Mở Đầu
Chuyên đề Thảo Trường trên Da Màu cho tôi cơ hội đọc lại bài viết của mình trong dịp Thảo Trưởng ra mắt tuyển tập Những Miểng Vụn của Tiểu Thuyết năm 2008. Kết quả là tôi tìm thấy những điểm không đồng ý với chính mình nữa trong bài viết đó. Trong khi những suy nghĩ của tôi về Thảo Trường như một nhà văn lớn với tư cách nhân chứng không thay đổi, mà còn được xác tín thêm, thì những nhận định của tôi về sự nghiệp văn chương của ông, trong bài viết đó, bây giờ xem lại thấy có nhiều thiếu sót. Lúc đó tôi chưa có dịp đọc kỹ Thảo Trường ngoài Những Miểng Vụn Của Tiểu Thuyết.
Tôi đã nhận định: “Ba yếu tố chính làm nền tảng và chủ đề cho mọi truyện ngắn và tiểu thuyết của ông là chiến tranh, lao tù và hội nhập.” Đọc 4 cuốn vừa tái bản Người Khách Lạ Trên Quê Hương, Ngọn Đèn, Lá Xanh, Hà Nội Nơi Giam Giữ Cuối Cùng, và đọc thêm những cuốn khác như Thử Lửa, Rừng Tràm, Thềm Đá Xanh Rêu, tôi nhận ra chủ đề chính trong truyện Thảo Trường là con người cô đơn, lạc lõng, tha hoá và những bi kịch của họ. Cho dù truyện viết về vấn đề gì: chiến tranh, sự can thiệp của Hoa Kỳ vào MN, hay thời kỳ tù cải tạo, lẫn thời gian định cư ở Mỹ, tất cả đều là không gian làm nền cho chủ đề người lạ trên mặt đất đầy những biên giới. Vì Thảo Trường không chỉ viết về chiến tranh hay lao tù mà về những con người trong thời chiến, những nạn nhân, tác nhân, chứng nhân và hệ quả cuộc chiến. Những con người này- nhân vật của Thảo Trường trong các truyện ngắn và tiểu thuyết, là những người lạ hiểu theo nghĩa tâm thức và định kiến. Họ lạ với nhau, với xã hội, với thời cuộc. Họ còn kỳ lạ hơn ngay trong gia đình. Họ là người lạ đối với chính họ. Tất cả là người lạ trong một thế giới phân chia quá nhiều ranh giới và biên giới. Ranh giới là thứ khiến con người nhìn nhau nhưng không nhận ra nhau. Biên giới còn khốc liệt hơn, khiến người ta nhìn nhau như kẻ lạ, nguy hiểm, và thù địch. Khi bước qua một biên giới, chúng ta lập tức trở thành người lạ trong mắt người khác. Chính chúng ta cũng nhìn lại mình theo những hệ định vị và ước lệ khác. Trong thế giới văn chương của Thảo Trường, khái niệm biên giới và người lạ không chỉ là chủ đề, mà còn là những cột trụ kiến tạo nên toà nhà văn nghiệp Thảo Trường, là tư tưởng xuyên suốt các tác phẩm của ông, khởi đi từ Thử Lửa, tác phẩm đầu tay đến Những Miểng Vụn của Tiểu Thuyết, tuyển tập cuối cùng.
Trong bài viết này, tôi sẽ tìm cách soi chiếu hai khái niệm biên giới – người lạ, tư tưởng hiện sinh cùng khuynh hướng nữ quyền của Thảo Trường thể hiện qua cách ông vận dụng hai khái niệm này. Ở phần cuối, tôi cũng sẽ nói qua về hình thức nghệ thuật Thảo Trường đã sử dụng để làm tăng thêm hiệu ứng xa lạ và cảm thức thẩm mỹ trong cách độc giả tiếp cận một số truyện của ông.
Biên giới địa lý và chính trị là những hình ảnh dễ thấy nhất trong các tác phẩm của Thảo Trường, đặc biệt là những truyện lấy bối cảnh chiến tranh. Biên giới giữa các vùng kiểm soát của phe phái đối lập, giữa vùng an toàn và vùng nguy hiểm, giữa tiền tuyến và hậu phương. Những ranh giới này không cố định mà luôn biến động, tạo nên sự bất ổn và nguy hiểm thường trực cho nhân vật. Trong những truyện như “Viên Đạn Bắn Vào Nhà Thục,” hay “Trong Hầm Trú Ẩn,” ranh giới đã trở nên nhập nhằng theo những cuộc giao tranh, chiếm đóng, xâm lấn vào những chỗ riêng tư nhất của con người. Hoặc như trường hợp chị Tư trong “Người Đàn Bà Mang Thai Trên Kinh Đồng Tháp,” ranh giới ấy chiếm đóng ngay trên thân thể chị, mang hình ảnh một hữu thể sống, cái bào thai chị mang trong bụng. Ranh giới này sẽ luôn mập mờ vì chị Tư không thể biết được cái thai trong bụng chị là của ai: anh lính truyền tin miến Nam hay anh cán bộ nằm vùng. Trong trường hợp Miện, người thương phế binh của “Trong Hầm Trú Ẩn,” ranh giới mà anh mang theo là cái chân cụt. Nó là nơi ngăn cách quá khứ đầy những chiến công hiển hách với hiện tại mang mặc cảm “ăn bám” vợ. Miện luôn nghi ngờ vợ anh bị những người Mỹ trong sở lợi dụng tình dục để đổi chác những lon thịt hộp, thuốc lá, bánh kẹo, và đồ dùng hàng ngày mang nhãn hiệu Mỹ. Sau mỗi lần tra hỏi lẫn đay nghiến vợ, “Miện lại nguội đi, lại ăn đồ hộp, lại hút thuốc là, lại chùi đít bằng giấy Mỹ. Ngồi trong nhà cầu nhìn cuộn giấy vệ sinh vợ đánh cắp từ sở Mỹ về, Miện choáng váng khám phá ra người Mỹ đã vào tận nơi này, chiến tranh đã vào tận cầu tiêu nhà Miện.” Trong “Viên Đạn Bắn Vào Nhà Thục”/ “Nhãn Hiệu Mỹ”, truyện bị chế độ VNCH kiểm duyệt vì ngại đụng chạm đến đồng minh, khái niệm biên giới nằm ở đường bay của viên đạn, ở điểm xuất phát không thể xác định được từ phía nào:
“Đạn này là Nhãn Hiệu Mỹ, nhưng có thể bắn ra từ phe tôi và cũng có thể bắn ra từ phe hai người bộ đội, bởi vì bên nào cũng có thứ súng đó hết!”
Như vậy chỉ có súng đạn là thứ vượt qua được mọi biên giới của con người. Và ngày nay, trong bối cảnh xã hội Hoa Kỳ, điều mà Thảo Trường ám chỉ vẫn hợp thời, hay là hợp thời hơn bao giờ hết. Nhãn hiệu Mỹ của Tu Chính Án thứ 2, gần như một thứ giấy phép hợp pháp cho phép những người quá khích và cuồng tín xử nhau bằng vũ khí do bất đồng chính kiến. Bạo lực chính trị mang nhãn hiệu Mỹ. Chuyện tranh giành lẽ phải và công lý trong xã hội phân cực bây giờ mang nhãn hiệu Mỹ. Nạn xả súng vào đám đông, trường học, nơi thờ phượng mang nhãn hiệu Mỹ. Những thảm kịch đã trở nên bình thường và vô cảm như một đường đạn bắn vào nhà bé Thục, hay những đứa bé vô tội khác trên nước Mỹ, những thứ này đều mang nhãn hiệu Mỹ. Tư tưởng và dự cảm chính trị sâu sắc của Thảo Trường đã mang lại tính phổ quát cho truyện ngắn này, dù đặt vào bất kỳ thời đại, xã hội hay cuộc chiến nào.
Thảo Trường thường khéo léo dùng những không gian địa lý trong truyện, từ những vùng kênh rạch, những con đường hoang vắng, một ngôi nhà nghỉ ở mé nước, những thị trấn nhỏ bé nơi người xa xứ dừng chân, những cánh đồng hoang vu, những đầm lầy, vùng oanh kích tự do, vùng cấm địa, đến những khu vực bị chia cắt bởi lịch sử và định kiến, để gợi lên một biên giới khác, vô hình, đầy ám ảnh. Trong “Màu và Sắc,” Thảo Trường viết về một cây cầu bắc ngang con sông làm biên giới giữa hai miền. Trong bài, ông không gọi tên chiếc cầu đó, không gọi tên dòng sông đó, ông chỉ viết lên những điều mà ông cho là phi lý: cây cầu là nơi nối kết, dòng sông là một hiện thể tuôn chảy, giờ lại bị dùng làm ranh giới chia cắt những người từng là đồng bào của nhau. Đứng ở đầu cầu, Thảo Trường nhận thấy “không khí tôi thở có thể là từ bên này hay bên kia bởi làn gió hiu hiu từ cửa biển thổi vào. Hoà hợp và chan chứa.” Rồi Thảo Trường đập mạnh tay vào thành cầu bằng sắt, ông nghe “tiếng kim khí rung vang lên truyền sang tới bên kia.” Trong không gian yên tĩnh, Thảo Trường “tưởng có thể lắng nghe nhịp tim của người hai bờ rung động. Mạch máu tôi tưởng có thể truyền sang được mạch máu những người bên kia.” Nhưng điều ông chứng kiên lại tương phản: “Hai người cán bộ hai miền đang thả bước trên cầu. Trang bị khác nhau, dáng điệu khác nhau, hướng đi khác nhau, một người đi sang bên kia, một người bước tới bên này. Cả hai cùng chậm rãi. Cả hai cùng in bóng dưới dòng sông. Các anh không cười với nhau, các anh không cả nhìn nhau. Dửng dưng như hai thành cầu đối diện, như những chiếc ghế của một bộ bàn ghế (…) Trời ơi! Tôi không chịu được thái độ này (…) Người bên cạnh không còn là người với các anh nữa sao? Người đối diện không còn một ý nghĩa gì nữa sao? Các anh không còn biết rung động, yêu thương gì tha nhân nữa cả?” (tr.)
Thảo Trường đang nói về những biên giới mới trong tâm thức. Trong những tác phẩm ông viết sau khi định cư ở Mỹ, biên giới vô hình đó là rào cản giữa các thế hệ, giữa bên thắng cuộc và bên bại trận, giữa những tư tưởng cũ và mới, những nền văn hoá khác biệt (Tầm Xa Cũ Bắn Hiệu Quả, Tiếng Thì Thầm Trong Bụi Tre Gai, Rừng Tràm, Từ Dưới Đỉnh Đồi Nhìn Lên Chân Núi). Biên giới giữa người chiến thắng và người thua cuộc đặc biệt rõ nét trong các tác phẩm Thảo Trường viết về thời kỳ sau 1975 và cuộc sống trong các trại tù khổ sai. Đây là biên giới giữa sự tàn bạo, vô nhân và tinh thần nhân bả; giữa sự trá nguỵ được phát thanh rao giảng và sự thật bị chôn vùi ở những bãi tha ma trong khu “Rừng Lá” (tên một địa danh giam cầm trong tập Tiếng Thì Thầm Trong Bụi Tre Gai). Đó không chỉ là sự khác biệt về địa vị mà còn là sự khác biệt về quyền lực, ý thức và lương tri giữa các tầng lớp trong xã hội mới. Sự thay đổi cơ cấu chính trị sau chiến tranh cũng tạo ra những ranh giới mới về kinh tế, xã hội, đạo đức khi những giá trị cũ bị đảo lộn và con người phải tìm cách thích nghi hoặc bị gạt ra ngoài lề (Mây Trôi). Những biên giới vô hình này được Thảo Trường sử dụng để làm nổi bật bi kịch cá nhân và hiện thực xã hội với những lằn ranh và vết cắt trong xã hội Việt Nam thời hậu chiến; giúp tác giả đi sâu vào nội tâm nhân vật, khai phá những nỗi ám ảnh, việc tự tra xét, chống chỏi, và tiến trình trở thành kẻ lạ của con người.
Trong truyện của Thảo Trường, khái niệm người lạ mang chiều sâu triết lý, phản ảnh sự cô đơn, lạc lõng, và tha hoá. Người Khách Lạ Trên Quê Hương là câu chuyện trở thành người lạ do sự ly tán và chia cắt vì chiến tranh và những biến cố lịch sử. Người dân quê phải bỏ làng xóm đi chạy loạn, lên thành phố họ trở thành những người lạ, hoặc tệ hơn, người bất hợp pháp trên chính quê hương mình. Năm, nhân vật chính, một cậu bé vị thành niên, mồ côi cha mẹ. Xóm làng bị pháo kích tan hoang, Năm phải theo đoàn người tỵ nạn trôi giạt lên tỉnh. Không có giấy tờ tuỳ thân, sống lang bạt, bị lợi dụng, bị hà hiếp, cuối cùng Năm rơi vào tay anh Tư, người cán bộ CS nằm vùng. Anh Tư đưa Năm vào rừng dự khoá “huấn luyện,” học tập đường lối của Mặt Trận, để trở thành cán bộ. Nơi đây, tiến trình lạ hoá bắt đầu. Năm được đặt một cái tên khác, nó phải “đổi lốt,” để tập làm một người khác:
“Cái tên Nguyễn Văn Năm người ta bắt Năm phải quên đi. Lý lịch cha mẹ, ngày sinh cũng được ‘cấp phát’ theo những điều kiện mới (…) Tên mới của nó là Đặng Văn Chơi, bí danh Tám Chơi. Năm phải nhẩm đi nhẩm lại nhiều lần học thuộc tên nó. Thoạt đầu Năm không quen, cái âm thanh “Tám Chơi” thốt lên thật lạ lùng. Dần dần Năm mới nhìn thấy mình là Tám Chơi, dần dần Tám Chơi đã nhập vào nó.” (228)
Sau đó Tám Chơi còn bị đổi nhiều thứ tên khác theo nhiều “công tác” do anh Tư giao phó. Trở lại thành phố, nó có giấy tờ tuỳ thân mới tên Trần Văn Sóc, tự là Chín Cầy, đi ở đợ cho một gia đình viên chức cao cấp trong chính quyền VNCH để đánh cắp tài liệu quan trọng. Rồi nó lại mang tên Lê Văn Khoái, bí danh Sáu Khoái, được giao cho công tác ném lựu đạn trước rạp hát vừa vãn tuồng. Những cái tên mới, nhãn hiệu mới cứ tăng tốc theo cấp độ của tội ác mà các anh chị cán bộ buộc nó làm. Nhưng bên trong, nó vẫn là Năm, thằng bé nhà quê không biết chữ, quá chơn chất, quá khờ khạo giữa những thế lực hung hiểm, những con người lợi dụng nhau, và những chế độ luôn nghi kỵ người dân vô tội, đẩy họ về phía những thành phần tội phạm, khủng bố. Thảo Trường khiến chúng ta kinh sợ sự thâm hiểm cùng cách tổ chức tinh vi của những người CS. Ông cũng không nương tay với chế độ VNCH trong cách đối xử với Năm và những số phận tương tự thế. Một chế độ không bảo vệ được những nạn nhân chiến tranh, không đem lại cho họ những nhu cầu tối thiểu như cơm ăn và chỗ ở (ao ước duy nhất của Năm), và trong việc thẩm vấn đã bất cận nhân tình (tra khảo, gài bẫy, đánh đập dã man, giam giữ, bắn bỏ), chế độ đó đã tạo thêm điều kiện cho phía bên kia khai thác triệt để công tác tuyên truyền và nhồi sọ, biến một người dân quê chất phác trở thành những kẻ lạ trên quê hương họ.
Trong tiểu thuyết Ngọn Đèn, Thảo Trường khai triển khái niệm người lạ giữa những người thân quen. Do hoàn cảnh hoặc những thay đổi về tư tưởng, niềm tin mà những mối quan hệ thân thuộc như gia đình, bạn bè có thể trở nên xa cách, dẫn đến cảm giác “lạ” ngay cả với những người từng gần gũi nhất. Gia đình trong Ngọn Đèn là một gia đình “lạ,” khác với quan niệm về một gia đình bình thường: tan rã vì hoàn cảnh xã hội, cha chết, mẹ đi ở đợ, con trai cả du đãng vào biệt kích, con gái mới 11 tuổi đã mơ đi bán bar và lấy Mỹ để có tiền ăn xài thoả thích. Trong bối cảnh đó, người này lạ với người kia, không ai hiểu và chấp nhận ai, không có điểm chung để kết nối các thành viên lại. Ngoài Chín trong Ngọn Đèn, các nhân vật “du đãng” trong nhiều truyện khác của Thảo Trường thường mang trong mình những ám ảnh, dằn vặt sâu sắc từ chiến tranh hoặc những trải nghiệm bất hạnh trong đời sống. Sự bất thường này dẫn đến việc lạ hoá những mối quan hệ bình thường, tạo nên một rào cản không thể vượt qua giữa nhân vật và thế giới xung quanh. Khi đó, con người có thể cảm thấy mất đi căn tính, không còn biết mình là ai, thuộc về đâu. Họ trở thành những kẻ xa lạ với chính bản thân mình (Cái Hố, Cái Mật Người, Vết Tích, Thằng Du Đãng, Mặt Đường, Người Đàn Bà Mang Thai Trên Kinh Đồng Tháp).
Hà Nội Nơi Giam Giữ Cuối Cùng, tuỳ bút viết năm 1973, sau khi Thảo Trường đại diện Cục An Ninh tham dự phái đoàn VNCH trong ban liên hợp 4 bên trong lần trao trả tù binh lần 2 tại Hà Nội theo quy định của Hiệp Định Paris. Trong cuốn này, khái niệm “người lạ” được tra vấn một cách phức tạp và đa chiều. Đầu tiên Thảo Trường nhận ra mình là người lạ trên mảnh đất cũ. Ông thấy quê hương giờ đây mang một diện mạo khác, trở thành một xã hội khác, với những con người khác. Ngoài sự xa lạ nơi chốn, đau đớn hơn là sự xa lạ trong tâm thức: “Bị thay đổi cái phong cách, cái cốt cách Hà Nội của mình là một niềm đau. Người phải xa Hà Nội bị thay đổi đã đau rồi. Người ở lại ôm lấy Hà Nội cũng bị thay đổi, mà còn thay đổi thảm hại hơn nữa, tôi nghĩ niềm đau càng nhức nhối hơn” (19). Người lạ Thảo Trường trong mắt công an Hà Nội là người có cách sống, suy nghĩ, giá trị, và quan điểm của “nguỵ”, và là đối tượng phải theo dõi, canh chừng, xét nét: “Hai, ba, bốn quý vị gì đó chứ không phải thôi đâu. Phía trước, bên cạnh, đằng sau, trên xe, trong nhà, ngoài đường. Lúc nào cũng có nhiều quý vị chung quanh tôi” (17). Trong chuyến đi, ông chụp được một số hình ảnh đường phố Hà Nội, trong đó có tấm hình một đám đông khoảng bốn chục thường dân và một viên công an đưa nắm đấm về phía máy hình, có nghĩa là giơ quả đấm cho Thảo Trường, nhằm khích động đám đông làm theo. Đây là một trong những màn dàn cảnh mà Thảo Trường cho là “cách thức quí vị đem kịch ra vỉa hè Hà Nội cũng là những hành động không có tính chất Hà Nội”(19). Tiến trình trở thành “người khách lạ trên quê hương” xảy ra theo nhiều tầng cấp: trở thành người lạ tại nơi chốn cũ và nơi chốn này cũng đã tự lạ hoá với chính nó ngày xưa. Đây là một dạng “lạ hoá kép” để thể hiện một hình thái tồn tại, một cách phản ứng ý thức hệ, khi Thảo Trường thấy chính mình rơi vào màn kịch dàn dựng ngay trong đời sống.
Ở một khía cạnh sâu xa hơn, khái niệm người lạ còn chạm đến ý nghĩa hiện sinh. Con người đôi khi tự hỏi về sự tồn tại của mình, về vị trí và giới hạn của mình. Cảm giác mình là “người lạ” trong thế giới này có thể là một phần của hành trình tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời. Trong Mé Nước, Tuyên là người lạ trong mắt bạn bè, họ cho anh là khác thường, lập dị. Tuyên biết rằng mình chỉ còn sống được khoảng 3 năm nữa và không muốn thụ động chờ cái chết đến. Bối cảnh truyện là chuyến đi nghỉ mát với vợ chồng người bạn vài ngày ở Vũng Tàu, trong một ngôi nhà trên núi nhìn ra bãi Ô Quắn lồng lộng gió biển, với hình ảnh một “mé nước” tái hiện nhiều lần:
“Tuyên tông cửa phóng vào nhà. Chàng khép cửa buồng nằm vật xuống giường. Gió biển lùa qua cửa sổ đổ xuống mắt chàng. Tiếng ì ào của sóng biển vọng vào, Tuyên nghe như tiếng gào khóc não nề thảm thiết. Chàng nhắm mắt nghe thân thể mình chuyển động. Có một lúc Tuyên cảm thấy như các ống xương của mình rỗng không, rồi như có gió lùa qua những ống rỗng không đó. Tuyên muốn ngủ và sẽ cứ như thế ngủ luôn mãi mãi. Chàng thèm một sự êm ái qua đi như vậy. Nhưng trước mắt chàng, trong một khoảng không mờ đục như sương mù, sông nước vẫn rũ rượi gào khóc. Tuyên thấy mình đang đi trên triền cát, phía trước là một bóng người khi ẩn khi hiện, tha thướt dịu dàng. Bóng người mảnh mai đó lướt theo dọc mé nước. Tuyên chạy theo nhưng khoảng cách giữa chàng và chiếc bóng vẫn là một khoảng cách. Chàng không thâu ngắn lại được khoảng cách đó. Chiếc bóng vẫn lướt đi, những lượn sóng tràn lên bãi cát rồi lại rút xuống, nhưng chiếc bóng không hề bị nước làm ướt chân. Mỗi lần nước tràn lên là cả thân hình mảnh mai kia lại như được dạt lên phía trên. Cứ như thế bóng người đi dọc theo mé nước.”
Đây là tâm trạng của Tuyên khi đối diện với cái chết. Các chi tiết trong đoạn văn cho thấy sự cám dỗ mạnh mẽ của cái chết đối với Tuyên. Mé nước ở đây trở thành biểu tượng của sự kết thúc, một lối thoát êm ái khỏi gánh nặng cuộc đời. Nhưng đồng thời, giữa Tuyên và cái chết là khoảng cách không thể vượt qua. “Bóng người khi ẩn khi hiện, tha thướt dịu dàng” và hình ảnh Tuyên chạy theo cái bóng nhưng không thể rút ngắn khoảng cách cho thấy sự bất lực của Tuyên trong ý muốn làm chủ định mệnh đời mình.
“Có một lúc nào đó Tuyên đã hốt hoảng. Có một lúc nào đó Tuyên đã vơ vào cho mình tất cả chung quanh. Có một lúc nào đó Tuyên đã lạnh lùng trước tất cả. Nhưng mà chắc chắn là chàng không quên được cái lằn mức đã vạch ra. Nó như một vạch vôi trên sân vận động, nó như một tấm biểu ngữ chăng ngang đường phố có hàng chữ “mức đến” và nó như cái mé nước dưới kia, chàng chỉ cần từ từ tiến tới và vượt qua. Đó là điều đã định và chàng chẳng thể đừng. Lời nói vững vàng của người y sĩ thân thiết còn rõ ràng bên tai chàng.”
Cái chết không còn là một điều mơ hồ hay trừu tượng, mà Tuyên đã thật sự cụ thể hóa cái chết như một “lằn mức đã vạch ra.” Hình ảnh “vạch vôi trên sân vận động,” “tấm biểu ngữ… có hàng chữ ‘mức đến’,” và “mé nước dưới kia” đều là những ẩn dụ biến cái chết thành một ranh giới hữu hình, một đích đến đã được ấn định. Việc nhìn ra điều này khiến Tuyên trở thành kẻ khác thường, xa lạ với đời, với những người vẫn đang sống mà không biết “mức đến” của họ. Khác với họ, Tuyên đã nhìn thấy, đã được “thông báo trước cái ngày đó.” Cái chết luôn là nỗi cô độc tuyệt đối, một trải nghiệm cá nhân không thể chia sẻ với ai. Con người đối mặt với cái chết theo cách thức và tâm thế khác nhau, nên họ luôn là người lạ với nhau.
Thảo Trường viết ít nhất là ba truyện ngắn về người phụ nữ và sự thai nghén: “Vết Tích,” “Người Đàn Bà Mang Thai Trên Kinh Đồng Tháp” và “Những Đứa Trẻ Đầu Thai Giữa Hàng Rào.” Khuynh hướng nữ quyền là điểm khác giữa ông và nhiều nhà văn nam nổi danh cùng thời. Thảo Trường để ý đến sự bất lực của người phụ nữ, nỗi cô đơn trong khi thai nghén, khi đối mặt với những biến cố lớn trong đời, khi trở thành nạn nhân của hoàn cảnh, trong hệ thống xã hội mà nam giới là người thống trị.
“Vết Tích” sử dụng hình ảnh “người lạ” để khảo sát thân phận người phụ nữ và sự bế tắc khi họ phải một mình chống chọi với định kiến xã hội. Khái niệm “người lạ” trong tác phẩm được thể hiện ở nhiều tầng nghĩa, từ nghĩa đen đến nghĩa bóng, và trở thành một biểu tượng cho sự tha hóa, mất kết nối giữa con người với nhau.
Đầu tiên là những người đàn ông ngoại quốc trong quan hệ tình dục với bà giáo. Họ là người lạ đúng nghĩa đen. “Họ xa lạ từ mặt mũi chân tay đến cử chỉ lời nói. Họ không có một ràng buộc nào với bà, với nếp sống của bà, với gia đình họ hàng, xóm giềng xứ sở của bà.” Họ đến và đi một cách vô lý, để lại một “vết tích” không chỉ là đứa con mà còn là sự đổ vỡ tinh thần cho bà. “Người lạ” ở đây đại diện cho những giá trị sống khác biệt, thậm chí đối lập, với chuẩn mực đạo đức truyền thống của người Việt, theo cách nghĩ của bà:
“Kẻ lạ đến cũng như sẽ đi. Hắn vẫn là kẻ lạ. Hắn không liên quan gì với nơi này. Vì hắn còn liên quan với quê hương của hắn. Hắn bao giờ cũng vẫn chỉ là kẻ lạ. Hắn không thể trở nên, không thể thay thế, không thể biến thành con người ở đây. Hắn sẽ đi. Chỉ còn lại mình bà với nó, với sự đổ vỡ hoàn toàn. Một mình bà với nó càng ngày càng lớn, càng ngày càng trở nên một thứ có thật.”
Cái thai, sự thật trong bụng “bà giáo” cũng là một “người lạ.” “Nó” không phải là kết quả của một tình yêu, một gia đình trọn vẹn. “Nó” là một “cái cục” nảy sinh “thật bất ngờ và tàn nhẫn,” là một sự thật mà “bà giáo” không muốn thừa nhận. Cái thai là “người lạ” vì nó là sản phẩm của những mối quan hệ vô nghĩa, nó phá vỡ trật tự đã được thiết lập trong cuộc sống của bà. “Nó” là một thứ mà bà phải “chịu đựng và cưu mang.”
Sau cùng, sự xa lạ nằm trong tâm thức của “bà giáo”:
“Chợt người đàn bà sực nhớ ra mình. Người đàn bà sực nhớ tới cái nông nỗi hiện giờ của mình. Nó nằm trong bụng đó. Nó đã là một sự thực trong đó.”
Việc “sực nhớ ra mình” đẩy nhân vật “bà giáo” vào vị trí kẻ lạ với chính mình. Bà nhìn thấy chính mình trong tình trạng bị cô lập, bị “bao vây” bởi chính những thứ từng là một phần của bà: căn nhà, khu xóm, thành phố, quê hương, và nhất là con cái. Đến độ bà ao ước “Phải chi bà chỉ có một mình. Phải chi chỉ một mình bà sống ở nơi hoang vắng.”
Lúc này, mọi trật tự đảo lộn, những thứ thân thuộc có thể trở nên đe doạ, và những thứ xa lạ lại “đủ bảo đảm mọi an toàn.” Những người lạ không phán xét, không chê trách, không lên án đời sống riêng tư của bà. Những người lạ cho bà được sống với con người thật, với khao khát căn bản của một con người, thay vì phải là mẹ hiền, là vợ ngoan, là bà giáo; phải đóng và diễn một vai trò nào đó để được xã hội chấp nhận. Thảo Trường đã đồng cảm với nhu cầu được là chính mình và chỉ là chính mình của người phụ nữ.
Trong “Người Đàn Bà Mang Thai Trên Kênh Đồng Tháp,” sự xa lạ xảy ra trong hoàn cảnh. Tự cảnh huống “mang thai trên kênh Đồng Tháp” đã là một cái gì lạ lùng, phi lý, gợi lên sự lạc lõng của con người trước số phận, trước sự thờ ơ của thế giới, trước những thế lực tàn bạo tìm cách tranh giành và khống chế thân thể người phụ nữ. Khái niệm “lạ” được đẩy đến tận cùng khi người cán bộ nói với chị Tư rằng đứa con trong bụng chị là con của Đảng, và “tất cả là của Đảng”. Từ một điều hết sức riêng tư trong máu thịt, cái thai trong bụng chị đã trở thành tài sản công cộng, là hậu quả của sự hãm hiếp của một thể chế bạo lực lên một cuộc đời.
Điều khiến chủ đề “người lạ” thành công, một phần nhờ ngôn ngữ giản dị, trầm lắng, xúc tích, chừng mực. Tuy mọi chi tiết rất mật thiết và riêng tư, giọng văn lại dứt khoát, tỉnh táo, đôi khi dửng dưng, khách quan, như cái nhìn của người đứng ngoài tường thuật một hoàn cảnh bi đát, thay vì tâm trạng qua giọng kể của chính nhân vật. Sự kết hợp này tạo tác động mạnh hơn lên người đọc đang quan tâm đến cảnh ngộ của từng nhân vật. Thảo Trường viết như kể chuyện, bằng giọng chừng mực, như chiếu phim một cảnh tượng: “Chị Tư ì ạch kẻ khẩu hiệu “Ðả Ðảo Ðế Quốc Mỹ” trên một tấm ván gỗ. Chị Tư ì ạch vác thang ra gốc cây trước cửa nhà. Chị Tư ì ạch mang cái bụng chửa lên thang. Chị Tư ì ạch đóng đinh tấm bảng vào thân cây và buộc quả lựu đạn nơi phía sau tấm bảng. Chị Tư ì ạch cột sợi dây oan nghiệt từ chốt lựu đạn sang một cành cây, trước cặp mắt khuyến khích của anh cán bộ đứng dưới. Mồ hôi chị Tư vã ra ướt đẫm cả quần áo.”
Sau đó, cũng cuốn phim đó, Thảo Trường cho quay ngược lại:
“Người sĩ quan rút súng lên đạn. Chị Tư hoảng sợ ôm bụng ì ạch đứng dậy. Chị Tư ì ạch với cây gậy dựa nơi góc nhà. Chị Tư ì ạch bước ra gốc cây. Chị Tư ì ạch dơ gậy lên giáng thật mạnh vào tấm bảng khẩu hiệu “Ðả Ðảo Ðế Quốc Mỹ”. Và trái lựu đạn văng xuống. Chị Tư hốt hoảng vứt gậy bỏ chạy. Tóan lính nằm rạp cả xuống. Nhưng trái lựu đạn không nổ. Chị Tư ngã sấp mặt xuống trưóc cửa nhà. Nước mắt chị trào ra. Ngất đi…
“Chị Tư bị động thai.”
Thảo Trường đã dụng ý cho một sinh linh chào đời sau khi một khẩu hiệu bị gỡ bỏ. Ông chống đối những thứ khẩu hiệu của cả hai phe. Những khẩu hiệu chỉ là cạm bẫy đẩy con người vào chỗ chết. Nhưng ông không kết thúc truyện theo cách thông thường mà lại đẩy truyện theo hướng mới, bằng mục Nhắn Tin ở cuối truyện:
“NHẮN TIN: Nhắn cậu nhỏ mang dòng họ cùng với tôi, hai mươi năm nữa, cậu khôn lớn (lời Nhắn Tin này chỉ gửi đến cậu khi cậu đã trên hai mươi tuổi), lúc đó tôi không biết cậu sống trong hoàn cảnh nào, trong một xã hội nào. Cậu cho tôi xin cậu một điều là, trước khi cậu hành động, trước khi tranh đấu, trước khi cách mạng, trước khi biểu tình, trước khi đảo chánh, trước khi lật đổ, trước khi hành quân, trước khi thuyết pháp, trước khi cầu nguyện, trước khi hội thảo, trước khi thụt két, trước khi hành lạc, trước khi đập phá, trước khi hy sinh… nghĩa là trước khi quyết định làm một việc gì, xin cậu… chỉ xin cậu hãy nghĩ đến người đàn bà mang thai khốn khổ, hãy nghĩ tới những người mẹ bị rất nhiều chủ nghĩa với những danh từ hoa mỹ hành hạ. Xin cậu hãy nghĩ tới cái hình ảnh đó, tôi cầu xin cậu như thế, vì tôi chính là tên sĩ quan đã hành hạ mẹ cậu, đã đỡ đẻ cho mẹ cậu sau khi các đồng đội của tôi chết vì những thứ khẩu hiệu như cái khẩu hiệu “Ðả Ðảo Ðế Quốc Mỹ” ấy.”
Mục “nhắn tin” trên báo thường được trình bày dưới hình thức ngắn gọn, với các chi tiết và thông tin để liên lạc. Việc Thảo Trường đưa mục nhắn tin vào truyện đã gây bất ngờ và phá vỡ cấu trúc truyền thống trong hình thức văn xuôi. Phần nhắn tin tạo một sự đứt gãy đột ngột, và một ấn tượng mạnh về mặt thị giác và cảm thức. Mục nhắn tin còn giúp mở rộng không gian cảm xúc lẫn tư tưởng, tạo điều kiện để tác giả viết thêm, viết tiếp theo tiến trình thời gian. Thảo Trường viết truyện “Người Đàn Bà Mang Thai Trên Kênh Đồng Tháp” năm 1964, có thể coi như phần một. Năm 1993 ông viết phần hai, “Khẩu Hiệu,” với hình ảnh viên sĩ quan ấy trong trại tù:
“Tôi gặp lại người sĩ quan ấy mười lăm năm sau ở một trại giam tại miền Thượng Du Bắc Việt Nam. Chúng tôi là tù binh bị cộng sản đưa đày đi biệt xứ.”
Người sĩ quan ấy đã phản hội anh em bạn tù, chiến hữu, cam tâm làm tay sai cho cán bộ quản giáo. Truyện xoay quanh cách viên sĩ quan theo dõi và báo cáo các tù nhân trong đội anh ta phụ trách với cán bộ. Khi có người viết câu “Đả Đảo CS” bằng than lên vách tường nhà lô, viên sĩ quan tra vấn bạn tù trong phòng, bắt kiểm điểm, khai báo, dùng mọi biện pháp răn đe, trấn áp, dẫn đến cái chết của một bạn tù đang bệnh nặng. Nhưng rồi chính viên sĩ quan cũng chết một cái chết bí ẩn. Cuối truyện, Thảo Trường lại dùng thủ pháp “nhắn tin” lần nữa, kỳ này với tư cách tác giả:
“Nhắn cậu thanh niên ra đời sẩy thai, thiếu tháng, mang họ nhờ… Người đỡ đẻ và khai sinh cho cậu đã chết trong tù. Khi chiến tranh chấm dứt, cũng không thấy có người đàn ông nào gọi là cha ruột cậu trở về. Còn Mẹ của cậu nghe nói đã có một đời chồng khác. Không còn ai là người có liên hệ gia đình với cậu. Nhưng những người biết chuyện này thì còn nhiều. Tôi nghe nói rằng cậu đã có vợ con và hiện làm ruộng ở đồng bằng sông Cửu Long. Lại cũng nghe rằng cậu đã vô Đảng và đang là một anh Việt Cộng ở Sài Gòn. Lại cũng nghe nữa rằng cậu đã vượt biên và đang hiện ở đâu đó trên đất Mỹ… Vậy thì là cái gì bây giờ? Người ta, có khi, đã làm khổ làm sở lẫn nhau chỉ vì những cái khốn kiếp của những kẻ khốn kiếp nào đó bày đặt ra. Truyện này phần trên viết trước 1975, đã đăng lần đầu trên tạp chí Hành Trình số 4 tại Sài Gòn, VN. Sau 1975 trong một cơn sốt ở trại giam của CS, gặp lại nhân vật, tác giả bèn nẩy ra ý nghĩ viết thêm phần dười. Sau này, nếu có dịp, biết đấu đấy, lại mê sảng gặp lại cậu, ở đâu đó, thì có thể tác giả lại phải kể nốt cái phần tiếp theo của cậu. Không rõ, khi ấy, người ta sẽ xài cái khẩu hiệu gì?”
Thảo Trường sử dụng mục “Nhắn Tin” này ít nhất trong ba truyện, lần thứ ba là truyện “Truyện Hai Pho Tượng,” một truyện ngắn sâu sắc và thú vị, về những biểu tượng của hào quang, quyền lực, nhằm thách đố truyền thống dân tộc, sự thiêng liêng của niềm tin và trường tồn của tổ quốc, những giá trị đã khắc sâu vào tâm khảm và ý thức văn hoá của người Việt, những lý tưởng đã và đang bị phe nhóm thống trị hiện nay sử dụng làm chiêu bài đàn áp. Tất cả những mỹ từ mà con người nhân danh và kêu gọi đều đóng vai trò khẩu hiệu nhằm lung lạc đám đông, và hình ảnh thần thánh chỉ là những pho tượng gỗ bị nước cuốn phăng, hoặc tệ hơn, tượng đất bị hoá thành bùn đất trong cơn lũ.
Việc sử dụng “tin nhắn” cho đến bây giờ vẫn là một hình thức của đời sống hiện đại, khi việc giao tiếp qua các phương tiện truyền thông và mạng xã hội ngày càng trở nên phổ biến. Tin nhắn mang tính thời sự, trực tiếp, như hơi thở của thời đại. Việc đưa tin nhắn vào truyện từ hơn nửa thế kỷ trước là một bước nhảy vọt trong ý thức sáng tác của Thảo Trường. Mặt khác, mục “Nhắn Tin” trong truyện của Thảo Trường còn tạo ra cảm giác “xa lạ” hậu hiện đại trong cách “phá vỡ các biên giới” tường thuật, một trong những hiệu ứng nghệ thuật đặc trưng của thủ pháp Verfremdungseffekt trong lý thuyết Brecht.
Theo Brecht, cảm giác xa lạ, còn gọi là hiệu ứng lạ hóa/ Alienation Effect, được tạo ra khi tác giả phá vỡ sự gắn kết cảm xúc lẽ ra phải có của độc giả với câu chuyện. Hiệu ứng này là kết quả của việc phá vỡ tính liền mạch, khi câu chuyện chính vừa kết thúc, hoặc đang vào cao trào, thì sự xuất hiện của các tin nhắn ngắn gọn, rời rạc, không theo một trình tự kể chuyện rõ ràng sẽ đẩy người đọc ra khỏi dòng chảy cảm xúc đang có. Sự thay đổi đột ngột từ văn xuôi sang một hình thức giao tiếp hiện đại, ngắt quãng (tin nhắn, chat) khiến người đọc cảm thấy lạc lõng và buộc phải dừng lại để kiểm soát và phân tích các thông tin. Sự dứt mạch trong truyện Thảo Trường còn là sự thay đổi chủ thể tường thuật: từ ngôi thứ ba sang ngôi thứ nhất (“Người Đàn Bà Mang Thai Trên Kênh Đồng Tháp”) và từ nhân vật sang tác giả (“Khẩu Hiệu”). Tin nhắn trong “Khẩu Hiệu” còn mang tính phi cá nhân, không chỉ định rõ ai là người nhận: người làm ruộng, đảng viên, hay người tỵ nạn, và chi tiết “không còn ai là người có liên hệ gia đình,” tạo cho người đọc cảm giác họ không còn là người chứng kiến trực tiếp mà chỉ là người vô tình đọc được những mẩu tin đứt đoạn. Điều này làm tăng thêm sự xa lạ về mặt tiếp nhận.
Mục “Nhắn Tin” còn là một phương tiện để nhà văn phá vỡ truyền thống trong cách cấu trúc tác phẩm. Các ranh giới theo quy ước bị phá vỡ, như ranh giới giữa các lãnh vực (văn học và đời sống/giao tiếp hàng ngày); hoặc ranh giới về thể loại (tin nhắn là một hình thức phi văn học được đưa vào tác phẩm, xóa nhòa ranh giới giữa nghệ thuật và đời thường). Biên giới về kết cấu truyện cũng bị phá vỡ: thay vì một cái kết theo truyền thống, mục “Nhắn Tin” tạo ra một kết cấu mở không giới hạn, khiến câu chuyện tiếp diễn một cách phi tuyến tính trong đầu người đọc. Biên giới tác giả- nhân vật- độc giả cũng bị phá vỡ: tác giả lên tiếng thay nhân vật, nhân vật thoát khỏi câu chuyện và lên tiếng nhắn tin; rồi thông qua việc cung cấp thông tin dưới dạng tin nhắn vụn vặt, tác giả “từ chối” trách nhiệm kể trọn vẹn, buộc độc giả phải tự mình lấp đầy khoảng trống, biến độc giả thành đồng tác giả trong việc hoàn thiện ý nghĩa câu chuyện. Tóm lại, Mục “Nhắn Tin” không chỉ là một thủ pháp tạo ấn tượng mới mẻ mà còn là một nỗ lực để hiện đại hóa và phức tạp hóa tiến trình tiếp cận văn bản, để người đọc nhận thức những tầng cấp nội dung chồng chất qua ngôn ngữ tường thuật, thay vì chỉ đắm mình vào câu chuyện.
Kết
Khái niệm biên giới trong truyện Thảo Trường không chỉ là đường phân chia trên bản đồ mà còn là sự chia cắt tâm lý, tinh thần và ý thức, biên giới cuối cùng mà con người khó có thể vượt qua. Thảo Trường không đưa ra những giải pháp rõ ràng hay những kết thúc có hậu một cách dễ dàng. Thay vào đó, ông tập trung vào tiến trình, vào những nỗ lực của con người, để tìm ra ý nghĩa tồn tại trong một thế giới đầy kẻ lạ. Con mắt quan sát của Thảo Trường, đứng tại một điểm trên đường biên giới mà nhìn bao quát 360 độ. Khi Thảo Trường và người cán bộ gác cầu Hiền Lương nhìn nhau, ông đã nghĩ: “…từ bên ấy anh ta nhìn sang bên này. Tôi thì mới chỉ nhìn từ bên này sang bên ấy. Điều thiếu sót là chúng ta mới chỉ nhìn nhau với những cái nhìn một chiều như thế (…) Chúng ta phải được nhìn từ bên ngoài vào người khác và phải từ bên trong con người ấy nhìn người ấy, cũng như phải nhìn ta từ bên trong ta và nhìn ta từ bên ngoài ta nữa (…) Dĩ nhiên là người nào cũng có lập trường và nhìn vời cái lập trường của mình. Tôi không bảo là anh phải nhìn qua ống kính của tôi, nhưng giá mọi người, chúng ta đều được nhìn qua tất cả những ống kính ở tất cả mọi góc cạnh.” (Thử Lửa 20).
Người ta có thể đứng cùng một chỗ nhưng lại nhìn thấy những điều tương phản nhau, nếu họ chỉ nhìn một chiều qua những ống kính hẹp để phán đoán thế giới mênh mông bao quanh. Trong buổi nói chuyện với VietLifeTV vể buổi ra mắt sách tưởng niệm nhà văn Thảo Trường, Luyện Thuỵ Vy đã đặt câu hỏi cho tôi, đại ý rằng liệu những tác phẩm của Thảo Trường có còn sức thu hút nữa không trong thời đại ngày nay. Tôi đã trả lời rằng chừng nào mà thế giới còn chiến tranh, con người còn xem nhau như kẻ lạ, và ngay trên đất nước chúng ta đang sống hiện giờ, người dân còn bị nhìn với những định kiến và sự kỳ thị chỉ vì màu da và ngoại hình của họ, thì những gì Thảo Trường đã viết vẫn mang tính phổ quát với những suy nghiệm vô cùng sâu sắc, xác đáng, và nhân bản. Ngày trước ở Việt Nam người ta giết nhau vì những khẩu hiệu “Đả Đảo Đế Quốc Mỹ,” “Đả Đảo CS,” thì ngày nay trên đất nước Hoa Kỳ, trong những cuộc tụ họp biểu tình, trong những tuyên ngôn của giới cầm quyền, người ta cũng dùng lối nói “rhetoric”, lối hùng biện đao to búa lớn để hạ phẩm giá nhau, để gọi nhau là kẻ thù, là quỷ dữ; để nhân danh tôn giáo mà reo rắc sự dối trá (là một hình thức giết người không gươm đao); rồi bắn hạ nhau chỉ vì không cùng đảng, cùng lối sống, cùng niềm tin. Tôi cũng muốn viết thêm, tuy biết là nhàm, rằng văn chương nghệ thuật có thể mang con người lại gần nhau hơn, giúp chúng ta tiếp xúc trực tiếp với một tâm hồn, một nhân cách, một cuộc đời, mà không bị một rào cản nào ngăn chặn. Ngay cả cái chết cũng không là biên giới, như ngày hôm nay Thảo Trường vẫn có thể nhắn tin cho chúng ta bằng tất cả nỗi chân thực day dứt, còn chúng ta vẫn tiếp tục đọc và đối thoại với Thảo Trường.
hình ảnh:
2. In Pursuit of Light (2021)- Foroozan Shirghani- Acrylic và dầu trên bố- 48 x 72 in