giữa sự sống và cái chết, giữa hiện thể và siêu phàm. Đối mặt với một thiên đường gần như hư vô, nơi không còn ký ức và cảm xúc, nhân vật này tìm cách níu kéo quá khứ, quay trở lại đời sống thật, để giữ cho ký ức không bị bôi xoá. Tất nhiên cô phải trả giá, vì việc bảo toàn ký ức cũng đồng nghĩa với từ khước thiên đường.
Không những thế, việc bảo toàn ký ức còn hứa hẹn một cái chết không tránh khỏi cho những ai không dứt bỏ được ký ức, như nhân vật Chung trong “Bắt Hến Ở Hồ Isabelle”/ “Catching Clams at Lake Isabella” của Phùng Nguyễn. Ký ức về tuổi thơ nghèo khó đeo bám Chung ngay cả khi anh có nghề nghiệp vững chắc ở Hoa Kỳ. Chuyện đi lượm mót khoai và tỏi sau mùa gặt, hay bắt hến ngoài hồ, hoàn toàn không cần thiết về mặt sinh kế, nhưng đó là điều anh không đừng được. Những hành động này trở thành tập quán mang tính thôi thúc ám ảnh, chính là thứ biên giới định hình con người Chung, tạo nên một sự nhất quán từ đầu (thuỷ) cho đến cuối cùng, như cái tên Chung của anh.
Có lẽ ký ức là biên giới sau cùng mà con người phải vượt qua. “Lúc Không Giờ”/ “The Zero Hour” của Đặng Thơ Thơ, và “Giao Thừa”/ “New Year’s Eve” của Cung Tích Biền vừa khảo sát biên giới giữa trong và ngoài, vừa biên giới của thời gian và ký ức. Cô gái tàn tật tên Nạn trong truyện Cung Tích Biền bị một tên lưu manh tước mất cái quần mặc Tết vào lúc giao thừa. Cái quần là biểu tượng cho biên giới cuối cùng giữa thân thể, sự riêng tư và việc phơi bày trước công chúng. Việc bị lột truồng là một ẩn dụ hai mặt, vừa là sự sỉ nhục tột cùng, vừa là một hình thức xoá bỏ biên giới giữa bản thể và thế giới để trở về trạng thái nguyên sơ vào thời điểm khởi đầu một vòng thời gian mới. Cả hai tựa đề “Giao Thừa” và “Lúc Không Giờ” đều ám chỉ khả năng vượt thoát khỏi vòng kiềm toả của thời gian. “Lúc Không Giờ” còn đưa ra luận điểm đối nghịch với “Giấc Mơ Thiên Đường” về việc bảo toàn ký ức. Trong khi “Giấc Mơ Thiên Đường” dường như khẳng định nhu cầu gìn giữ ký ức, “Lúc Không Giờ” không tránh né việc lãng quên. Tuy nhiên, cả hai truyện đều là những suy nghiệm thú vị mang tính siêu hình về hiện hữu.
Hàu như mọi truyện trong tuyển tập Beyond Borders đều liên kết với nhau qua những chủ đề chồng chéo, như đời sống tị nạn và kinh nghiệm di dân, những chấn thương tâm lý, tương quan giữa cá nhân với xã hội, những suy tư siêu hình, vv…. Các chủ đề này đi theo những mô thức chặt chẽ, đan dệt lại thành một tấm thảm đa dạng về mặt nghệ thuật. Tuy mỗi truyện trong tuyển tập là một không gian riêng, kiến trúc riêng, xây dựng theo mỹ học riêng của từng người; các tác giả đã chọn lựa những cách tiếp cận và thủ pháp thích hợp nhất để thể hiện điều muốn diễn đạt về các hình thức biên giới và tác động của biên giới lên nhân vật, tác phẩm và đời sống của họ. Biên giới có thể bao quanh và đi theo chúng ta, ở khắp mọi nơi, và ở ngay trong mỗi người viết. Nhưng trong văn chương và nghệ thuật, chúng ta hy vọng sẽ có sự thông thương và vượt lên trên những biên giới ấy.
Độc giả thế giới đã có dịp thưởng thức tài năng của những nhà văn Mỹ gốc Việt viết bằng Anh ngữ, cũng như dịch phẩm của những nhà văn nổi tiếng ở Việt Nam hiện nay. Nhưng vẫn là một thiếu sót lớn nếu không biết đến dòng văn chương hải ngoại bằng tiếng Việt vẫn không ngừng cống hiến trong gần 50 năm nay kể từ khi miền Nam mất về tay cộng sản, với hàng trăm tác giả và hàng ngàn đầu sách, là tiếng nói của tự do sáng tác và nhân chứng lịch sử. Beyond Boders là tuyển tập truyện ngắn đầu tiên do Da Màu dịch sang tiếng Anh nhằm giới thiệu một số tác giả hải ngoại sáng tác phần lớn bằng tiếng Việt. Da Màu có hân hạnh thực hiện điều này với sự đóng góp của các dịch giả Nguyễn Hoàng Nam, Hồ Như, Nguyễn Quý Đức, Đinh Từ Bích Thuý, Lê-Đình Nhất Lang, Lưu Diệu Vân, Paul Christiansen, and Nguyễn Lâm Thảo Thi.
Dịch thuật đóng vai trò quan trọng trong việc bắc cầu qua những khoảng cách văn hoá, cho phép độc giả thoát khỏi cách thức diễn đạt quen thuộc, vượt qua những khoảng trống nguy hiểm giữa các ngôn ngữ, và cuối cùng nhận ra chính mình trong một hiện thực mới mẻ được cấu trúc lại. Vừa như cầu nối vừa như sự chuyển hoá các kinh nghiệm nhân bản và đa dạng, Beyond Borders chỉ là một khởi đầu, và chúng tôi hy vọng trong thời gian tới sẽ tiếp tục giới thiệu thêm nhiều nhà văn tài năng khác đã góp phần xây dựng dòng văn chương tiếng Việt đến với độc giả thế giới.