Home » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

lời nguyền ở thế giới bên kia (phần 6)

0 comment ♦ 27.09.2023
P6_cháy nhà_4 DM

Thời gian là của những năm 60 thế kỷ trước, không gian là một thành phố nhỏ miền Trung nước Việt. Câu chuyện xảy ra dưới mắt nhìn một đứa bé chưa tròn tám tuổi. Với những bước trẻ thơ nhập nhằng giữa hai thế giới: Bên Này và Bên Kia, khi đứa bé ấy lỡ dan díu với một “Lời Nguyền”. Xin trân trọng gửi tới bạn đọc phần 6 truyện dài “Lời Nguyền Ở Thế Giới Bên Kia” của Hoàng Chính.

20

Ông bác sĩ lạ. Chưa bao giờ trông thấy. Ngày thường có ông bác sĩ khác. Áo choàng khoác bên ngoài bộ quần áo lính. Cái ống nghe vắt ngang vai. Mắt kính dầy. Tôi thích nhìn cái ống nghe lúc lắc theo mỗi bước đi của ông. Cô y tá Liên đi bên cạnh. Tay lúc nào cũng ôm một xấp hồ sơ. Ông bác sĩ ngày thường khám mỗi người một tí. Hỏi bà Gái một hai câu. Ông bác sĩ ít hỏi han bà Gái chắc vì lúc nào bà ấy cũng ngủ. Ban ngày cũng ngáy thật to. Tới thằng bé ăn quả trứng cá. Bác sĩ vạch mắt nó soi đèn. Nó giẫy như đỉa phải vôi. Mẹ bảo đỉa sợ vôi. Mỗi lần lội ruộng vớt rau muống mẹ thường đeo theo ít vôi giắt thắt lưng. Bị đỉa bám, chỉ cần lấy cái que quệt tí vôi dí vào con đỉa. Nó sẽ rụng ngay xuống đất. Nó quằn người lại khi phải vôi. Thằng bé ăn quả trứng cá giẫy như con đỉa mỗi khi ông bác sĩ sờ vào người nó. Tới phiên tôi. Thằng bé Vũ chưa tròn tám tuổi nhưng biết ngồi yên cho bác sĩ khám. Bác sĩ nghe tim, nghe phổi. Vạch mí mặt, vén áo, bấm vào cổ chân chờ vết lũng đầy lại. Rồi bác sĩ qua chị Huyền. “Thỉnh thoảng vặn cái ròng rọc này cho chân hạ xuống giúp máu lưu thông.” Ông vừa nói vừa quay cái quai ở bộ phận cuối giường. Vòng bánh xe quay quay và chân chị Huyền từ từ hạ xuống thấp. Chị Huyền rên khe khẽ. Tôi ghi hai chữ ròng rọc vào nhật ký. Ròng rọc, chữ mới, nghe buồn cười. Ngày thường là như thế. Bác sĩ với cô y tá Liên khám xong thì đi, nhưng cô Liên thì trở lại với cái ống tiêm to xù. Và chất thuốc vàng óng bên trong. Mọi thứ xảy ra đều đặn. Vì vậy tôi sợ giờ thăm bệnh buổi sáng. Tôi sợ tiếng giầy đinh lộp cộp của ông bác sĩ. Tôi sợ cả mảng nắng trải từ ngoài hành lang vào trong khung cửa. Bởi đó là giờ đền tội của tôi, thằng bé chưa đầy tám tuổi đầu.

Hôm nay có ông bác sĩ lạ. Ông bác sĩ lạ đi thẳng lại giường chị Huyền. Cô y tá Liên ôm chồng hồ sơ đi theo. Tôi, với mẹ, với bà nội thằng bé ăn quả trứng cá, với cả thằng bé ấy cùng nhìn theo.

“Bác sĩ chuyên khoa về xương.” Cô Liên nói.

Đứng ở đầu giường, hai tay đặt trước ngực như đang cầu nguyện, bà Khúc gật đầu lia lịa, “Chào bác sĩ. Chào bác sĩ.”

Ông bác sĩ khẽ gật đầu rồi bước tới sát giường chị Huyền. Ông nhìn chị từ đầu đến chân. Tóc chị rũ rượi trên trán, trên má, trên gối. Tôi thấy môi chị mấp máy. Chị Huyền hay nói thầm. Đứng xa chẳng ai nghe được.

Ông bác sĩ quay qua bà Khúc, “Đầu đuôi ra sao, bà kể tôi nghe.”

“Vâng,” bà Khúc chỉ chờ có thế. “Cháu đang đi học. Năm nay nó vào lớp đệ nhị. Cuối năm là thi tú tài. Nó ao ước học y khoa ra làm bác sĩ lắm cơ…”

Ông bác sĩ vừa lơ đãng nghe vừa cầm cổ tay chị Huyền. Chắc đang bắt mạch.

“Thường thì nó đi học bằng xe đạp,” bà Khúc nói, mắt nhìn đăm đăm cái khung sắt ở thành giường chị Huyền. “Từ nhà đến trường cũng gần thôi bác sĩ ạ. Cháu nó chỉ cần chạy xe đạp nửa tiếng là đến trường. Nó học giỏi lắm. Nó bảo muốn làm bác sĩ thì phải chăm học. Bác sĩ cũng biết mà. Không chăm học thì làm sao ra bác sĩ được.”

Từ giường bên này, mắt tôi vẫn chăm chú nhìn, tai tôi vẫn chăm chú nghe. Ông bác sĩ gỡ cái ống nghe vòng quanh cổ xuống, gỡ cúc áo ngực chị Huyền, đặt loa ống nghe lên ngực chị. Bỗng dưng tôi nghe tiếng thở tôi phì phò. Như thể đứa bạn nào đó chơi nghịch ôm siết lấy tôi. Tôi gồng mình hít thở thật mạnh. Rõ ràng là cái ống nghe nằm ngay trên vòm cong ngực chị Huyền.

“Cháu nó chạy xe cũng cẩn thận lắm. Lần nào ra cửa là tôi cũng dặn dò đến mỏi cả miệng.”

Ông bác sĩ vùi cái loa ống nghe vào sâu dưới nếp áo trên ngực chị Huyền. Cô y tá Liên xoay qua bà Khúc, ngắt lời, “Bà đâu cần kể hết mọi chuyện.”

Bà Khúc nói gặng, “Vâng, tôi biết. Hôm ấy cũng như mọi khi. Cháu đi học. Từ nhà đến trường đâu có xa.”

“Bà chỉ cần kể tai nạn xảy ra như thế nào cho bác sĩ nghe.” Cô Liên nói.

Ông bác sĩ vẫn chăm chú kéo cái ống nghe trên ngực chị Huyền. Rồi ông gõ những ngón tay trên ngực chị. Tôi bước xuống giường, mắt không rời những ngón tay ông bác sĩ chuyên môn. Bà nội thằng bé ăn quả trứng cá vẫn gắn hai mắt vào ông bác sĩ. Thằng bé ăn quả trứng cá đang lim dim ngủ. Bà Gái đã lại ngáy vang. Mẹ đã bỏ ra ngoài, hình như lại giặt áo quần. Tôi đứng sững giữa phòng, ngóng con mắt nhìn.

“Thì hôm ấy xe đạp bị hỏng. Cháu nó không dám nghỉ học. Nghỉ học thì mất bài, rồi bị điểm xấu, không lên lớp được. Làm sao mà học bác sĩ. Cháu nó chăm học lắm bác sĩ biết không.”

“Xe đạp hỏng rồi sao nữa?” Cô y tá Liên ngắt lời.

“Ờ, xe đạp hỏng nhưng cháu nó không dám nghỉ học. Cuối năm nay thi tú tài cơ mà.”

“Xe đạp hỏng rồi sao nữa, bà?”

“Hỏng nhưng vẫn phải đi học. Cháu nó phải thuê xích lô. Lúc đi thì không sao. Đến lớp muộn một tí nhưng không ai mắng mỏ gì. Học trò lớn thầy giáo cô giáo cũng ít khi la mắng như đám học trò nhỏ. Nhỏ như thằng cu Vũ kia…” bà chỉ tay về phía tôi. “Hư là phải cho roi cho vọt ngay.”

Tôi giật mình. Mặt mũi tôi bừng nóng. Hai tai tôi hâm hấp tỏa khói mù. Tôi nhớ cái lần quỳ trên bàn ngậm nhánh cỏ thần. Nhỏ thì phải bị phạt như thế. Tôi thấy hai đầu gối mình run rẩy. Tôi dựa vào thành giường. Lì lợm đứng nghe.

“Xe đạp hỏng rồi sao nữa?” Cô y tá Liên nôn nóng.

Tôi nhướng mí mắt lên nhìn. Ông bác sĩ đang gài cúc áo ngực cho chị Huyền. Rồi ông mở tấm chăn đắp trên người chị. Ông đặt bàn tay lên bụng chị. Tôi nghe tiếng chị rên khe khẽ. Chị Huyền chỉ thì thầm hoặc rên rỉ. Phải đứng gần lắm mới nghe được chị nói. Đứng gần như anh thầy giáo Thành mỗi khi bà Khúc đi vắng.

“Xe đạp hỏng, cháu nó gọi xích lô…”

“Lúc đi thì không sao…” Cô Liên nhắc.

“Vâng lúc đi Chúa thương thì không sao.”

“Thế lúc về thì sao?” Giọng cô y tá Liên.

“Lúc về cũng gọi xích lô.”

“Và tai nạn xảy ra?”

“Phải rồi. Xích lô đang chạy đàng hoàng tử tế thì trời xui đất khiến gì đâu, tội nghiệp con bé. Tối ngày chỉ lo học, ước ao học bác sĩ, chữa bệnh cho người ta làm phúc.”

Từ lúc vào phòng đến giờ, ông bác sĩ mới chỉ nói một câu. Ông lặng lẽ khám bệnh. Ông mở hẳn cái chăn mỏng đắp phía dưới bụng chị Huyền. Cái chăn chưa bao giờ rời khỏi người chị. Cái chăn chỉ rời khỏi người chị khi nào cái màn gió đã được căng lên. Tôi nghe tôi thở phì phò như lúc leo dốc đồi đuổi bắt những con kỳ nhông biết đổi màu. Tôi thấy tôi mon men lại gần góc phòng, nơi có chiếc giường duy nhất có bánh xe của chị Huyền. Tôi chờ nghe ông bác sĩ nói chừng nào chị Huyền sẽ hết bệnh. Chừng nào người ta sẽ tháo băng bột ra cho chị. Chừng nào chị sẽ đi đứng được như mọi người. Chừng nào chị sẽ đi học lại bằng xe đạp. Chừng nào chị sẽ thi tú tài. Chừng nào chị sẽ thành bác sĩ có cái ống nghe đeo trước ngực.

Nhưng ông bác sĩ không nói gì hết. Chỉ có một mình bà Khúc nói.

“Lúc về cháu nó cũng đi xích lô.”

“Rồi tai nạn xảy ra?” Cô y tá Liên nhắc.

“Tai nạn có xảy ra liền đâu.”

Ông bác sĩ rì rầm gì đó với cô y tá. Cô ghi vội vào cuốn sổ rồi lại xoay qua bà Khúc, “Tai nạn xảy ra như thế nào?”

“Xích lô đi được xa lắm rồi. Gần về tới nhà rồi…”

Ông bác sĩ kéo cái chăn lên ngực chị Huyền. Ông chạm tay vào má chị. Rồi quay lưng. Bà Khúc vẫn đăm đăm nhìn cái thanh sắt sơn trắng của chiếc giuờng duy nhất có bánh xe trong trại bệnh, “Gần tới nhà mà còn bị tai nạn, có xui xẻo không chứ.”

Ông bác sĩ vắt cái ống nghe quanh cổ rồi rảo bước. Cô y tá Liên vội vã Cám ơn bà rồi nhanh chân bước theo. Bà Khúc vẫn nhìn cái thanh ngang màu trắng của chiếc giường sắt duy nhất có bánh xe trong trại bệnh, “Vâng, trên đường về nhà. Cháu nó phải về nhanh để làm bài. Cuối năm còn thi tú tài một. Cháu nó ước ao được làm bác sĩ. Trên đường về nhà, xe xích lô đang chạy bon bon thì có cái xe vận tải to đùng đùng bị ban, bánh xe nó ban, thế là nó đâm sầm ngay vào con bé. Thế có khổ không. Bánh xe bị ban, nó không đâm vào đâu mà lại đâm sầm vào cháu. Gẫy nát cả tay chân thế có khổ không. Khổ thân con bé.” Giọng bà Khúc càng lúc càng sôi động. Mắt bà long lên, như đang nhìn chăm chăm vào chiếc xe vận tải to đùng đùng. “Thế có khốn khổ không chứ. Còn mấy tháng nữa là thi tú tài rồi. Cả đời chỉ ước ao làm bác sĩ chữa bệnh cho người ta làm phúc. Xe xích lô đang chạy bon bon, thì cái xe vận tải to đùng đùng bị ban, nó ban bánh xe, nó đâm xầm vào con bé. Quân khốn nạn! Đâm vào đâu không đâm lại nhằm ngay lúc chiếc xe xích lô chở con bé nhà này đi tới mà đâm có ác không. Thật là khổ. Thằng Vũ đấy à, mày làm gì ở đây thế?”

Bà Khúc bất ngờ quay sang tôi. Tôi đứng dựa vách tường gần giường chị Huyền từ lúc nào tôi cũng không biết nữa. Mắt bà Khúc vẫn trợn tròn, “Cháu làm gì ở đây thế, thằng Vũ kia?” Bà Khúc gắt. Môi bà vặn vẹo như đang nhai trầu đầy miệng.

Tôi luống cuống lùi lại, lưng dán cứng vào vách tường. Tôi nhìn quanh cầu cứu. Bà nội thằng bé ăn quả trứng cá đã ngả lưng trên giường. Bà Gái vẫn ngáy đều. Mẹ ở đâu đó ngoài vòi nước. Tôi quặt vội hai tay ra sau lưng.

“Mày giấu gì thế, hở thằng bé kia?” Bà Khúc lầm bầm trong miệng.

Tôi chôn cứng trên nền gạch hoa cũ kỹ. Đầu ngúc ngắc trên cái cổ to phù, “Không…” Tôi rặn mãi mới ra được cái âm thanh khao khao.

Chân gõ guốc lộp cộp trên nền gạch, bà Khúc lù lù đi tới, tay hai loi choi như con mẹ điên. Bà khom người nắm lấy hai cổ tay tôi, giật ra phía trước, “Xòa tay ra bà xem mày giấu cái gì nào.”

Những ngón tay cứng hơn sắt bóp cứng lấy hai cổ tay tôi. Cái đau nhói lên tới tận hai vai. Tôi để mặc bà Khúc kéo hai tay mình ra trước. Những ngón tay bằng sắt mở banh hai bàn tai bụ bẫm tôi.
Chỉ có những đường chỉ tay sậm màu.

“Không có gì à?” Bà Khúc hỏi.

Tôi lắc đầu.

“Sao cháu phải giấu?”

Tôi lại lắc đầu.

Tôi không hiểu và chắc mãi mãi không bao giờ hiểu vì sao tôi lại hay giấu hai tay ra sau lưng mỗi khi bị tra hỏi. Tôi chưa đầy tám tuổi, làm sao tôi hiểu được.

21

Ngọn đèn trên trần mới thay hôm trước tuôn ra thứ ánh vàng vàng đục. Tôi nằm trên giường. Hai cái gối chêm dưới lưng. Chêm như vậy dễ thở hơn và không bị đờm bít cứng cổ họng. Cái quạt trần rù rờ quay vòng vòng, phát ra tiếng kêu vo vo như tiếng muỗi kêu bên ngoài lớp màn lưới. Lại mắc tiểu. Lại phải ì ạch ra đầu hành lang. Lại phải hồi hộp liếc ngang liếc dọc. Tiếng ngáy rộn ràng trong phòng. Bao nhiêu người thi nhau ngáy. Tôi nhận ra được tiếng ngáy trầm đục của bà gái. Bà Gái ngáy một hồi thì bật ho. Ho một loạt dài rồi im. Rồi lại ngáy. Bà Khúc ngáy đều đều. Như tiếng quạt máy chạy rù rù. Bà nội thằng bé ăn quả trứng cá thì ngáy từng chặp. Ngáy ồ ạt. Rồi im lìm. Như sóng biển đuổi bắt nhau vào bờ. Những tiếng ngáy quen thuộc. Những tiếng ngáy trộn lẫn vào nhau. Nghe như tiếng ồn của nhà máy. Nhà máy điện ở tận góc hàng rào trường học. Nơi học trò không được lại gần. Nơi một lần tôi hăng chí đuổi bắt con kỳ nhông, tình cờ khám phá. Nhà Máy Điện. Vô Phận Sự Miễn Vào. Tiếng ngáy hỗn độn như tiếng máy chạy xình xịch trong nhà máy điện ở góc hàng rào trường học. Khuya. Tôi mắc đái. Phải dậy. Phải đi vòng ra đầu hành lang.

Tôi chống tay ngồi dậy, vén màn, thòng chân ra khỏi giường. Đôi dép nhựa xếp gọn ghẽ bên dưới. Tối nào trước khi đi ngủ mẹ cũng xếp hai chiếc dép thẳng hàng ngay dưới cạnh giường. Tôi xỏ chân vào dép. Đôi dép nhựa chật cứng. Xỏ vào khó khăn. Chân con to quá. Hôm trước tôi bảo mẹ như thế. Mẹ bảo tại dép nhựa nó co lại, nên bị chật chứ chân con giai vẫn vậy.

Trong phòng ai cũng có cái bô để đi tiểu đêm. Tôi cũng có nhưng tôi xấu hổ không chịu dùng. Đái vào bô, sáng mất công đem đi đổ. Cái bô còn làm khai cả phòng.

Tôi khẽ đếm từng bước. Hai cánh cửa khép hờ. Tôi đẩy nhẹ. Tiếng cót két lẫn vào tiếng ngáy rào rào. Hành lang vắng. Tôi nhìn trái, nhìn phải, nhìn trước, nhìn sau. Chỉ thấy hun hút cái hành lang lót gạch hoa. Dưới ánh đèn vàng gắn ở cửa những phòng bệnh, nền gạch hoa có chung một màu xám tối.

Tôi rẽ trái, đi về phía đầu hồi. Tôi vất vả mở cúc quần. Bây giờ cái gì tôi mặc hay đeo trên người cũng chật cứng. Mẹ bảo tại quần áo giặt xong nó co lại nên chật. Ông bác sĩ thì ấn chỗ này ấn chỗ kia, chờ da thịt nó phồng lên như cũ, rồi khẽ lắc đầu. Tôi, thằng bé chưa đầy tám tuổi đầu, chẳng biết chuyện gì. Chỉ biết thứ gì tôi mặc hay đeo trên người bây giờ cũng chật cứng.

Tiểu xong, rùng mình một cái xong, tôi lại vật vã gài cúc quần. Tôi nhìn trước mặt. Những tàng cây im lìm. Những tàng cây lù lù. Tôi quay trở về. Bên phải là vách tường. Bên trái là rừng cây. Bên ấy là Thế Giới Bên Kia. Vài con đom đóm xanh xanh đỏ đỏ chập chờn. Những cây nhang đỏ lừ ai đó cắm dọc hành lang. Tôi nín thở, dán mắt vào một bóng đen khoảng giữa hành lang, phía trước phòng bệnh số 2. Bóng người. Đàn bà. Tóc xõa. Tay chắp vào nhau. Những cây nhang đỏ giữa những ngón tay. Bóng người vái lạy khắp chung quanh. Tôi vội vã bước nhanh vào phòng. Vừa đẩy cánh cửa gỗ, tôi lạc ngay vào vùng tiếng la hét lao xao.

Tôi đứng ngẩn trước cửa. Mẹ ngồi trong màn. Bà Khúc cũng ngồi trong màn nghểnh cổ nhìn. Bà nội thằng bé ăn quả trứng cá ngồi thụp bên giường thằng cháu, nửa người chui bên trong màn vừa gọi Cháu ơi, cháu ơi vừa lắc người thằng bé. Chỉ còn một mình bà Gái ngáy rộn ràng.

Tôi rón rén bước vào phòng. Thằng bé ăn quả trứng cá nằm thẳng người, hai mắt trợn trừng. Hai tay co lại trước ngực. Những ngón tay chụm vào nhau. Nước bọt trào ra khỏi miệng nó. Tiếng thở nó rào rào như suối chảy. Mẹ tung màn, xuống khỏi giường, xỏ chân vào đôi guốc mộc.

“Vào giường đi con,” mẹ đẩy nhẹ vai tôi. “Để mẹ đi gọi y tá trực.”

“Cháu ơi, cháu ơi. Mày làm sao thế.” Bà nội thằng bé mếu máo, réo gọi. Bà lắc thằng bé như đang giũ quần áo cho khô.

Miệng thằng-bé-ăn-quả-trứng-cá đầy nước bọt. Bọt trắng tràn xuống gối. Bà nội nó kéo cái riềm áo gối chùi miệng cho nó. “Mày làm sao thế hở cháu? Mày làm sao thế?”

Tôi đứng ngớ ra ở đầu giường. Thằng-bé-ăn-quả-trứng-cá vẫn duỗi thẳng người như cái đòn gánh gỗ. Bà nội nó vẫn lắc vai nó như giũ quần áo cho khô. Cả người thằng-bé-ăn-quả-trứng-cá cứng như gỗ. Bà nội nó lắc bao nhiêu nó cũng không mềm lại tí nào.

Người y tá đàn ông đẩy tung cánh cửa, chạy lướt vào phòng. Mẹ lọc cọc theo sau. Thêm một cô y tá nữa chạy vào phòng. Hai người y tá chạy thẳng đến giường thằng-bé-ăn-quả-trứng-cá. Họ gạt tay bà nội nó ra. Họ chùi nước bọt ở miệng nó. Họ vạch miệng nó ra, lấy miếng gì đó chèn giữa hai hàm răng. Hàm răng sún mất cái răng cửa. Rồi ngưòi đàn ông vác nó lên vai. Cô y tá đắp cái khăn lên lưng nó. Và cả hai tuông chạy khỏi phòng. Bà nội thằng bé luống cuống xỏ guốc, lệt quệt chạy theo.

Tôi nhìn mẹ. Rồi quay qua nhìn góc của chị Huyền. Chị vừa rên nho nhỏ. Bà Khúc nằm xuống giường, nói vọng ra, “Khát nước hở?”

Chị Huyền thì thầm gì đó. Bà Khúc lại nói vọng ra từ trong giường, “Thôi rán nhịn tới sáng đi.”

Tôi đoán chị Huyền khát nước. Tôi muốn chạy xuống nhà bếp xin nước cho chị Huyền. Giờ này chắc nhà bếp chẳng còn ai.

“Bên em còn nước đây,” mẹ nói.

Bà Khúc lẩm bẩm, “Uống nhiều thì đi đái nhiều chứ báu bổ gì.”

Chị Huyền thì thầm gì đó. Một mình bà Khúc nghe được. Bà Khúc nằm ở cái giường bỏ trống, sát bên giường chị Huyền. Mỗi lần chị thì thầm chỉ một mình bà Khúc nghe được.

“Thôi, ngủ đi.” Bà Khúc nói.

“Cho cô ấy nhấp môi cũng được,” Mẹ nói, và vén màn chui khỏi giường.

Mẹ lấy chai nước trong ngăn tủ đầu giường tôi. Mẹ đi vòng qua giường chị Huyền. Mẹ vén màn chị lên. Mẹ đổ nước ra cái nắp chai. Mẹ rỏ nước lên môi chị. Nằm trong giường, sau lớp màn mỏng, tôi chẳng nhìn rõ chị Huyền nhắp những giọt nước mát như thế nào, nhưng tôi thấy quý những giọt nước mát rỏ xuống môi chị. Tôi quý những giọt nước làm mềm chỗ môi khô vì trời nóng. Tôi quý những giọt nước làm dịu đầu lưỡi tróc lở vì nóng trong người. “Nóng trong người” là mấy chữ mẹ vẫn thường nói khi tôi bị lở môi, lở miệng.

Cho chị Huyền uống nước xong, mẹ gài lại chân màn cho chị, và trở về giường của mình.

Đêm chắc khuya lắm rồi, nhưng tôi nằm hoài không ngủ được.

22

Chị Huyền tấm tức khóc. Hôm nay chị khóc mấy lần rồi. Anh thầy giáo Thành quanh quẩn phía đầu giường chị. Tay nắm hờ mảnh khăn mù soa. Bà Khúc ngồi trên chiếc giường trống. Hai mắt lườm lườm.
“Mày khóc hoài nó mù mắt cho mà xem.”

Mặc cho bà Khúc mắng mỏ, chị Huyền vẫn khóc. Chị nằm ngửa trên giường. Từ lúc vào đây chị chỉ nằm ngửa trên giường. Hai chân chị vẫn treo cao phía cuối giường. Trong phòng chả ai dám vặn cái ròng rọc cho chị hạ chân thấp xuống. Chỉ mình cô y tá Liên dám quay cái ròng rọc. Mỗi lần cô y tá Liên quay ròng rọc, chị Huyền lại rên rỉ kêu đau.

“Bảo mua cao hổ cốt bên Miên mà sao lâu quá vậy?” Bà Khúc nói trống.

“Dạ, tại chưa có chuyến bác ạ.” Anh thầy giáo nhỏ nhẹ.

“Chờ có chuyến thì người ta chết mục xương mất rồi.”

Anh thầy giáo lặng im. Bà Khúc thở dài vang đến tận cuối phòng. Chị Huyền nấc lên một tiếng. Anh giáo Thành nửa bước tới nửa bước lui. Cái khăn mù soa nắm chặt trong tay.

“Mày muốn vừa què vừa mù hở con?” Bà Khúc đay nghiến.

Rồi bà tuột xuống khỏi giường, bước về phía chị, giật cái khăn trong tay anh thầy giáo Thành. Bà lau nước mắt cho chị. Nước mắt chảy hoài xuống hai má, hằn lên thành hai vệt ngoằn ngoèo như con suối quanh co ở chân núi. Bà Khúc chùi đi chùi lại mà hai vết hằn vẫn còn. Bà đưa cái khăn cho anh giáo Thành, “Nhúng nước cho ướt, lau mới được.”

Anh giáo Thành ngoan ngoãn cầm cái khăn mù soa chạy ra ngoài, về phía cái vòi nước cuối hành lang. Tôi ngồi ở đầu giường, lưng dựa vào hai lớp gối. Hai tầng gối mà vẫn thở khó khăn. Tôi nghe được cả tiếng khò khè trong ngực mình. Bác sĩ bảo trong phổi có nước. Cô y tá Liên cũng nói như thế. Tôi chả tin. Lâu lắm rồi tôi không tắm biển. Lâu lắm rồi tôi không lội xuống con suối ở chân núi. Lâu lắm rồi tôi không bước hụt chân, ngã xuống ao, uống đầy một bụng nước.

Chị Huyền vẫn sụt sùi. Bà Khúc lấy tay gỡ những sợi tóc rối trên trán chị. Nhỏ nhẹ, “Đừng khóc con ạ. Khóc làm gì. Càng khóc càng lâu khỏi.”

“Muốn chết đi cho rồi!” Giọng chị Huyền. Chị nói nhỏ nhưng tôi nghe được. Giường tôi cách xa giường chị chỉ vài bước chân. Tôi nghe và thấy khó thở. Tôi phải gồng căng lồng ngực để thở. Tôi hít vào thật mạnh, nhưng lồng ngực tôi chật chội, như có cục đá đè lên trên.

Anh thầy giáo Thành vào tới. Anh cầm cái khăn mù soa thấm nước. Bà Khúc giật lấy cái khăn trên tay anh. Bà cọ thật kỹ vết hằn nước mắt khô trên má chị Huyền. Anh thầy giáo đứng ở đầu giường. Anh nhìn chị đăm đăm. Mắt anh có vẻ buồn.

Lau mặt cho chị Huyền xong, bà Khúc quay qua đưa cái khăn cho anh Thành, hất hất cái mặt, “Cậu đi đâu thì đi, cho nó nghỉ ngơi.”

Anh thầy giáo Thành nắm chặt cái khăn trong lòng bàn tay. Mắt anh chớp nhanh sau cặp mắt kính cận. Tay anh bóp chặt chiếc khăn ướt. Nước nhỏ giọt xuống nền nhà. Anh quay qua tôi. Anh cười với tôi, “Ra ngoài chơi với anh không, chú bé?”

Tôi thích hai chữ chú bé. Chữ bé không khiến tôi bé lại mà lại khiến tôi thấy mình người lớn. Hai chữ chú bé của anh giáo Thành biến tôi thành thằng bé mười hai mười ba tuổi. Tôi không còn là đứa bé chưa tròn tám tuổi. Anh Thành đứng lại đợi. Cái khăn nắm hờ trong tay. Những giọt nước long tong nhỏ xuống nền gạch hoa. Hai chữ chú bé khiến tôi chống tay bước xuống giường. Giờ này mẹ loay hoay trong nhà bếp. Nhà bếp cho người nhà mượn bếp để nấu món ăn mình thích. Tôi xỏ chân vào đôi dép nhựa. Đôi dép chật cứng hai bàn chân. Tôi theo anh Thành ra hành lang. Trời nhạt nắng. Mây trắng loang bầu trời.

Anh phơi cái khăn lên sợi dây phơi rồi quay qua tôi, “Mình ra đằng đó ngồi chơi.” Anh chỉ về phía hành lang ẩn dưới bóng mát của cây bàng rậm lá.

Anh phủi sạch bụi vỉa hè. Và ngồi xuống bậc thềm cao, thả hai chân xuống nền đất. Tôi vất vả làm theo. Chân ngắn đong đưa.

“Chú bé có tập viết cho khỏi quên chữ không?” Anh nói.

Tôi nhớ những dòng nhật ký mới viết. Ngày nào tôi cũng viết vài dòng. Tôi gật đầu.

“Viết những gì nào, kể anh nghe với.”

Tôi cười. Tôi thấy má mình căng cứng. Tưởng chừng mặt tôi sắp vỡ tung như cái bong bóng bơm căng. Anh giáo Thành đặt tay lên vai tôi. “Có viết được chữ nào mới không?” Anh hỏi, mắt nhìn đăm đăm những khóm lá rậm rạp ở khoảng rừng um tùm cây lá; ở Thế Giới Bên Kia.

“Nhật ký.” Tôi nói.

“Nhật ký?” Anh quay qua nhìn tôi, ngạc nhiên, thích thú. “Giỏi quá nhỉ.”

Tôi lại cười. Hai má tôi lại căng phồng. Và tôi ngưng ngay miệng cười. Tôi sợ tôi sẽ nứt bung như cái bong bóng bơm căng.

“Tại sao chị Huyền lại khóc?” Tôi buột miệng.

Anh rút bàn tay đang đặt trên vai tôi xuống. Anh ngó thẳng phía trước. Anh nhìn đăm đăm vào những khóm lá âm u trong Thế Giới Bên Kia. Hình như anh thở dài. Tôi cũng không chắc lắm. Tiếng thở dài xa xăm. Hay ấy là tiếng thở của tôi không chừng.

“Nhớ viết chữ mỗi ngày cho khỏi quên.” Anh Thành nói. “Ở trong này buồn…”

Tôi hiểu rõ điều anh nói. Ở trong này buồn chết được. Thằng-bé-ăn-quả-trứng-cá vào trại có mấy hôm đã lên cơn động kinh. Hai chữ động kinh tôi cũng mới học được. Nó lên cơn động kinh. Người ta đem nó đi cấp cứu rồi không đem về nữa. Bà Khúc bảo người ta đem nó xuống nhà xác rồi. Thêm hai chữ nhà xác. Nhà đựng xác người chết. Hai chữ mới chả muốn học nhưng cứ dán chặt vào óc.

“Ở trong này buồn nhưng vẫn hơn ở ngoài.” Anh Thành tiếp.

“Em thích ở ngoài.” Tôi buột miệng.

“Ở ngoài kia bao nhiêu người chết dịch tả, chú bé biết không?”

“Nhà mình có vôi mà.”

“Chả ăn thua gì.”

Anh giáo Thành nói nhỏ, như thể nói cho một mình anh nghe. Nhưng tôi vẫn nghe được. Tôi ngồi sát bên anh. Anh nói gì tôi cũng nghe được. Nếu được đứng sát giường chị Huyền thì chị nói nhỏ thế nào tôi cũng nghe thấy.

“Mai mốt…” Anh Thành ngập ngừng. “Mai mốt được về, chú bé sẽ làm gì?”

Tôi hăng hái nói ra cái điều đã giấu thật sâu trong lòng mình, “Em sẽ nói với thầy giáo Quỳnh em không phải thủ phạm.”

Anh Thành quay hẳn đầu, nhìn tôi đăm đăm, “Thế à, thủ phạm chuyện gì thế?”

Tôi rì rầm kể cho anh thầy giáo Thành nghe chuyện đốt cỏ sân sau trường học. Chuyện bọn con trai phải quỳ trên bàn học. Chuyện tất cả bọn học trò trai phải ngậm nhánh cỏ thần.

“Chú bé là thủ phạm à?” Anh thầy giáo ngắt lời.

“Không.” Tôi vừa nói vừa lắc đầu. Cái lắc đầu mạnh đến nỗi những tàng cây rậm lá xoay vòng vòng chung quanh. Tôi nhắm mắt. Tôi ngồi yên. Khi những cành lá thôi quay, tôi tiếp tục phun ra nỗi uất ức của mình. “Em bị oan. Em không đốt. Em bị oan.”

“Bị oan rồi sao? Có bị đòn không?”

“Em bị đuổi học.”

Anh vỗ nhẹ vai tôi. Anh nắm lấy bờ vai to phù của thằng bé chưa đầy tám tuổi nhưng bỗng dưng mười hai mười ba chỉ vì được anh gọi là chú bé. Anh bảo, “Thế thủ phạm là ai, chú bé biết không?”

Tôi gật đầu thật mạnh. Và cái nền đất phủ đầy xác lá trước mặt lại ngả nghiêng, chao chọng.

“Đứa bạn cùng lớp phải không?” Anh Thành hỏi.

Tôi ngạc nhiên, trợn con mắt híp, “Sao anh biết?”

Anh thầy giáo cười, gật gù, “Phải thằng bạn cùng lớp không?”

“Thằng Đức ngố.”

“Sao chú bé biết là thằng Đức ngố?”

“Nó kể. Nó khoe hộp diêm.”

Anh Thành à lên một tiếng, “Sao chú bé không nói với thầy giáo?”

“Mách lẻo đâu có tốt.”

“Nhưng chú bé bị oan mà. Phải làm cho ra chuyện, Vũ ơi.” Anh bóp mạnh vai tôi. Chắc anh bóp mạnh lắm bởi vì tôi thấy vai mình đau nhói. Nhưng tôi làm mặt lì không kêu ca. Tôi đang bị ám bởi những chữ làm cho ra chuyện. Đúng rồi. Phải làm cho ra chuyện.

“Chẳng lẽ chịu mang tiếng như vậy suốt đời à?” Anh Thành tiếp.

Đúng. Tôi không thể mang tiếng suốt đời. Tôi phải làm cho ra chuyện.

“Thôi, anh phải về, chú bé à.” Câu nói của anh làm tôi giật mình. Tôi ngưng thở. Tôi thấy tay chân mình lạnh buốt. Tôi muốn cầm chặt lấy tay anh thầy giáo Thành. Nhưng tôi không dám.

“Bao giờ anh vào nữa?” Tôi lấy hết sức lực để hỏi cái điều sống chết.

“Anh cũng không biết nữa, chú bé à. Anh phải đi tìm việc. Anh mất việc làm rồi.”

Tôi không hiểu gì hết. Anh Thành là thầy giáo. Thầy giáo làm sao mà mất việc được. Trường học bao giờ cũng còn đó. Lớp học bao giờ cũng đầy ắp học trò. Tôi ngơ ngác. Bỗng dưng tôi muốn khóc. Nhưng tôi mím môi, can đảm không khóc.

Anh Thành cầm tay, đỡ tôi đứng dậy. Chúng tôi bước ra khỏi khung bóng râm của cây bàng rậm lá.
“Chú bé ngoan nhé. Nhớ uống thuốc đều, ” anh đặt hai tay lên vai tôi. “Và nhớ viết cho khỏi quên chữ.” Rồi anh quay lưng bước đi.

Tôi còn đang lừng khừng đứng nhìn theo chiếc bóng nghiêng ngả của anh thì anh bỗng quay lại. Anh ghé sát tai tôi, thì thầm, “Đừng nói cho ai biết anh mất việc nhé. Nhất là bà Khúc.”

23

Lạch lạch. Lạch cạch. Tiếng bánh xe khua trên nền gạch hoa. Tôi vểnh mũi. Hệt như con chó Cộc, đón mùi thức ăn. Chiếc xe phát đồ ăn. Một ngày ba buổi. Sáng sớm. Xế trưa. Và chiều tối. Những cái khay nhựa trầy trụa, bay màu. Những muỗng những nĩa leng keng. Tôi ghét dùng nĩa. Chả làm sao mà gắp thức ăn được. Ở đây không ai dùng đũa. Lần trước mẹ dặn bố vào thăm nhớ mang theo vài đôi đũa. Nhưng bố vội vàng công việc nên quên đi mất. Lạch cạch. Lạch cạch. Ngừng một lúc. Rồi lại lạch cạch. Những bánh xe reo vui như tiếng bọn học trò chúng tôi hò hét lúc đến giờ ra chơi.

Chiếc xe ló qua khung cửa. Tôi nghếch mũi đánh hơi. Hôm nay có món gì. Vẫn miếng thịt heo vuông vức. Phần mỡ thì trắng đục, phần nạc thì nâu sậm. Nước thịt đóng váng. Rau muống luộc. Xì dầu. Nhắm mắt tôi cũng biết sẽ có những món gì.

“Giờ ăn đến rồi, giờ ăn đến rồi.” Cái chú phát cơm lần nào cũng hát hai câu ấy. Lần nào chú cũng mặc cái áo choàng bệnh viện màu trắng ngả vàng. Mẹ bảo ấy là màu cháo lòng, tôi vẫn nhớ.

Những cái khay có nhiều ngăn. Một ngăn cơm. Một ngăn thịt. Một ngăn rau luộc. Một ngăn xì dầu.
“Thằng cu này vẫn muốn ăn cháo phải không nào?” Chú phát cơm nháy mắt với tôi.

Tôi định nói không phải đâu nhưng mẹ đã trả lời, “Chú cho cháu cháo như mọi khi đi.”

Cháo trắng. Cháo trắng. Cháo trắng. Tôi muốn khóc.

“Con muốn ăn thịt kho.” Tôi lầu bầu.

Mẹ đỡ lấy khay cơm từ chú nhà bếp, quay sang tôi, dỗ dành, “Cố ăn cháo cho chóng khỏi.”

Tôi nhìn mẹ. Giận hờn đầy lên mặt. Trong khóe nhìn khin khít của con mắt híp, tôi thấy chú nhà bếp đưa khay cơm cho mẹ và mẹ đưa tay đón lấy, nhưng chú nhà bếp không buông tay ra. Chú níu khay cơm lại. Mẹ quay qua nhìn chú. Và chú nhà bếp nháy mắt, nhe răng cười. Chiếc răng vàng lấp lánh.

“Cố kiêng cho mau hết bệnh, con trai.” Chú nói với tôi mà mắt chú thì cứ nhìn mẹ.

Tôi quên bẵng chuyện phải ăn nhạt. Tôi thấy má mẹ đỏ bừng. Tôi thấy mẹ mím môi bưng khay cơm lại đầu giường. Tôi thấy mẹ đặt khay cơm xuống mặt tủ.

Chú nhà bếp múc cháo vào cái tô nhỏ, đem đến tận đầu giường đưa cho mẹ. Lúc đi qua chỗ cái thằng bé phụng phịu là tôi, chú xoa đầu tôi. Rồi chú trở về với chiếc xe đẩy. Chú lấy hai cục kẹo lạc, món tráng miệng đưa cho tôi. Rồi chú lại múc cơm, thịt heo kho, rau luộc, xì dầu vào khay, đưa cho bà Khúc. Chú cười nói rộn ràng, “Cô gái đã bớt nhiều chưa?”

Không có tiếng trả lời.

Trước khi đẩy xe ra khỏi cửa, chú còn quay đầu lại, nhìn về phía mẹ, lớn giọng chào mọi người. Đáp lại câu chào rộn rã ấy chỉ có tiếng lẩm bẩm của bà Khúc, “Cơm gì mà ngày nào cũng khê!”

Lạch lạch. Lạch cạch. Một ngày ba lần. Chiếc xe đẩy cơm của nhà bếp chạy dọc hành lang. Một ngày ba lần. Chiếc xe mang mùi thơm rải dọc cái hành lang lót gạch bông cũ kỹ. Một ngày ba lần, tôi chờ chiếc xe nhà bếp và bao giờ cũng giận, muốn khóc tung tóe nước mắt cho ướt ngập cả phòng bệnh vì ai cũng được ăn thịt heo kho. Vì chỉ mình tôi, thằng bé chưa đầy tám tuổi đầu, không được ăn thứ gì ngoài bát cháo trắng. Vẩy tí đường cát trắng lên trên. Càng ít đường càng tốt.

Tôi cầm hai miếng kẹo lạc trong tay. Không biết phải làm gì. Thỉnh thoảng lang thang trong hành lang, gặp chú nhà bếp, tôi hay được chú cho kẹo lạc. Lần nào chú cũng hỏi ba cháu đâu. Tôi bảo ba cháu đi hành quân ở Bồng Sơn. Tôi chỉ nhớ mỗi cái tên Bồng Sơn. Và lần nào cũng trả lời như thế.
Tôi ghét cháo. Tôi lủi thủi bước ra ngoài. Tôi bước dọc hành lang. Trời đất lạ lẫm bên ngoài. Sương mù ở đâu phủ xuống mịt mù. Tôi ngây ngất trước khung cảnh vẫn thường đọc được trong những chuyện cổ tích. Nắng rất mỏng, rất thưa. Sương mù giăng màn trên những ngọn cây. Tôi nhìn đăm đăm vào những vạt sương dày đặc. Một vạt sương vắt vẻo, như vạt chiếc áo dài của chị Thảo. Mấy lần chị Thảo mặc áo dài vào thăm. Chị bảo mới tan học về. Áo dài trắng, hai tà áo bay bay theo bước chân. Vạt sương mù đong đưa trên đám lá rừng kia giống hệt vạt áo dài chị Thảo.

Ai như chị Thảo ấy nhỉ. Tiếng guốc gõ từ tận đâu kia hành lang. Dáng nhỏ. Tóc thả xuôi vai. Bóng cô gái lẫn vào bóng những người bệnh đi qua đi lại trên hành lang. Cô gái đi về phía tôi đang đứng. Chúa ơi, con vừa mới nghĩ đến chị ấy đây thôi. Tiếng guốc rộn ràng. Tôi quên bẵng tô cháo trắng. Tôi quên bẵng tôi đang đói bụng. Đúng chị Thảo rồi.

“Vũ đang làm gì đấy?” Chị hỏi. Hôm nay chị Thảo đẹp. Môi chị đỏ chót, hai khóe cong như đuôi quả ớt chín. Chắc chị nhấm nước bọt vào cái bao đựng nhang rồi bôi lên môi như một lần tôi bắt gặp trong phòng bệnh. Mắt chị cũng đẹp. Chị mặc áo dài. Chắc chị mới đi học về. Chị ôm cái cặp màu đen. Tôi ngẩn người ra. Ngó.

“Vũ đang làm gì đấy?” Chị Thảo lại hỏi.

Tôi lúng túng xoắn hai bàn tay vào nhau và chợt nhận ra hai miếng kẹo lạc vẫn còn trong tay. Tôi bối rối ngước nhìn đôi môi ớt chín. Tôi nhìn những sợi tóc rải đều một bên vai. Tôi nhìn những sợi vải đan vuông trên ngực áo. Tôi nhìn đường hằn vòng vo dưới lớp vải.

Rồi sực nhớ ra, tôi nhét hai miếng kẹo vào túi áo.

Chị Thảo cười. Chị Thảo chuyển cái cặp ra ôm trước ngực, “Lại mắc cỡ nữa rồi. Con trai gì mà hơi chút xíu là đỏ mặt.” Chị nói. Và chị cười. Tôi ngẩn người nhìn đôi môi trái ớt. Hai trái ớt đỏ ơi là đỏ.

Tôi thấy hai mà mình bừng nóng. Tôi nhìn xuống đất. Hai tà áo trắng chập chờn trước mặt. Chiếc quần đen bóng. Chắc là lụa. Tôi không biết lụa với vải khác nhau thế nào. Tôi chỉ nhớ một lần mẹ bảo lụa thì bóng hơn vải. Bỗng dưng tôi muốn nói với chị Thảo rằng chị đẹp như bà tiên.

“Chị Thảo…”

“Ừ?” Chị nhướng cặp lông mày.

“Em muốn chị ở đây lâu.”

“Ừ.” Chị nói và một tay ôm cặp, một tay níu vai áo tôi. Dạo này tôi to béo như con voi. Bàn tay chị nhỏ nhắn, chả làm sao ôm kín vai tôi được. Thành ra chị níu áo tôi. Kéo tôi vào phòng bệnh.

Tôi vừa ló mặt qua khung cửa, đã nghe tiếng mẹ hốt hoảng, “Đừng vào, Vũ ơi.”

Tôi đứng sựng lại. Chị Thảo buông vai tôi, bước nhanh vào phòng. Từ góc phòng vọng ra tiếng rên tức tưởi của chị Huyền. Mẹ đứng sát bên giường chị, đang loay hoay giúp bà Khúc đặt cái thau nhôm xuống bên dưới người chị. Tôi vội nhắm mắt. Nhưng cũng muộn mất rồi. Một khoảng bụng trắng xanh. Một khoảng đùi trắng xanh. Quần lót tụt ngang đầu gối. Tôi nhắm nghiền hai mắt. Tôi vừa nhắm mắt vừa quay mặt lọ mọ bước ra cửa. Bên ngoài sương mù vẫn đặc keo trên khoảng rừng rậm lá. Sương mù vẫn loang đầy Thế Giới Bên Kia.

Tối nay tôi sẽ hỏi mẹ hôm nay ngày mấy, tháng mấy, năm nào để ghi vào nhật ký. Bởi hôm nay là ngày lạ lùng. Một ngày đáng nhớ.

Tôi đang quay cuồng với khoảng bụng trắng xanh, với khoảng đùi trắng xanh, với chiếc quần lót tụt xuống tận đầu gối thì, “Chú bé mơ mộng gì thế?”

Tôi giật bắn người. Anh thầy giáo Thành. Anh đến bất ngờ. Tôi quên bẵng là mình chưa ăn trưa. Tôi quên bẵng là mình còn một tô cháo mà giờ này chắc là nguội ngắt. Tôi cười. Cái mặt căng sắp vỡ bung ra nhưng tôi vẫn cười. Hai má đau nhói vì căng phồng nhưng tôi vẫn cười.

Anh thầy giáo Thành xoa má tôi, “Đang nhớ ai phải không?”

Tôi lại cười.

“Nhớ con bé Phụng phải không?”

Tôi lại giật bắn người. Tôi chả nhớ đã có bao giờ mình có tỉ tê kể chuyện con bé Phụng cho anh thầy giáo Thành nghe không. Nhất định là không. Nhưng sao anh lại biết.

Tôi nói lảng, “Chị Thảo mới đến.”

Anh Thành thản nhiên, “Vậy à.”

Tôi không thích anh Thành dửng dưng như vậy khi nghe nói chị Thảo mới đến. Chị Thảo đẹp và ngọt như cam thảo, tôi thích thì ai cũng phải thích. Tôi muốn nói với anh như thế, nhưng lại lặng im. Tôi chỉ nói thầm cho một mình tôi nghe.

“Vào phòng đi chú bé.” Anh níu vai áo tôi. Như chị Thảo ban nãy cũng níu vai áo tôi.

Tôi nắm chặt tay anh, “Đừng vào.”

“Sao vậy?” Anh cúi nhìn tôi. Hai con mắt tròn sau cặp mắt kính cận thị.

“Chị Huyền…” Tôi lúng túng. “Chị Huyền đang…”

“Chị Huyền đang làm sao?”

“Chị ấy đang… khóc.”

Anh rời vai áo tôi, bước nhanh vào phòng bệnh. Tôi chôn chân ngoài cửa. Đầu óc xoay vòng với khoảng da bụng trắng xanh, khoảng da đùi trắng xanh và chiếc quần lót tuột xuống gần đầu gối.

Một lúc sau, anh Thành bước ra, hai tay ôm chắc vành cái thau nhôm. Tôi nín thở, đứng nép một bên cửa.

Nhất định tôi phải hỏi mẹ hôm nay là thứ mấy, để ghi vào nhật ký. Phải ghi rằng vừa nghĩ đến chị Thảo là chị ấy đến. Rồi anh thầy giáo Thành đến. Chỉ không ghi chuyện chị Huyền khóc mà thôi.

(Còn tiếp)

Articles by Hoàng Chính

Comments


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

@2006-2025 damau.org ♦ Da Màu Magazine
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)