Nguyễn Phan Thịnh
tưởng tượng một hôm imagine one day
điếc đặc absolutely deaf
đui đen absolutely blind
tai không nghe gì nữa the ears could hear nothing
mắt không thấy gì nữa the eyes could see nothing
ấy vậy trong mù câm thus, in silence and dark
một chớp lóe a lightning
một tiếng gầm a thunder
tất cả bắt đầu all would begin
big-bang big-bang
sự dối trá quá thường so ordinary is the deception
đến nỗi không còn là dối trá that it is not any deception
không nhìn see nothing
không nghe hear nothing
không tin believe nothing
sống như hòn đá and live as a stone
mòn nhẵn worn out and smooth
đít ngồi lên by those bottoms sitting on
ấy vậy trong mù câm thus, in silence and dark
một chớp lóe a lightning
một tiếng gầm a thunder
tất cả bắt đầu all would begin
big-bang big-bang
tất cả số không all would be nothing
sau tro tàn from ashes
trên một quá khứ upon a past
không thể không vùi xóa that couldn’t help being buried
lòng chúng ta gột rửa our hearts would be washed
tình chúng ta chồi non our love would be budding
phục sinh resurrection
bắt đầu từ những linh hồn would begin from spirits
big-bang big-bang
từ chúng ta from us
là hố đen being the black hole
im im quiet
8/10/05 8/10/05
nguyễn phan thịnh A translation by
nguyen phan thinh
Thu phần quỷ xướng thi
tạp bút
Nguyễn Phan Thịnh: Vừa đi vừa ngẫm nghĩ
Trong tay tôi đang cầm Lý Hạ, qủy tài qủy thi của Hùynh Ngọc Chiến, nhà xuất bản Trẻ (VN), 2001. Bây giờ đã quá nửa đêm, chung quanh lặng ngắt như tờ nếu không thỉnh thoảng nghe vọng xa xa tiếng xe cộ ì ầm thưa thớt.
Sách xem rồi thẫn thờ tự hỏi chẳng lẽ giờ này cũng của ma qủy chăng? Ma quỷ đêm khác ma quỷ ngày chăng? Ma quỷ trong thơ Lý Hạ thời Vãn Đường khác ma quỷ thời nay chăng?…Bao nhiêu câu hỏi hoang mang khiến tôi nhìn quanh thấy gì cũng chập chờn, dưới ánh đèn nê-ông sáng lóa mà mọi vật chợt như sầm tối.
Hốt nhiên, nửa thực nửa mơ, cuốn sách của tác giả Huỳnh Ngọc Chiến nhỏ dần đi trên tay tôi, rồi từ trên mặt bìa, hình dáng Lý Hạ lừng lững bước ra, to lên thật nhanh, nghênh ngang hoang đàng vĩ đại mà uất hồn hận khí trùm lấp cõi đêm, nửa quỷ nửa tiên, cái bóng đè ép lên thân xác tôi ốm o và tâm hồn tôi ngưỡng vọng từ rất lâu rồi…
— Ngươi gặp ta làm gì? Ta thấy ngươi chẳng phải thần, quỷ, hay ma. Ngươi chẳng là…
Ôi thi quỷ Lý Hạ đó ư? Lý Hạ, tác giả những câu thơ thiên hạ truyền tụng là “thi trung hữu qủy”, sinh năm 791 và mất năm 817, thuộc dòng dõi tôn thất nhà Đường , tự là Trường Cát, người đất Xương Cốc, nay thuộc huyện Nghi Dương, tỉnh Hà Nam. Chết sớm, 27 tuổi. Đường thi huy hoàng với những tên tuổi vĩ đại : Thi Tiên Lý Bạch, Thi Phật Vương Duy, ThiThánh Đỗ Phủ thường được thế nhân xưng tụng, và Thi Quỷ Lý Hạ thường bị thiên hạ dập vùi. Người đời trước đời sau đọc thơ Hạ đều bàng hoàng ghê rợn vì trong thơ Hạ cảnh quỷ, dáng quỷ, tâm quỷ, tình quỷ u u minh minh tạo thành những câu thơ kỳ dị kinh hồn. Người yêu tài Lý Hạ đặc biệt có Hàn Dũ, Hoàng Phủ Thục; truyền thuyết kể hai người tìm đến Lý Hạ vì “quỷ thi” lan truyền đến tận kinh thành lúc ông mới 7 tuổi.
–Đời sau nói ta gặp hai người năm 7 tuổi, lại nói năm 25 tuổi. Ta làm bài Cao hiên quá (Xe lớn đến nhà), thật tình chỉ nhớ được hai câu:
Điện tiền tác phú thanh ma không
Bút bổ tạo hóa thiên vô công
(Trước nhà làm thơ trình, thanh âm của lời thơ chạm lên cả trời
Ngọn bút bổ sung những khiếm khuyết của tạo hóa không chút công sức)
Nhờ Hàn Dũ, Lý Hạ mới được dương danh. Nhưng người sợ và ghét ông vì đố kỵ ghen tài thì nhiều. Phần nào cũng vì tính khí ngược đời của ông gây ‘sốc’ cho cả những danh tài địa vị cao sang đương thời chăng?
–Ta không hùa theo đời với bọn cúc cung bồi bút và bày danh sĩ cung đình hèn hạ, nên bị chúng ghét cũng là lẽ thường. Thiên hạ chạy theo thể thơ Nguyên Hòa hoa mỹ kỳ khu theo luật thất ngôn cận thể của Nguyên Chẩn và Bạch Cư Dị, ta nhất định bài bác. Nguyên Chẩn không ngại danh vị Tướng quốc, đem lễ vật đến tận nhà rách ta mà xin kết giao, ta chẳng biết tình ngay ý thật thế nào, từ chối không tiếp. Nếu ta tiếp thì hóa ra ta là kẻ ở trong đám ma hèn ao ước cơm thừa canh cặn hay sao?Ta không phải ma!
Tài năng xuất chúng nhưng không cách tiến thân, bọn tiểu nhân dưới tay Nguyên Chẩn gièm pha không cho thi tiến sĩ, uy tín như Hàn Dũ giúp cũng bất thành, chỉ được làm một chức quan nhỏ là Phụng lễ lang (trông coi việc nghi lễ). Tài liệu không nói rõ trông coi việc nghi lễ ở đâu, chẳng biết ở cung đình hay nơi làng xã nào?
–Ta lang thang giữa thiên nhiên kỳ thú, lòng nảy ý hay bèn ghi lại bỏ trong túi gấm. Đêm về ta viết thành bài, dọc lên rồi thường bỏ xó. Cả bài một câu đạt thôi cũng đủ. Chẳng qua bài là để tạo thể, thể hay đẹp mà ý vất đi thì có phải thơ chăng? Anh họ ta ghét ta, hay lén quơ hết bản thảo của ta đem ra nhà xí chùi đít rồi ném hết cả xuống đống phân giòi. Ta mặc, bọn có sức cứ thu gom tiêu hủy công trình sáng tạo không theo ý chúng, chẳng qua giết được cái thể, cái phách, chứ tinh anh hồn ý nào có mất đi dâu.
Truyện kể về Lý Hạ hay có hình ảnh mẹ ông, xem ra cuộc sống tình cảm của ông cũng khô khốc kỳ dị, cô đơn lắm, chẳng có Hồng Hồng Tuyết Tuyết hay Thị Lộ nào cả, hơi ấm giai nhân chắc cũng kinh sợ khí lạnh của quỷ thần trong con người ông thì phải.
–Lý Thương Aån có tình thương ta, viết tiểu truyện kể theo lời người nhà ta, thành ra cái chết của ta mang màu sắc thần tiên. Quỷ với tiên vốn không bao giờ là một, ngươi phải biết mới được. Nghe nói, ta bệnh nặng, gần chết bỗng có một vị tiên mặc áo lụa đào, cưỡi con cù long màu đỏ, bay đến bên cửa, cầm một cuốn sách, chữ như chữ triện thời thái cổ, trao cho ta và bảo: “Thượng đế đã cho xây xong lầu Bạch Ngọc, xin mời ông lên gấp để viết cho bài ký.”Người nhà thấy hơi và khói thấp thoáng qua cửa sổ, và nghe tiếng xe đi trong nhạc réo rắt. Nhưng ta nói lại với ngươi, tiên với quỷ mỗi đằng một khác. Chị ta thấy qủa thực như vậy chăng nữa, cũng là do tâm dạ hiền lương, không thể biết quỷ thần quyền phép thế nào; tiên là cái thá gì! Tiên hãi quỷ, lơ quỷ, để mặc quỷ hùng cứ cõi người, đời ngươi chẳng thấy sao?
Lý Hạ mất rồi, sau này Tập hiền học sĩ Thẩm công tử đem thơ giữ được của ông, gồm 4 quyển, khoảng hai trăm ba mươi bài, đến xin Đỗ Mục viết lời tựa. Thi hào họ Đỗ từ chối mãi rồi mới viết, lại thêm: “Người đời đều nói: Nếu Hạ chưa mất, thêm một phần lý vào thơ nữa thì có thể tạm nối nghiệp được Ly Tao vậy.” Tuy ông có khen ngợi thi tài đặc biệt, nhưng “lý” mà ông tiếc cho thơ Lý Hạ không có lại thật mơ hồ. Thơ quỷ cũng phải có lý gì đó sao?
–Quỷ có lý của quỷ thì thơ quỷ cũng có lý của thơ qủy. Đỗ Mục không là quỷ làm sao biết lý của quỷ, lý của thơ quỷ? Gia dĩ, quỷ ở giữa thần và ma, nên mới có những tiếng qủy thần và quỷ ma vậy. Ngươi cũng thấy ma sống lẫn với người, lúc nhúc chen nhau dưới bóng quỷ. Quỷ giầu năng lực quyền phép, chia hai loại không thể chung bóng mặt trời. Quỷ thần như Khuất Nguyên, Hàn Dũ…Hạng này thi thố công trạng rồi có thể thành tiên, thánh, phật, không chung đụng với trần ai gì nữa. Quỷ ma diễu vũ dương oai khắp cõi thế gian, lúc làm người, khi làm yêu ma, lại có khi làm thánh, tinh vi biến hóa khôn lường, tham vọng vô biên, gian giảo bất tận. Ta không nói, người người khốn khổ cũng biết là ai. Như ở xứ ngươi, trong chốn văn chương nghệ thuật, trải qua một giai đoạn lịch sử vô cùng khốc liệt thách đố kinh hồn, hẳn ngươi cũng dần dần biết ai ai…
Có điều lạ lùng, cách nay hơn ba mươi năm, ở đất Sài Gòn, thi sĩ thiền sư Tuệ Sĩ đặc biệt yêu mến Lý Hạ. Trên tạp san Thời Tập của nhà thơ Viên Linh ngày ấy bất ngờ tôi được đọc bài Quỉ tài và quỉ thi Lý Hạ của Tuệ Sĩ mà ngay đầu bài là mấy câu mở không bình thường : “Tôi không nhớ rõ ai đã nói câu này: “Thi ca là sự phản động của một thời đại!” Thay vì nói thi ca là phản ảnh, ở đây lại nhấn mạnh ở chỗ chính nó là một sự phản động… Thi ca mang bản chất của một thái độ khước từ. Người làm thơ không thể không nghĩ đến một cuộc ra đi, một phương trời viễn mộng …” Bây giờ đọc lại, thời gian trôi qua đã lâu mà sao nhanh như một chớp mộng kinh dị lẫn đau thương, tôi đã hiểu trong hoàn cảnh và điều kiện riêng chung ngày ấy, chữ “phản động” của đại đức Tuệ Sĩ nhẹ tênh, chỉ mang ý nghĩa thuộc phạm trù văn chương, chữ nghĩa, thi pháp, mỹ học; chứ không nặng nề đầy đọa như hôm nay mà bản thân nhà thơ thiền sư này đang trải nghiệm. Vậy nên, ông hạ bút dễ dàng: “Thơ của Hạ có thể được tóm tắt trong một chữ “hận”. Cũng có thể là một cái hận của một người bất đắc chí,vì quá tự thị ở tài hoa và tuổi trẻ của mình, như người đời thường đồn đãi. Nhưng cũng có thể là sự phát hiện tự nhiên của thơ.” Thế là, bạch thầy, Quỉ tài và quỉ thi Lý Hạ mở ra trước mắt thầy những cõi mộng, những cuộc lữ, và thầy thêm: “Họ thường so sánh cái không khí âm u quỉ dị của Lý Hạ với Poe; cái thần bí của Hạ với Blake.”
–Tiếc thay bọn hậu sinh xứ ngươi có tài phát hiện ta, ít nhiều hiểu ta, ca ngợi ta, mà chẳng có công trình nào xứng đáng tôn vinh Chu Thần Cao Bá Quát của dân tộc mình. Sao vậy, ngươi có suy nghĩ không? Nếu đem ta ra so sánh với bậc quỷ thần này, ta thật xấu hổ. Thi tài Quát nghiêng trời lệch đất đã đành, nhưng “Trời nắng chang chang người trói người”, “Giữa đường gặp người đói”, “Nhai văn nhá chữ buồn ta, Con giun còn biết đâu là cao sâu”, “Đù cha kiếp, đéo mẹ đời”, “Học trò nửa người nửa ngợm nửa đười ươi”,…mới thật như lời Hàn Dũ từng nói: “Lời thơ mà không làm người đọc kinh hãi thì có chết cũng không nguôi.”Và cái chết của Cao Chu Thần chẳng phải mới đúng hết cái ý nghĩa của hai tiếng “phản động”có người lỡ gán cho ta đấy sao? Tiếc thay bọn ngươi đua nhau ca tụng Nguyễn Du với nàng Kiều, chẳng qua choáng ngợp bởi thi tài lục bát siêu tuyệt mỹ miều nên thỏa mãn với cái mặc cảm làm đĩ tưởng như là của mình, tưởng như là của sĩ khí dân tộc mình, làm đĩ 15 năm mà vẫn tiết trinh, mà vẫn được chàng Kim yêu quý tôn thờ! Nói thật cùng ngươi, Văn tế thập loại chúng sinh mới thật là phần bồi đắp thêm cao đẹp của thi tài họ Nguyễn, khiến ta cũng phải xem là bậc quỷ thần vậy.
Bài thơ Thu lai của Lý Hạ có thể là tuyệt bút của quỷ tài quỷ thi chăng? Hai câu cuối người đọc rồi sẽ còn nghe ám ảnh dội mãi trong tâm khảm, rờn rợn, buốt lạnh, tức tưởi, ném hồn ta xuống đáy âm u , lại bốc hồn ta lên cõi rỗng không mù mịt. Nỗi đau niềm hận không lời nào tả nổi: Thu phần quỷ xướng Bão gia thi, Hận huyết thiên niên thổ trung bích. Sách thơ không người đọc? Thơ không người nghe ư? Thơ ngâm ngợi giữa ngày, trên thi đàn, giữa cờ hoa không phải thơ sao? Nỗi hận ngàn năm chôn vùi hóa ra ngọc đá, nỗi hận gì, hóa thành thơ chăng? Thời xưa đã thế, thời nay sao nào? Cuộc sống lắm người nhiều ma, bọn mất tính người hoành hành khắp nơi khắp chốn, vô cảm đã đành, vô sỉ tràn lan, nơi trường văn trận bút gian tà quỷ mị dương danh. Người người run sợ hồ nghi, chẳng dễ nhìn ra thực hư thiện ác…. Gò đống nào kia là nấm mồ thu đêm đêm quỷ hiện lên ngồi ngâm thơ, tiếng thơ vọng suốt đất trời thiên cổ? Tôi hốt nhiên rùng mình ớn lạnh. Dáng Lý Hạ cao lêu nghêu, eo nhỏ, mi dài, tay cầm bầu rượu, mờ mờ tỏ tỏ, như muốn bỏ đi. Trong tay tôi cuốn sách Lý Hạ, quỷ tài quỷ thi bỗng nặng trĩu run lên. Trời như sắp sáng mất rồi.
–Ta đi đây. Ta tởm bọn ma ngày…
Ôi ông Lý Hạ ơi, còn tôi đi đâu? Tôi là con ma hèn, ông cũng tởm tôi sao?…
Phụ lục:
1. Trích trong Lý Trường Cát gia thi của Lý Hạ một số câu thơ có chữ “quỷ”, theo Nguyễn Tôn Nhan “chỉ tình cờ đọc lướt vài bài” ghi lại trong phần Lời bạt, ở trang 197 sách nói trên của Huỳnh Ngọc Chiến:
– Ngao ngán quỷ mẫu thu gian khốc
(Rên xiết mẹ quỷ khóc ngoài thu)
– Thu phần quỷ xướng Bão gia thi
(Bên mồ thu quỷ đọc thơ nhà họ Bão)
– Quỷ đăng như tắt điểm tùng hoa
(Đèn quỷ như sơn điểm hoa tùng)
– Quỷ vũ sái không thảo
(Mưa quỷ rửa cỏ không)
– Hải thần sơn quỷ lai tỏa trung
Hô tinh chiêu quỷ hâm bôi bàn
(Thần biển quỷ núi đến trong nhà
Gọi sao vời quỷ đến hưởng bàn rượu)
2. Bài Thu lai cùng với dịch nghĩa và dịch thơ của tác giả Huỳnh Ngọc Chiến:
THU LAI
Đồng phong kinh tâm tráng sĩ khổ
Xu đăng lạc vĩ đề hàn tố
Thùy khan thanh giản nhất thiên thư
Bất khiển hoa trùng phấn không đố
Tư khiên kim dạ trường ưng trực
Vũ lãnh hương hồn điếu thư khách
Thu phần quỷ xướng Bão gia thi
Hận huyết thiên niên thổ trung bích
Dịch nghĩa:
MÙA THU ĐẾN
Ngọn gió thổi qua cây ngô đồng làm lòng người kinh sợ, tráng sĩ thêm khổ tâm
Bên ngọn đèn hiu hắt, tiếng con vạc sành gợi nhớ đến áo mùa lạnh
Có ai xem thấy một cuốn sách, chẳng có người đọc để cho mối mọt ăn nát thành bột
Đêm nay (khi nghĩ đến cảnh đó) mà thêm đau lòng
Mưa lạnh, mảnh hồn thơm viếng điếu người làm ra sách
Trên nấm mộ mùa thu, tiếng qu3y ngâm nga thơ Bảo gia
Máu hận ngàn năm ngấm vào đất và biến thành ngọc đá
Dịch thơ:
Gió thổi ngô đồng lòng run sợ
Đèn mờ, vạc sành gợi lạnh giá
Ai thấy tre xanh, cuốn sách xưa
Chẳng đuổi mọt ăn nát lả tả?
Đêm nay nghĩ đến lòng quặn đau
Mưa lạnh hồn thơm điếu khách lạ
Quỷ đọc thơ trên nấm mộ thu
Máu hận ngàn năm thành ngọc đá
Và bài dịch thơ của nhà thơ Tuệ Sĩ:
Gió heo may rợn hồn tráng sĩ,
Lạnh se da, dế rỉ, đèn lu.
Giở trang bóng chữ lờ mờ
Mấy rây mọt phấn ơ hờ điểm hoa.
Buồn ray rứt kéo ra ruột thẳng,
Khóc người thơ, mưa lạnh hồn ma;
Tanh hôi giọng quỷ trên gò,
Máu hờn thiên cổ xanh mồ cỏ thu.
* Mùa Vu Lan 2006