Nguyễn Ánh và sự kiến tạo dân tộc Việt Nam – một đối thoại từ lý luận của Stalin
“Nguyễn Ánh — “kẻ phản bội” trong huyền thoại cách mạng — nhưng dưới ánh sáng lý thuyết dân tộc của Stalin, ông góp phần làm nên dân tộc Việt Nam. Ông là “con của cõi trời”, “vua của cõi người”1, một biểu tượng đầy nghịch lý – trong xã hội Việt Nam đương đại.
Tóm tắt
Khoa học lịch sử Việt Nam đã nỗ lực vượt khỏi định kiến, chủ nghĩa giáo điều để cắt nghĩa rành rọt hơn về Gia Long và vương triều Nguyễn. Ông từ kẻ phản bội, đến một vị vua khai quốc, một hoàng đế đã: “tạo dựng được một vương triều hoàn toàn độc lập, không chấp nhận lệ thuộc ngoại bang, thậm chí quay lưng với đồng minh cũ một cách quyết liệt …”2.
Nhưng trong xã hội Việt Nam đương đại, hình tượng Nguyễn Ánh (vua Gia Long) bị bao phủ bởi những tranh cãi đạo đức – chính trị: Người xem ông là kẻ “phản bội dân tộc”, người khác coi ông là “người thống nhất giang sơn”. Thay vì tiếp tục lặp lại hai cực ấy, nghiên cứu này đặt lại câu hỏi từ một góc nhìn: Liệu có thể nói Nguyễn Ánh “phản bội dân tộc”, khi khái niệm dân tộc – theo nghĩa Marxism – chưa tồn tại tại Việt Nam vào cuối TK XVIII? Cơ sở đối thoại trong bài viết này là lý luận “Dân tộc” của Joseph Stalin (1913) được xuất bản trong tác phẩm Marxism and the National Question.
Để hỗ trợ cho lý luận của J. Stalin, chúng tôi đối sánh với lý luận Dân tộc Kinh điển của Ernest Renan, Benedict Anderson, mô hình xã hội nông nghiệp của Ernest Gellner, lý thuyết tộc người của Anthony D. Smith và đặc biệt là tiểu luận Làng – Liên Làng – Siêu Làng của Gs Hà Văn Tấn.
Bằng cách đối chiếu lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XVIII–đầu XIX với định nghĩa dân tộc của Joseph Stalin (1913), cùng các lý luận kinh điển về Dân tộc, chúng tôi lập luận rằng: (1) Việt Nam trước 1802 mới ở giai đoạn Sắc tộc quý tộc bề ngang. (2) không tồn tại “chiến tranh giải phóng dân tộc” trong lịch sử Việt Nam trung đại. (3) cả phong trào Tây Sơn và hành động của Nguyễn Ánh không hành động dựa trên khái niệm “dân tộc” mà là một cuộc tranh đoạt thiên mệnh – thiên hạ. (4) công cuộc thống nhất năm 1802 mới tạo các điều kiện vật chất để hình thành dân tộc Việt Nam theo tiêu chí của Stalin.
Dẫn luận
Hình tượng vua Gia Long (Nguyễn Ánh) là trung tâm của cuộc tranh cãi lịch sử dai dẳng và phân cực. Các diễn ngôn cách mạng truyền thống kết án ông là kẻ “phản bội dân tộc” (rước ngoại bang can thiệp nội bộ), là biểu tượng cho việc “tiêu cực thắng tích cực”. Mặt khác, các nghiên cứu lịch sử từ sau năm 1986 nỗ lực tái định vị ông như một người dẫu có nhiều hạn chế nhưng là “vị vua khai quốc”, người thống nhất giang sơn và tái cấu trúc lãnh thổ. Tuy giới hàn lâm đã cởi mở, nhưng dư luận xã hội vẫn chưa thoát khỏi cái bóng của cáo buộc đạo đức: Nguyễn Ánh đã phản bội dân tộc.
Nghiên cứu này không lặp lại hai cực đối lập trên, thay vào đó, chúng tôi đặt lại câu hỏi từ một góc nhìn căn bản, mang tính tiên quyết về mặt lý luận: Liệu có thể nói đến hành vi “phản bội dân tộc” khi khái niệm Dân tộc (Nation) – hiểu theo nghĩa hiện đại – chưa tồn tại vào thời điểm lịch sử đó (cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX)?
Phương pháp luận và mục tiêu
Chúng tôi chọn lý luận Dân tộc của Joseph Stalin không phải vì đó là chân lý tối thượng của khoa học chính trị, mà vì đó là thước đo tiêu chuẩn, công cụ lý luận mà sử học Việt Nam sử dụng để tìm thời điểm ra đời của dân tộc Việt Nam. Do đó, việc vận dụng lý luận của Stalin không nhằm tìm kiếm chân lý cuối cùng, mà nhằm đặt các hiện tượng lịch sử khác nhau vào cùng một hệ quy chiếu để có thể so sánh và phân tích một cách nhất quán.
Lý luận về Dân tộc của Joseph Stalin (1913) được trình bày trong Marxism and the National Question. Việc sử dụng hệ quy chiếu này cho phép chuyển cuộc tranh luận từ phán xét đạo đức sang phân tích khoa học dựa trên các tiêu chí rõ ràng như: kinh tế, lãnh thổ, ngôn ngữ và văn hóa.
Phương pháp này được củng cố bằng việc đối chiếu với các học thuyết về dân tộc, sắc tộc của Ernest Renan, Benedict Anderson, Ernest Gellner, hay Anthony D. Smith cùng tiểu luận kinh điển “Làng – Liên Làng – Siêu Làng” của Gs Hà Văn Tấn. Khảo sát thực chứng các nguồn sử liệu thời Trung đại (như Lam Sơn Thực Lục, Khâm Định Việt Sử, Lịch triều tạp kỷ, Đại Nam thực lục, Hành trình của Pierre Poivre tại Đàng Trong…). Thông qua đó, chúng tôi đề xuất phân kỳ lịch sử hình thành dân tộc Việt Nam theo các bước: Quý tộc sắc tộc bề ngang, Pre-Nation và Nation.
Nghiên cứu này được gợi mở từ những trăn trở/đổi mới tư duy của các nhà sử học tiền bối, tiêu biểu là Gs. Phan Huy Lê. Gs từng nhận định: khoa học lịch sử Việt Nam từng “vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử phạm những sai lầm của chủ nghĩa giáo điều, công thức, máy móc”.
Luận đề và cấu trúc
Nghiên cứu tập trung giải quyết 5 luận điểm chính:
Từ nghiên cứu này, chúng tôi đưa ra kết luận: Vua Gia Long, thông qua việc thống nhất lãnh thổ, tái cấu trúc hành chính, thiết lập đời sống kinh tế chung năm 1802, đã tạo ra các điều kiện vật chất cho sự ra đời của Dân tộc Việt Nam hiện đại.
1.1 Từ nguyên Dân tộc, sắc tộc và cách hiểu từ phía người Việt
Trái với tưởng tượng rằng Dân tộc là một phạm trù – khái niệm có sẵn, bất biến trong lịch sử Việt Nam, thì đây là một sáng tạo của người Nhật Bản. Vào kỷ nguyên Minh Trị, người Nhật đã dùng từ dân (民) và từ tộc (族) để chuyển ngữ Nation. Khái niệm Dân tộc (Nation) truyền sang Trung Hoa, rồi từ Trung Hoa theo Tân thư vào Việt Nam. Đến lúc này người Việt mới bất đồ nhận ra ý niệm về một dân tộc Việt Nam (hoặc An Nam). Phan Bội Châu là một trong những người đầu tiên nắm lấy lý thuyết này để tiến hành cách mạng. Đó gọi là cách mạng giải phóng dân tộc.
Về mặt từ nguyên. Tại phương Tây, thuật ngữ Nation được bắt nguồn từ tiếng Latinh là natio. Có nghĩa là một cộng đồng người chung nguồn gốc, một tập hợp dân chúng chung xuất xứ. Chẳng hạn danh tướng – chính khách La Mã là Julius Caesar khi thảo luận về các nghi lễ tôn giáo của người Gaul đã viết như sau: “Toàn bộ những người Gauls đều hết sức mình với những nghi lễ tín ngưỡng …”3.
Trong văn hiến cổ Trung Hoa, khái niệm dân tộc (民族) cũng được sử dụng theo nghĩa như vậy. Trong bài “Di Hạ Luận” (được Tiêu Tử Hiển chép lại trong Nam Tề Thư), Cố Hoan đã nói: “Kim chư hoa sĩ nữ dân tộc phất cách nhi lộ thủ thiên cứ”4 nghĩa là: “Nay các nam nữ quý tộc người Hoa, dân tộc chẳng đổi mà để đầu trần ngồi nghiêng lệch”. Ý của Tiêu Tử Hiển chê kẻ có học thức người Hoa giờ lại theo phong tục của Hồ để đầu trần, ngồi nghiêng ngả xô lệch. Trong Thái Bạch Âm Kinh của Lý Toàn, có câu: “Kẻ ngu si mà có được nó, sẽ làm nghiêng đổ tông miếu xã tắc, diệt dân tộc”5.
Như vậy nghĩa của Dân tộc (民族 – Nation) trong các khái niệm cổ xưa cả Đông và Tây đều được hiểu là đám đông, dân chúng chung một xuất xứ (people hoặc group of people), chứ chưa mang ý niệm Dân tộc – Quốc gia có chủ quyền như thời hiện đại (Nation – State).
Để phân biệt rõ với Dân tộc, khoa học phương Tây dùng khái niệm Sắc tộc (Ethnie). Ethnie là một thuật ngữ tiếng Pháp được bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là Ethnos. Ethnos nghĩa là một nhóm đồng đội, một nhóm người đồng chủng, dần dần khái niệm này được mở rộng ra. Anthony D. Smith cho biết trong cách sử dụng ethnos có “mẫu số chung dường như ý thức về một số người hoặc động vật sống cùng nhau và hành động cùng nhau mặc dù không nhất thiết phải thuộc cùng một thị tộc hoặc bộ lạc”6
Theo Anthony D. Smith, các cộng đồng tộc người có (nhưng không nhất thiết đầy đủ) 6 cấu phần, gồm: danh xưng tập thể, huyền thoại phổ quát về nguồn gốc, một lịch sử chung, nền văn hóa chung đặc thù, liên kết với một lãnh thổ cụ thể, ý thức về tinh thần đoàn kết. Chính nhờ 6 cấu phần này mà tộc người có thể phát triển thành dân tộc. Anthony D. Smith cho rằng “các cộng đồng tộc người không là gì cả nếu không phải là những cộng đồng lịch sử được xây dựng trên những ký ức được chia sẻ (tức là những ký ức chung). Ý thức về một lịch sử chung gắn kết các thế hệ kế tiếp nhau …” 7.
Tuy nhiên rắc rối nảy sinh khi khái niệm “Dân tộc” trong tiếng Việt ngày nay phải gánh hai nghĩa chồng chéo.
+ Nghĩa Nation-State: Dân (民) người trong một quốc gia. Tộc (族) chung một cội nguồn huyết thống, chung một văn hóa. Như vậy, Dân tộc có nghĩa là người trong một nước, chung một không gian văn hóa, chung một cội nguồn. Người Trung Quốc ngày nay dịch Nation thành Quốc tộc (國族).
+ Nghĩa tộc người: Ethnic group, hoặc Ethnicity (sắc tộc). Cách hiểu này đưa đến sự hình thành các khái niệm: dân tộc Hán, dân tộc Miêu… ở Trung Quốc. Ở Việt Nam là dân tộc Kinh, dân tộc Mường, dân tộc Thái, dân tộc Mạ …
Chính sự nhập nhằng này đã tạo ra bẫy tư duy, khiến nhiều người dễ dàng đánh đồng sự tồn tại lâu đời của Sắc tộc Kinh với sự tồn tại của Dân tộc Việt Nam (theo nghĩa Nation). Để tránh sự ngộ nhận này, chúng ta sẽ tham chiếu với sự hình thành của lý thuyết Dân tộc – quốc gia hiện đại.
1.2. Năm 1882, Ernest Renan: dân tộc và “Nguyên lý tinh thần”
Ngày 11 tháng 3 năm 1882, tại Đại học Sorbonne, trong tiểu luận “Qu’est-ce qu’une nation?”, Ernest Renan đưa ra định nghĩa về “dân tộc”: “Dân tộc là một tâm hồn, một nguyên lý tinh thần. Có hai yếu tố, thực ra chỉ như một, tạo nên tâm hồn hoặc nguyên lý tinh thần này. Một nằm trong quá khứ, một trong hiện tại. Cái này là sự đồng sở đắc di sản ký ức phong phú; cái kia là sự thỏa thuận trong hiện tại, là lòng mong muốn được chung sống, là ý chí biến giá trị kế thừa, giá trị mà mỗi người đã tiếp nhận dưới hình thức trọn vẹn, trở nên bất diệt”8. Bản chất của dân tộc theo Ernest Renan là kiến tạo nên giá trị chung và … “quên” đi nhiều điều. Renan khi đặt ra câu hỏi Dân tộc là gì? Ông đã nói về Consent (đồng thuận) trong bối cảnh hậu Cách mạng Pháp, tức là sự đồng thuận của những Công dân tự do, dựa trên Khế ước xã hội. Dân tộc như Renan ví von (metaphor) là cuộc trưng cầu dân ý mỗi ngày – đây chính là nền tảng cho sự đồng thuận cùng sống chung, một thỏa ước giữa người dân và Nhà nước.
Đó là cái mà chúng ta gọi là tinh thần tự nhận, tức là ta tự nhận ta thuộc về cái quốc gia ấy, cái cộng đồng ấy. Vậy thì có hay không cái gọi là “sự đồng thuận sống cùng nhau” của cư dân Đại Việt từ thế kỷ XV? Về mặt bản chất, thời phong kiến của context Đông Bắc Á nhà vua là con trời (thiên tử) – với Nhật Bản còn là Thiên Hoàng. Dân chúng có trách nhiệm thần phục trước Thiên tử (hoặc Thiên hoàng). Họ là tài sản của Đế Vương, họ không có quyền lựa chọn … sống cùng nhau. Trong trường hợp không đồng thuận với nhà vua họ chỉ có một phương án duy nhất … làm loạn với tinh thần … “được làm vua, thua làm giặc” và sẽ chịu trừng phạt bởi uy trời. Biểu dâng tấu xin vua Lê Cảnh Hưng xuất binh, bình Tây nhằm vào cuộc nổi dậy của Nguyễn Danh Phương, chúa Trịnh Doanh nói: “Kỳ này giặc Ngũ ở cõi Tây làm trái đạo trời, làm hại dân địa phương, cần phải kể tội đem quân đến đánh … Xin đem uy trời, trừ diệt kẻ hung bạo để thu công đại định”9.
Sự gắn kết của quốc gia Đại Việt về bản chất là lòng trung thành cưỡng bức của thần dân, không phải là ý chí tự nguyện của công dân trong một Dân tộc (Nation). Hoàng gia, hay tầng lớp tinh hoa, kết nối các xã hội bên dưới (các làng) bằng quyền uy của Thiên mệnh (Vua là Thiên Tử, người có thể sắc phong cho cả thần thánh). Người dân trung thành với Thiên tử bằng sự sợ hãi (trước uy trời) và kính ngưỡng (trước đức lớn), chứ không phải bằng một khế ước xã hội hay ý nguyện chung sống bình đẳng. Như vậy theo Renan, chưa thể có dân tộc Việt Nam thời phong kiến (Dân tộc Tiền Tư Bản).
1.3. Năm 1913, J. Stalin: “Thước đo vật chất văn hóa” của dân tộc
Chủ nghĩa Mác cũng đưa ra lý luận dân tộc của riêng mình. Năm 1913, trong “Marxism and the National Question”, Joseph Stalin đưa ra định nghĩa dân tộc như sau: “Dân tộc là một cộng đồng người ổn định được tạo lập trong lịch sử, nó được hình thành trên cơ sở đời sống kinh tế chung, lãnh thổ chung, ngôn ngữ chung, và bản chất tâm lý thể hiện qua một nền văn hóa chung”10. Ông nhấn mạnh: “không một đặc điểm nào trong số những đặc điểm trên nếu xét riêng lẻ sẽ đủ để định nghĩa một dân tộc. Hơn thế, chỉ thiếu đi một trong những đặc điểm này thì không thể gọi là dân tộc được nữa”11.
Soi chiếu vào Việt Nam: Đây chính là “bức tường đồng” chặn đứng quan điểm “dân tộc hình thành sớm”. Bởi lẽ, trong thời Trung đại ở Việt Nam xã hội luôn tồn tại sự tương phản sâu sắc giữa một bên là người Kinh, một bên là các sắc tộc bên rìa; thậm chí là sự phân chia Kinh và Trại. Thật khó có thể hình dung những tuyên ngôn Hán nhân, trung châu (đất cư trú của người Kinh Lộ) lại thể hiện bản chất một nền văn hóa chung với người Trại (tức là vùng Thanh Nghệ, vùng đồi núi thấp bao lấy phía Tây – Tây Nam châu thổ sông Hồng.
Chúng ta cũng thấy sự khác biệt hoàn toàn giữa vùng đất Thiên Trường – Tức Mặc (hành đô của nhà Trần) với vùng đất Hoa Lư. Bên Thiên Trường thì người dân vui với phong tục cổ những năm thái bình: “Tức Mặc hành đô cổ Giản Triền/Dân hi tục cổ thái bình niên”12. Giản và Triền là tên hai con sông chảy qua Lạc Dương (tỉnh Hà Nam, Trung Quốc), vốn là vùng đất kinh kỳ của nhà Chu. Phạm Sư Mạnh ví Tức Mặc (quê hương nhà Trần) với vùng đất văn vật thiêng liêng của Trung Hoa cho thấy ý thức tự hào về dòng dõi và văn hiến – văn hóa của người Kinh Lộ. Ở Hoa Lư – Trường Châu, theo lời Nguyễn Phi Khanh vẫn là “tục tạp Liêu Di dân thái cổ”13. Ở đây, Liêu Di (獠夷) là khái niệm trong văn hiến Hán dùng để chỉ một số sắc dân ngoại biên chưa được “giáo hóa”. Trong đó, “Liêu” (hay Lão -獠) thường chỉ các nhóm cư dân thuộc ngữ hệ Thái – Kadai; “Di” (夷)chỉ các nhóm tộc người phi Hán ở phía Đông, Nam/Tây Nam, Trung Quốc, sống chủ yếu bằng săn bắn.
Việc Phạm Sư Mạnh coi đất Thiên Trường như vùng kinh kỳ nhà Chu; Nguyễn Phi Khanh mô tả dân chúng vùng Hoa Lư (cố đô xưa) mang tục “Liêu Di” cho thấy sự khác biệt văn hóa sâu sắc giữa vùng Kinh Lộ với vùng đất chỉ đó không xa. Điều này củng cố luận điểm của chúng tôi về sự thiếu hụt “nền văn hóa chung” thống nhất trong thời kỳ trung đại tại Việt Nam. Chưa phải đã hết, trong chính sắc tộc người Kinh cũng có sự phân chia sâu sắc bởi Nam – Bắc triều, Đàng Trong – Đàng Ngoài. Chúng tôi cho rằng chính sự thiếu hụt về tiêu chí lãnh thổ thống nhất, bản chất tâm lý thể hiện qua một nền văn hóa chung đã dẫn tới cuộc thảo luận của giới sử học về vấn đề Dân tộc Việt Nam hình thành vào thời điểm nào dần đi vào ngõ cụt. Lý thuyết Dân tộc của J. Stalin đã dựng “tường đồng vách sắt” chặn lại mọi nỗ lực về mốc ra đời sớm của dân tộc Việt Nam (Dân tộc Tiền Tư Bản).
1.4. Benedict Anderson (1983): Dân tộc là một cộng đồng tưởng tượng
Benedict Anderson trong Những cộng đồng tưởng tượng đã cho rằng Eric Hobsbawn hoàn toàn chính xác khi khẳng định: “các phong trào và nhà nước Marxist có xu hướng mang tính dân tộc không chỉ ở hình thức mà ở cả bản chất, tức là đã mang tính dân tộc chủ nghĩa”14. Trên tinh thần nhân học, ông đưa ra định nghĩa dân tộc như sau: “Nó là một cộng đồng chính trị tưởng tượng và được tưởng tượng như vốn dĩ vừa hữu hạn (limited) vừa có chủ quyền (sovereign)”15. Anderson tiếp tục lý giải, tính tưởng tượng của dân tộc: “dân tộc được tưởng tượng ra vì thành viên của ngay cả những dân tộc nhỏ bé nhất cũng sẽ không hề biết tới phần lớn các thành viên đồng bào của mình…”16
Soi chiếu vào Việt Nam. Ở thời trung đại, một nông dân ở vùng đất Trại (Thanh Hóa) không thể biết và không thể có ràng buộc trách nhiệm, tình cảm với nông dân, hay một thương gia đất Kinh Lộ (châu thổ sông Hồng). Thậm chí, chúng ta bắt gặp tuyên ngôn của Lý Thái Tổ cho thấy người Diễn Châu là một thực thể khác với Thăng Long, họ “không tuân giáo hóa”, “ngu bạo làm càn”, “tàn ngược chúng dân”17. Những tình cảm nồng nàn mà ta thấy trong văn thơ Việt Nam trung đại thực chất là lòng yêu quê hương hoặc lòng trung quân, chứ chưa phải là ý thức Dân tộc (Nationalism) được phổ cập toàn dân.
Tiểu kết: Việc làm rõ các tầng nghĩa phức tạp của khái niệm dân tộc (từ khái niệm gốc Latinh đến thuật ngữ Hán Nhật và các định nghĩa chặt chẽ của phương Tây (Renan, Stalin, Anderson), khái niệm sắc tộc (Ethnie) là quan trọng. Nó cho thấy “dân tộc” không phải là một thực thể vĩnh hằng, hiển nhiên, tự nhiên sinh ra mà là một khái niệm được kiến tạo và mang tính lịch sử. Và dân tộc không phải là sắc tộc.
Với bộ công cụ lý luận này, chúng ta quay lại với bối cảnh lịch sử: Việt Nam cuối thế kỷ XVIII. Một câu hỏi mang tính tiên quyết: Dựa trên tiêu chí chủ nghĩa Mác về một dân tộc hiện đại, đến cuối thế kỷ XVIII, một thực thể mang tên “Dân tộc Việt Nam” đã tồn tại hay chưa? Đây chính là chìa khóa để đánh giá vai trò thực sự của Nguyễn Ánh—không phải với tư cách là kẻ “phản bội” một dân tộc đã có sẵn, mà là người đã kiến tạo những nền tảng cho sự hình thành của dân tộc đó. Tuy nhiên, trước khi đi đến lời giải đó, chúng ta cần nhìn lại xem giới sử học Việt Nam đã từng loay hoay như thế nào trước nan đề thời điểm ra đời của Dân tộc Việt Nam.
Câu hỏi về thời điểm ra đời của Dân tộc Việt Nam không phải là vấn đề mới. Với nền sử học XHCN, có hai luồng quan điểm khác nhau. Luồng quan điểm thứ nhất cho rằng Dân tộc Việt Nam ra đời từ thời kỳ Phong kiến tự chủ. Luồng quan điểm thứ 2 cho rằng Dân tộc Việt Nam ra đời vào thời hiện đại (năm 1945).
2.1. Những nỗ lực định vị đầu tiên: Từ Đào Duy Anh đến Trần Huy Liệu
Năm 1956, trong Tập san Đại học Sư Phạm số 4, 5, Đào Duy Anh cho rằng: “… ở nước ta dân tộc đã hình thành ngay trong khuôn khổ của chế độ phong kiến, và trải qua quá trình hình thành dần dần trong những cuộc đấu tranh chống phong kiến, Trung- quốc để bảo vệ quyền tự chủ, đến sau cuộc chiến thắng quân Minh, dân tộc đã trưởng thành với nhà Lê”18. Nguyễn Lương Bích cho rằng “khối dân tộc Việt Nam được củng cố ngay từ thế kỷ 10 và 11”19. Trong khi đó Trần Huy Liệu cho rằng Dân tộc Việt Nam ra đời vào thế kỷ 18, ông viết: “Trong một bài trước, chúng tôi mới nói dân tộc Việt-nam hình thành vào quãng thế kỷ thứ 18, khi mà những phe phong kiến từ chỗ cát cứ, phân tranh đến thống nhất lãnh thổ trọn vẹn từ Bắc đến Nam… ”20. Cụ thể hơn Trần Huy Liệu cho rằng Dân tộc Việt Nam ra đời từ vương triều Tây Sơn.
Bám sát lý luận dân tộc của Stalin, Hoàng Xuân Nhị cho rằng dân tộc Việt Nam ra đời sau Cách mạng tháng 8/1945: “Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt-nam Dân chủ Cộng hoà ra đời dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, của Đảng Cộng sản Đông dương, của Hồ Chủ tịch, đánh dấu sự thành hình đầy đủ của dân tộc Việt-nam. Xiềng xích thống trị của đế quốc thực dân câu kết với phong kiến bị phá tung. Thoát khỏi hệ thống kìm hãm tàn nhẫn biết bao lâu, nhân dân ta, từ Bắc đến Nam trong quá trình đấu tranh vô cùng gian khổ để hình thành dân tộc, như cây trời hạn gặp mưa, vụt lớn lên rất nhanh, các lực lượng tiềm tàng đều vươn mạnh lên, dân tộc Việt-nam phơi phới nở hoa”21.
2.2. Hội thảo 1980: Khi thực tế đâm sầm vào lý thuyết
Năm 1980, kỷ niệm 20 năm thành lập, Viện Sử học đã có “cuộc thảo luận về vấn đề hình thành dân tộc Việt Nam”. Khung lý thuyết cho buổi thảo luận này là lý thuyết dân tộc của J. Stalin (1913). Tại thảo luận có hai hai luận điểm, luận điểm thứ nhất cho rằng dân tộc Việt Nam được hình thành sớm, thế kỷ thứ X, XV hoặc XVIII. Luận điểm thứ 2 phủ định sự hình thành dân tộc trước Cách mạng tháng 8 năm 1945. Trong báo cáo Hội thảo hình thành Dân tộc Việt Nam, GS Phan Huy Lê đã rất tinh tế khi dùng cụm uyển ngữ: “có người phủ nhận sự hình thành dân tộc trước Cách mạng tháng 8 năm 1945”22. Tổng kết thảo luận, Gs Phan Huy Lê cho biết: “Mọi người tham luận và phát biểu ý kiến trong cuộc hội thảo này đều tỏ ý tán thành với nhận định dân tộc Việt Nam hình thành sớm trước chủ nghĩa tư bản”23. Một lần nữa, ta thấy Gs Phan Huy Lê tinh tế khi … tiếp tục sử dụng uyển ngữ “tỏ ý tán thành” chứ phải là kết luận vấn đề. Ông khuyến cáo: “để giải quyết vấn đề một cách thực sự khoa học, chúng ta còn đứng trước hàng loạt vấn đề lý luận và thực tế lịch sử dân tộc cần phải tiếp tục nghiên cứu sâu hơn nữa, thảo luận rộng hơn nữa”24.
Báo cáo Hội thảo hình thành Dân tộc Việt Nam của Gs Phan Huy Lê.
(Nguồn ảnh: Gs. Liam Kelley)
Trong “Về quá trình dân tộc của lịch sử Việt Nam”, Gs Phan Huy Lê viết: “Dân tộc Việt Nam ra đời trong thời kỳ chế độ phong kiến đang hình thành và xác lập. Trong thời gian đó, giai cấp phong kiến đã có một thời đại diện cho dân tộc và giữ vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ đất nước”25. Tuy nhiên Gs không quên lưu ý rằng: “Cùng với thắng lợi của cách mạng Tháng 8 năm 1945 và đặc biệt là thắng lợi của việc hoàn thành cách mạng dân tộc – dân chủ trên cả nước năm 1975. Việt Nam dần dần bước vào thời kỳ hình thành dân tộc xã hội chủ nghĩa”26.
2.3. Khi nhà sử học “lãng mạn hóa” một giai đoạn lịch sử
Một trong những trở lực khiến việc nhận diện thời điểm ra đời của dân tộc Việt Nam trở nên mơ hồ chính là sự “lãng mạn hóa” của giới sử học. Trong “Về quá trình dân tộc của lịch sử Việt Nam”, Gs Phan Huy Lê lập luận ở thế kỷ XVIII, “dù đất nước bị chia cắt về mặt nhà nước, nhưng những người dân Việt Nam… đều coi nhau là đồng bào ruột thịt cùng một cội nguồn, chung một vận mệnh”27. Ông viện dẫn nhận xét của thương nhân Pierre Poivre thế kỷ XVIII về việc người Đàng Trong – Đàng Ngoài “đều nói chung một ngôn ngữ, theo cùng một phong tục” để chứng minh cho sự thống nhất. Theo chúng tôi, Gs Phan Huy Lê đã chú trọng quá nhiều vào chiều kích văn hóa tộc người (Ethnie) mà đồng nhất nó với khái niệm Dân tộc (Nation).
– Về lý luận: “tình cốt nhục”, “chung phong tục” mà Gs mô tả là đặc điểm của một Ethnie (Cộng đồng tộc người/văn hóa) theo định nghĩa của Anthony D. Smith. Nó là mối liên kết dựa trên huyết thống và ký ức văn hóa. Mối liên kết này hoàn toàn khác Nation – một kiến trúc thượng tầng chính trị đòi hỏi sự thống nhất về lãnh thổ, thị trường, hành chính và văn hóa (theo Stalin) hay sự cam kết chính trị, tinh thần cùng sống chung của công dân (theo Renan).
– Về thực tế: Truy cập vào văn bản gốc “Mô tả xứ Đàng Trong”, ta thấy Pierre Poivre nói người Đàng Trong hãnh diện vì gốc tích Đàng Ngoài. Nhưng họ cũng căm ghét Đàng Ngoài: “hễ gặp nhau là giết bất kể thời chiến hay thời bình”, “cấm nhắc đến tên nhau”28. Kính trọng Đàng Ngoài vì đó cũng là gốc tích của cư dân Đàng Trong, đây là phạm trù tâm lý thuộc Ethnie. Về quốc gia (Nation) thì Đại Việt đã bị xé làm hai, thậm chí người Đàng Trong thù giết người Đàng Ngoài. Một “Dân tộc” không thể tồn tại khi người dân hai Đàng nộp thuế cho hai chính quyền khác nhau; căm ghét, thù giết lẫn nhau.
Như vậy, quan điểm của Gs Phan Huy Lê chỉ nói lên sự tồn tại bền vững của người Kinh như một thực thể văn hóa – một sắc tộc (chung một nguồn gốc), chứ không thể chứng minh sự tồn tại của nước Việt Nam – dân tộc Việt Nam như một thực thể chính trị thống nhất vào thế kỷ XVIII. Sự thống nhất “tâm hồn” mà Gs nói không thể thay thế cho sự chia cắt “vật chất”. Và chính Gia Long là người đã hàn gắn sự chia cắt vật chất ấy để cái “tình cốt nhục” kia có một ngôi nhà chung thực sự mang tên Việt Nam – dân tộc Việt Nam.
2.4. Góc nhìn từ bên ngoài: Chủ nghĩa dân tộc trong vỏ bọc Mác-xít
Khá lý thú là tại Việt Nam xuất hiện những khái niệm đặc biệt: “Dân tộc tiền Tư bản” và “Dân tộc Xã hội chủ nghĩa”. Có lẽ đây là cách định danh để hợp lý hóa mốc thời điểm ra đời của dân tộc Việt Nam trong thời phong kiến? Sự lúng túng và cả tinh tế trong sử dụng uyển ngữ, việc hình thành các khái niệm đặc biệt cho thấy nội lực của nền khoa học lịch sử Việt Nam chưa đủ sức phân tầng các khái niệm Dân tộc (Nation), Pre-Nation, hay sắc tộc (Ethnie), … Năm 2008, Gs Phan Huy Lê than thở về “tình trạng bế tắc trong một thời gian kéo dài chính là hệ quả của sự vận dụng thiếu sáng tạo lí thuyết về dân tộc theo mô hình phương Tây”29.
Sự lúng túng và những nỗ lực “hợp lý hóa” lịch sử của giới học thuật Việt Nam không chỉ là câu chuyện nội bộ, mà đã được các nhà sử học quốc tế nhận diện rõ ràng. Trong công trình A Global History of Modern Historiography (Lịch sử biên niên sử hiện đại toàn cầu), các tác giả Georg G. Iggers và Q. Edward Wang đã chỉ ra một thực tế thú vị: Các nhà sử học Mác-xít Việt Nam phải thực hiện những cuộc “phẫu thuật” lý thuyết đầy đau đớn để dung hòa giữa giáo điều Stalin và niềm tự hào dân tộc.
Theo đó, để thoát khỏi cái bóng của sử học thực dân (vốn coi Việt Nam là bản sao “kém cỏi” của Trung Hoa) và khẳng định tính độc lập, sự trường tồn của Dân tộc, giới sử học Marxism đã phải điều chỉnh mô hình 5 giai đoạn (Công xã nguyên thủy, Chiếm hữu nô lệ, phong kiến (hoặc nông nô), Tư Bản, Xã hội chủ nghĩa/Cộng sản chủ nghĩa của J. Stalin:
Georg G. Iggers và Q. Edward Wang kết luận: “Sự trường tồn về Lịch sử là điều mà họ (tức là các sử gia miền Bắc Việt Nam) mong muốn bởi nó chứng minh rằng trái ngược với tuyên bố của các nhà Đông phương học và các sử gia thời tiền chiến, Việt Nam không phải là thuộc địa văn hóa của Trung Quốc, và rằng người Việt không những có thể mà trên thực tế đã thiết lập nhà nước độc lập thậm chí còn sớm hơn cả người Trung Quốc. Do đó, luận điểm mong manh của Ngô Sĩ Liên về sự thành lập nước Văn Lang Việt Nam năm 2879 TCN vẫn khá hấp dẫn, thúc đẩy cả các nhà sử học và khảo cổ học ở Việt Nam ngày nay tìm kiếm bằng chứng để ủng hộ nó”30. Các di chỉ Khảo cổ học Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn được sử dụng như là bằng chứng cho Đại tự sự Việt Nam bốn ngàn năm lịch sử. Họ tưởng tượng ra các phong trào chống Hán xâm lược với tinh thần Dân tộc nồng nàn (như Bà Trưng, Bà Triệu …) mà ít đề cập tới sự hiện diện của người Hán tại Châu thổ sông Hồng, sông Mã, sông Cả, những người mà sau này đã góp phần làm nên tiếng nói – phong tục, tinh thần người Kinh.
Thực tế, khắc nghiệt thay, buộc giới sử học Việt Nam đã phải điều chỉnh Đại tự sự dân tộc bằng một diễn ngôn mơ hồ không kém: “Nước ta có vài ngàn năm lịch sử” với cái mốc: “Đến đời Trang Vương nhà Chu (696-682 trước Công nguyên-ND) ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật qui phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương đóng đô ở Văn Lang, đặt quốc hiệu là Văn Lang, phong tục thuần lương chơn chất, chính sự dùng lối thắt gút”31.
Như vậy, cái gọi là “Dân tộc 4000 năm lịch sử” hay những tranh luận chưa thể kết luận tại Hội thảo 1980 thực chất là hệ quả của một quá trình kiến tạo lịch sử trong thế kỷ XX. Nó là nỗ lực dùng quá khứ để phục vụ cho nhu cầu chính trị hiện tại (chống thực dân – đế quốc) hay đơn giản là … làm người Việt thấy vẻ vang hơn. Sự bế tắc khi ứng dụng lý luận Stalin vào việc giải nan đề thời điểm ra đời của dân tộc Việt Nam là sự phản ảnh sự mâu thuẫn không khoan nhượng giữa Marxism và Nationalism. Những điều này càng củng cố luận điểm của chúng tôi: “Dân tộc Việt Nam” (Nation) chưa hề tồn tại ở thời Trung đại, mà chỉ đang được “phóng chiếu” ngược dòng thời gian bởi khao khát của hậu thế. Đó là những kiến tạo hậu kỳ.
Trước năm 1986, trong trào lưu phản đế phản phong, các nhà sử học chủ nghĩa Mác (Marxism), đã tìm ra một nhân vật, một triều đại mà họ có thể “bôi đen” một cách tuyệt đối, một người phản động tuyệt đối đó chính là Gia Long và vương triều Nguyễn. Vua Gia Long bị coi là kẻ phản bội dân tộc, một nhân vật triệt để phản diện, đối lập với vẻ đẹp toàn bích của Nguyễn Huệ – người anh hùng áo vải. Những lý lẽ này có lẽ được bắt đầu bởi diễn ngôn của Hồ Chí Minh? Trong “Lịch sử nước ta” (1941), ông viết:
Gia Long lại dấy can qua,
Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài.Tự mình đã chẳng có tài,
Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây.Nay ta mất nước thế này,
Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà,Khác gì cõng rắn cắn gà,
Rước voi giày mả, thiệt là ngu si”32.
Trong Báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam đọc tại Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Lao động Việt Nam, tháng 2 năm 1951, Trường Chinh cho rằng: phong trào Tây Sơn là “một cuộc vận động cách mạng của nông dân rộng khắp toàn quốc và có tính chất chống phong kiến phản động ở trong và ngoài nước”33. Trần Văn Giàu cho rằng chiến thắng của Gia Long trước Tây Sơn đồng nghĩa với “chiến thắng của phe phản động và phong kiến nhất trong cuộc nội chiến Việt Nam”. Trong “Sự phát triển của Tư tưởng ở Việt Nam từ Thế kỷ 19 đến Cách mạng tháng 8”, ông dẫn từ Lịch sử Việt Nam tập I (1971) như sau: “[Còn] triều Nguyễn là vương triều phong kiến cuối cùng dựng lên bằng một cuộc chiến tranh phản cách mạng nhờ thế lực xâm lược của nước ngoài. …. Triều Nguyễn là một vương triều tối phản động”. Ông khẳng định: “Một vương triều được dựng lên như thế, một tập đoàn phong kiến phản động cực đoan như tập đoàn Nguyễn, tất nhiên phải có in dấu thủ cựu, phản động trên cái ý thức mà nó sử dụng để làm vũ khí khí thống trị và trong các cách thức cụ thể mà nó giải quyết các vấn đề lớn được lịch sử để ra”34.
Những nỗ lực như vậy đã định hình nên một biểu tượng Gia Long kẻ phản bội dân tộc, một diễn ngôn chính trị về tính phản động, phi chính danh của vương triều Nguyễn. Tất nhiên hình ảnh những người nông dân, công nhân ủng hộ Việt Minh, Đảng Cộng Sản Việt Nam trở nên gần gũi với biểu tượng Nguyễn Huệ lãnh tụ của cách mạng nông dân. Quyền lực mới thấy bóng hình họ trong phong trào Tây Sơn, đúng hơn họ thấy phong trào Tây Sơn có trong họ. Về phía Gia Long, không thể đồng hóa được, họ gạt ông ra bên lề nhân tính. Nhưng sự thật thì vẫn là sự thật, năng lực kiến tạo của Nguyễn Ánh rõ ràng đến mức, ngay cả những sử gia Marxism tại Việt Nam cũng không thể phủ nhận.
Đọc “Cách mạng Tây Sơn”, chúng tôi không khỏi cảm thán cho tình cảnh “tiến thoái lưỡng nan” của nhà sử học Văn Tân. Một mặt, để trọn vẹn với lập trường giai cấp, ông phải tung ra những cáo buộc sấm sét: Nguyễn Ánh là “cõng rắn cắn gà nhà”, tâm địa không khác gì Lê Chiêu Thống, là “dâng đất đai tổ tiên cho ngoại quốc, còn hơn là để đất nước cho nhân dân”35 Nhưng với lương tri của một người làm sử, trót đọc nhiều sử liệu, ông đẩy mình vào một bi hài kịch. Sau khi kết án Nguyễn Ánh, Văn Tân đưa ra những con số minh oan lạnh lùng: cái giá bán nước, chỉ là 19 ông tây, 1.000 khẩu súng, 2 khẩu đại bác36!
Trang bìa cuốn: Cách mạng Tây Sơn của Văn Tân
Sự mâu thuẫn đạt đến mức trào phúng khi ông thừa nhận: quân đội của kẻ “phản động” Nguyễn Ánh được nông dân Nam Bộ – giai cấp cốt cán của cách mạng – “một lòng ủng hộ”, và sự giúp đỡ của phương Tây chẳng đáng kể là bao37. Ngòi bút của Văn Tân như bị giằng xé giữa hai thái cực: một bên là nghĩa vụ phải căm ghét, một bên là sự thật lịch sử không thể bẻ cong. Kết quả là ông vô tình vẽ nên chân dung Nguyễn Ánh không phải là kẻ nô lệ ngoại bang, mà là một nhà kiến tạo tài ba, chiến thắng bằng chính nội lực – điều mà ông, trớ trêu thay, đang cố gắng phủ nhận. Sự thừa nhận từ một sử gia Marxism đã củng cố luận điểm của chúng tôi: Nguyễn Ánh chiến thắng không phải nhờ ngoại bang, mà nhờ khả năng kiến tạo một “đời sống kinh tế chung” và khối đoàn kết vững chắc tại Gia Định – tiền đề cho Quốc gia thống nhất sau này.
Sau năm 1986, Việt Nam tiến hành Đổi Mới, đem lại không gian cởi mở hơn trong việc tái đánh giá lại Gia Long và vương triều Nguyễn. Sử gia Văn Tạo (Nguyễn Xuân Đào) đã kêu gọi một cuộc nhìn thẳng vào sự thật trong nghiên cứu lịch sử. Cũng chính từ đây, quá trình tháo nút thắt – do chính sử học Marxism thắt buộc được bắt đầu. Những đánh giá về Gia Long, vương triều Nguyễn dần trở nên khách quan hơn, công bằng hơn. Gs. Trần Quốc Vượng cho rằng: “Cho nên, cũng không phải quá đáng lắm khi linh mục Nguyễn Phương và một số nhà sử học nước ngoài khác – từ phe XHCN (cũ) đến phe tư bản chủ nghĩa – cho rằng Nguyễn Ánh là người trên thực tế đã thống nhất đất nước chứ không phải là ông vua anh hùng Nguyễn Huệ – Quang Trung”38. Với Gs Phan Huy Lê, sau khi nêu ra hai quan điểm phủ định lẫn nhau về công lao thống nhất đất nước, ông khẳng định: “… gần đây xu hướng chung là không ai có thể phủ nhận được công lao thống nhất đất nước của vương triều Nguyễn mà người sáng lập là vua Gia Long Nguyễn Ánh, nhưng từ đó phủ nhận luôn cả những cống hiến của Tây Sơn thì chưa được khách quan và cần trao đổi thêm”39. Về nguyên nhân và trách nhiệm trong việc đánh giá không thỏa đáng về Gia Long nói riêng và vương triều Nguyễn nói chung, Gs Phan Huy Lê cho rằng: nhà sử học đã: “vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nhĩa duy vật lịch sử phạm những sai lầm của chủ nghĩa giáo điều, công thức, máy móc”40.
Mặc thế, những diễn ngôn triệt để bôi đen vua Gia Long đã để lại di chứng nặng nề. Trong xã hội Việt Nam, một số người đã tranh đoạt quyền diễn giải lịch sử bất chấp những bước tiến của khoa học lịch sử. Trên báo Nhân dân có bài viết của tác giả Thiên Phương nhan đề: “Luận bàn về việc vận dụng phương pháp lịch sử”. Trong bài viết tác giả cho rằng hành động cầu viện Xiêm của Nguyễn Ánh là: “đặt quyền lợi của gia tộc, của bản thân lên trên quyền lợi dân tộc, lên trên chủ quyền của đất nước và lên trên cả danh dự của dân tộc”41.
Nhiều người dùng mạng xã hội đã thóa mạ Gia Long và những bề tôi của ông. Viện dẫn lời thơ của HCM, họ cho rằng Nguyễn Ánh là kẻ phản bội dân tộc, kẻ đã cắt nhượng một phần lãnh thổ Việt Nam cho Pháp và Lào. Ông Nguyễn Thanh Tuấn – một Trung tướng đã nghỉ hưu của quân đội Việt Nam đăng bài trên quandoinhandan online kêu gọi ra luật bảo vệ sự thật Lịch sử, nhằm “chống lật sử”, chống diễn biến hòa bình. Vậy thì sự thật – cái gọi là sự thật lịch sử mà những người như Thiên Phương, Nguyễn Thanh Tuấn và nhiều người khác đã diễn ra như thế nào?
Trở lại với câu hỏi mang tính tiên nguyên: Có hay không dân tộc Việt Nam vào cuối thế kỷ XVIII và rằng ai đã kiến tạo nên cái gọi là dân tộc Việt Nam? Trả lời câu hỏi này, chúng tôi đặt vấn đề dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác về vấn đề dân tộc. Năm 1913, Joseph Stalin đưa ra định nghĩa dân tộc như sau: “Dân tộc là một cộng đồng người ổn định được tạo lập trong lịch sử, nó được hình thành trên cơ sở đời sống kinh tế chung, lãnh thổ chung, ngôn ngữ chung, và bản chất tâm lý thể hiện qua một nền văn hóa chung”.
4.1. Soi chiếu từ lý thuyết dân tộc của Stalin vào tình hình Việt Nam cuối thế kỷ XVIII
Như vậy 4 yếu tố cốt lõi để hình thành dân tộc bao gồm:
+ Cộng đồng người ổn định được tạo lập trong lịch sử
+ Đời sống kinh tế chung
+ Lãnh thổ chung
+ Ngôn ngữ chung và bản chất tâm lý thể hiện qua một nền văn hóa chung.
Joseph Stalin khẳng định rằng: “thiếu một trong bốn yếu tố ấy không thể hình thành dân tộc”. Ta đối chiếu 4 tiêu chí này vào Lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 để xem đã có dân tộc Việt Nam thời điểm đó hay chưa?
Về lãnh thổ. Vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, Đại Việt phân liệt thành Đàng Ngoài, Đàng Trong. Nhưng hai Đàng có phải là hai quốc gia hay không? Giải đáp câu hỏi này chúng ta sẽ sử dụng những khái niệm kinh điển về quốc gia. Mạnh Tử viết: “Chư hầu chi bảo tam: Thổ địa, nhân dân, chính sự. Bảo châu ngọc giả, ương tất cập thân” nghĩa là “Một vị vua chư hầu nên quí trọng ba việc này: Thổ địa, nhân dân và chính sự. nếu chê ba điều ấy mà quí trọng châu ngọc, ắt thân mình phải vướng lấy tai ương”42. Thật kinh ngạc, định nghĩa cổ xưa này trùng khớp hoàn hảo với quan điểm của học giả chính trị hiện đại Walker Connor (1970), khi ông cho rằng: “Một nước khá hiển nhiên là hiện tượng sờ mó được và có thể định nghĩa bởi lãnh thổ, dân số và chính quyền”43.
Theo định nghĩa quốc gia (từ Mạnh Tử tới Walker Connor) ta có hai vương quốc (kingdom) là Đàng Ngoài và Đàng Trong. Như vậy, vào TK XVIII, dân tộc Việt Nam chưa hình thành vì chưa có lãnh thổ chung. Kèm theo đó là không tạo lập ra một đời sống kinh tế chung, trong khi Đàng Trong dựa nhiều vào thương mại hải dương, sự liên kết về thương mại giữa Đông Á lục địa địa với duyên hải – biển cả, thì Đàng Ngoài dựa nhiều hơn vào tô thuế từ nông dân. Dân chúng hai quốc gia cũng đóng thuế cho hai chính quyền khác nhau, thậm chí thù giết nhau.
Tuy nhiên đó mới là các yếu tố vật lý. Yếu tố căn bản nhất, mang nội hàm sâu sắc nhất về sự hình thành dân tộc lại là “Ngôn ngữ chung và bản chất tâm lý thể hiện qua một nền văn hóa chung”. Việt Nam vào thời điểm cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX có “một bản chất tâm lý thể hiện qua một nền văn hóa chung” hay không? Các tranh mô tả về Vương quốc Đàng Trong cho thấy đây là một kingdom với cư dân hợp chúng chứ không thuần nhất dựa trên những Hán nhân (tức người Kinh – Việt).
Một số sinh hoạt thế tục xứ Đàng Trong qua tranh vẽ của William Alexander trong cuốn A Voyage to Cochinchina của John Barrow (1792)
Hơn nữa, sự phân liệt cũng đem đến một bản sắc người Việt xứ Đàng Trong hình thành, khác biệt với xứ Đàng Ngoài. Chúng ta hãy xem sử liệu này: “Chúa cho rằng lời sấm có nói: “Tám đời trở lại Trung đô” bèn đổi y phục, thay phong tục, cùng dân đổi mới … Thế là văn vật một phen đổi mới”44. Lê Quý Đôn viết về sự thay đổi phong tục của Đàng Trong như sau: “Lại lệnh cho trai gái hai xứ (Thuận Hóa, Quảng Nam) đổi dùng quần áo Bắc quốc để tỏ sự thay đổi. Đến phụ nữ đều mặc áo ngắn hẹp tay giống áo nam giới thì Bắc quốc không như vậy”45. Như vậy, vào năm Cảnh Hưng thứ 5 (1744), Nguyễn Phúc Khoát không chỉ xưng Vương mà còn chủ động kiến tạo một diện mạo văn hóa mới khác biệt với Đàng Ngoài. Sự thay đổi lớn đến độ người dân mất cả phong tục gốc (vong kỳ bản tục).
Khi Nguyễn Huệ ra bắc với danh nghĩa Phù Lê – diệt Trịnh, người Bắc Hà ngỡ ngàng trước quân “lông đỏ”, nhiều sĩ phu văn thân gọi đó là “giặc”, là “ngụy”. Họ mô tả lại một Tây Sơn khác biệt với văn hiến Bắc Hà. Lê Duy Đản viết về Tây Sơn là đám “cuồng Chiêm” làm loạn đất Hạ46. Bùi Dương Lịch nói về việc … “tao ngộ” quân Tây Sơn ở thành Thăng Long như sau: “Người trong thành, ngoài thành, khi nghe, khi thấy đều kinh hãi/Nói năng ăn mặc hoàn toàn mới lạ”47. Ở đây không có tinh thần đồng văn, đồng chủng, bản thân Nguyễn Huệ cũng không tự nhận mình đồng tộc với người Việt ở Bắc Hà. Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: “Bầy tôi Bắc Hà lại muốn dùng danh vị hão để lung lạc ta hay sao? Đừng tưởng ta là người mọi rợ được chức tước ấy bèn lấy làm vinh dự đâu”48. Khi bệ kiến vua Cảnh Hưng, Nguyễn Huệ cũng nói rõ ràng ông không phải là thần dân của nhà vua: “chưa từng mặc áo và ăn lộc” do vua Lê ban cho49. Các văn thơ ca ngợi Tây Sơn của sĩ phu Bắc Hà (như Ngô Ngọc Du, Ngô Thì Nhậm …) thực chất là tiếng nói của nhóm quan lại đã quy thuận tân triều, không phản ánh tâm thức phổ quát: mâu thuẫn, hoài nghi thậm chí là cả khinh miệt của giới tinh hoa Đàng Ngoài dành cho quân Tây Sơn.
Qua sử liệu đương thời, ta thấy: Việt Nam cuối thế kỷ XVIII chưa đáp ứng được yêu cầu của sự hình thành dân tộc (theo tiêu chí dân tộc của Stalin) đó là có lãnh thổ chung. Tuy rằng sắc tộc người Kinh ở cả hai Đàng có ngôn ngữ chung (về mặt giao tiếp), nhưng bản chất tâm lý chung – yếu tố cốt lõi phản ánh qua văn hóa – lại bị phân liệt bởi chia cắt chính trị, khác biệt phong tục và cả thù giết lẫn nhau như lời Pierre Poivre mô tả. Do vậy, lập luận dân tộc Việt Nam ra đời vào thời phong kiến (dân tộc tiền tư bản) đến đây cần đối thoại lại.
4.2 Tây Sơn – ảo ảnh về thống nhất quốc gia
Trần Huy Liệu đã bám sát lý thuyết dân tộc của Stalin, hẳn ông biết quá rõ Gia Long mới là người thống nhất quốc gia từ Ải Nam Quan tới mũi Cà Mau? Nhưng vì Gia Long thuộc diện phải đả phá (bài phong) nên công lao thống nhất quốc gia được ông quy cho phong trào Tây Sơn: “… trên những yếu tố cấu thành dân tộc đã tiềm tàng đầy đủ, cuộc đại thắng của Tây-sơn phá tan các tập đoàn phong kiến cát cứ, thống nhất lãnh thổ từ Nam đến Bắc là một đột biến để cụ thể hoá việc hình thành dân tộc Việt-nam trên mọi phương diện ngữ ngôn, lãnh thổ, sinh hoạt kinh tế, sinh hoạt văn hoá mà từ trước chưa từng có”50. Cuốn Lịch sử Việt Nam (1971) cho rằng: “Gia Long lên làm vua, lập ra triều Nguyễn sau khi đã đàn áp cuộc chiến tranh cách mạng của nông dân mà nội dung cơ bản là đấu tranh cho quyền lợi của nhân dân, độc lập dân tộc và thống nhất quốc gia”51.
Trong “Nguyễn Huệ với sự nghiệp thống nhất đất nước cuối thế kỷ XVIII”, Nguyễn Thị Hiền viết: “phong trào Tây Sơn dưới sự chỉ huy tài tình của Nguyễn Huệ đã tiêu diệt các thế lực phong kiến phản động, thủ phạm gây ra chia cắt Đàng Trong – Đàng Ngoài, xoá bỏ ranh giới phân chia Nam – Bắc, làm chủ toàn bộ lãnh thổ từ cực bắc Đàng Ngoài đến cực nam Đằng Trong, khôi phục quốc gia thống nhất. Non sông nước Việt sau gần ba thế kỷ bị chia cắt đã được thu về một mối, lần đầu tiên sự thống nhất được thực hiện trên toàn cõi đất nước rộng lớn. Đây là một thắng lợi vĩ đại của phong trào Tây Sơn, tiêu biểu là thủ lĩnh kiệt xuất Nguyễn Huệ”.52
Năm 2008, trong Hội thảo khoa học “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam”, Giáo sư Phan Huy Lê đã dung hòa công lao thống nhất quốc gia giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, Ông viết: “Phong trào Tây Sơn đã đánh bại chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong, chính quyền vua Lê – chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và đã xóa bỏ tình trạng phân chia đất nước kéo dài trên hai thế kỷ, đánh tan quân xâm lược Xiêm ở phía nam và quân xâm lược Thanh ở phía bắc, đó là những thành tựu của Tây Sơn đã đặt cơ sở cho công cuộc khôi phục quốc gia thống nhất mà sau này Nguyễn Ánh và triều Nguyễn đã kế thừa. Như vậy là hai kẻ thù không đội trời chung lại góp phần tạo lập nên sự nghiệp thống nhất đất nước của dân tộc, bề ngoài như một nghịch lý nhưng lại nằm trong xu thế phát triển khách quan của lịch sử và yêu cầu bức thiết của dân tộc”53.
Quả thật, Nguyễn Huệ (Quang Trung) đã dọn dẹp bớt trở ngại để công cuộc thống nhất của Nguyễn Ánh diễn ra thuận lợi hơn. Nhưng, chúng ta không thể không nhắc tới mặt trái của nhà Tây Sơn: họ đã xé nhỏ hai Đàng làm ba vương quốc với 3 kinh đô: Quy Nhơn (tức thành Đồ Bàn cũ), Phú Xuân (kinh đô của Vương quốc Đàng Trong) và Gia Định, theo đó:
+ Nguyễn Nhạc (Trung ương Hoàng đế): Cai quản vùng đất gốc từ Bến Vát (Quảng Ngãi cũ) đến Bình Thuận, đóng đô ở Quy Nhơn.
+ Nguyễn Huệ (Bắc Bình Vương – sau là Quang Trung): Cai quản từ Quảng Nam trở ra, kinh đô đóng ở Phú Xuân. Thực chất đây là vùng đất của Đại Việt nửa đầu thế kỷ XV.
+ Nguyễn Lữ (Đông Định Vương): Cai quản vùng Gia Định ở phía Nam, sau Gia Định rơi vào tay Nguyễn Ánh).
Sau chiến thắng Kỷ Dậu không lâu, Nguyễn Huệ được nhà Thanh sắc phong An Nam Quốc Vương, tách biệt với Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc. Như vậy, dù biên giới sông Gianh đã bị xóa nhòa, nhưng Việt Nam dưới sự cai trị của Nhà Tây Sơn lại phân liệt thành ba vùng đất với hệ thống quản trị riêng, quân đội riêng. Giữa các vùng lãnh thổ này còn phát động chiến tranh với nhau (cuộc chiến Nhạc – Huệ năm 1787, Gia Long đánh Nguyễn Nhạc vây thành Hoàng Đế …). Theo định nghĩa về Nước – quốc gia của Mạnh Tử và Walker Connor đã nêu trên, thì Tây Sơn tạo ra 3 quốc gia chứ không phải một quốc gia thống nhất.
Thành quả của phong trào Tây Sơn thực chất là tái phân quyền, phân chia quả thực chiến tranh chứ không phải là thống nhất quốc gia. Thống nhất quốc gia chỉ thực sự bắt đầu khi Nguyễn Ánh xóa bỏ 3 vương quyền để quy về một mối vào năm 1802. “Tháng 1 năm Giáp Tý (1804), vua Gia Long lại ra hành cung thành Thăng Long làm đại lễ bang giao tại điện Kính Thiên, chính thức đặt tên nước là Việt Nam. Như thế tên nước Đại Việt (Lý Thánh Tông đặt năm 1054) và tên nước Việt Nam (Gia Long đặt năm 1804) cách nhau 750 năm, đều ở thành Thăng Long, bởi các vị hoàng đế đã khai mở và hoàn thành trọn vẹn công cuộc mở cõi về phương Nam, thống nhất đất nước”54. Gia Long và những người kế tục sự nghiệp của ông tiếp tục tiến hành cải cách hành chính đặt ra tỉnh – phủ – huyện, … suốt từ Lạng Sơn tới Hà Tiên. Bắt đầu từ thời điểm năm 1802, chúng ta đã có một lãnh thổ chung sau hàng trăm năm phân liệt. Đồng tiền Gia Long thông bảo được đúc và có giá trị sử dụng trên toàn cõi Việt Nam, một hệ thống hành chính – thuế khóa tập trung được áp đặt trên toàn quốc gia. Đến đây chúng ta có một khung vật chất cho đời sống kinh tế chung, xóa bỏ sự phân cách kinh tế Đàng Trong – Đàng Ngoài.
(còn tiếp)
___________________
Chú thích:
22, 23, 24, dẫn theo Liam Kelley (Le Minh Khai Viet): How Did Vietnam Transform from a Lateral-Aristocratic Ethnie into a Modern Nation? Link truy cập: https://vnshort.com/3hqK, truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2025.
25, 26. Phan Huy Lê: Về quá trình dân tộc của lịch sử Việt Nam, đăng trong Phan Huy Lê di cảo: Nhận thức lịch sử Việt Nam, NXB Khoa học xã hội 2024, trang 75, 79.
Nguồn tư liệu: Pierre Poivre: Voyage de Pierre Poivre en Cochinchine (Hành trình của Pierre Poivre tại Đàng Trong). Nguồn: Tạp chí Revue de l’Extrême-Orient (Tạp chí Viễn Đông), Tập 3, Chủ biên: Henri Cordier. Xuất bản tại Paris, năm 1885, trang 83. Nguyên văn tiếng Pháp: Depuis leur séparation ces deux peuples se font des guerres cruelles. Ils n’ont ni liaison, ni commerce ensemble et se mettent à mort quand ils se prennent soit en paix soit en guerre. Il est même deffendu de prononcer le mot de Tunquin devant le roy de Cochinchine. Cependant quelque grande que soit l’aversion de ces deux peuples, qui parlent la même langue et ont les mèmes usages, ils s’estiment mutuellement. Les Cochinchinois se font honneur de descendre des Tunquinois qu’ils haïssent. C’est la seule nation dont ils font l’éloge; ils méprisent toutes les autres et surtout les Chinois.
Bản dịch Anh ngữ của Kristine Alilunas-Rodgers (1993) trong Southern Vietnam under the Nguyen, trang 65 như sau: “Since the time they were separated these two peoples have waged cruel wars on one another. They have neither links nor dealings with each other and put one another to death when they capture each other whether in peace or at war. It is even forbidden to utter the word Tongking before the king of Cochinchina. Yet however great the loathing between these two peoples, who speak the same language and have the same customs, they hold each other in high esteem. The Cochinchinese pride themselves on being descended from the Tongkinese whom they loathe. It is the only nation of which they speak highly; they scorn all the others and above all the Chinese”.
Tư liệu Pháp ngữ và Anh ngữ nói trên được cung cấp bởi bạn đọc Brian Wu.
(Ảnh chụp trang 83, Mô tả xứ Đàng Trong của Pierre Poivre, bên trái là bản Pháp ngữ, bên phải là bản Anh ngữ, nguồn ảnh Brian Wu.
Chúng tôi dịch bản Anh ngữ như sau: Kể từ khi phân chia, dân chúng hai xứ đã dấn thân vào những cuộc chiến tàn khốc với nhau. Họ không có bất kỳ mối liên hệ, hay buôn bán nào với nhau, hễ bắt được nhau là ra tay giết chết, bất kể thời bình hay thời chiến. Thậm chí, trước mặt chúa Đàng Trong cấm không được nhắc đến hai chữ “Đàng Ngoài”. Tuy nhiên, dẫu cho mối thù hằn giữa người dân hai xứ có sâu sắc đến đâu, thì bởi cùng chung tiếng nói và phong tục, họ vẫn dành cho nhau một sự kính nể cao độ. Dân chúng Đàng Trong hãnh diện vì có gốc gác từ Đàng Ngoài — [vùng đất nay của] chính những kẻ mà họ đang căm ghét. Đó là quốc gia (nation) duy nhất mà họ ca ngợi; trong khi họ khinh miệt tất cả người nước ngoài, đặc biệt là những người Trung Hoa.
Nguyên văn tiếng Anh: In fact, historical longevity was something they desired, for it demonstrated that contrary to the claims of the Orientalists and pre-war historians, Vietnam was not China’s cultural colony, and that the Vietnamese not only could but indeed had established independent states even earlier than the Chinese. Thus, Ngo Si lien’s tenu ous assertion about Van Lang’s founding of Vietnam in 2879 bce remains quite appealing; it has motivated both historians and archaeologists in today’s Vietnam to support it with evidence. Dịch Việt văn bởi Sông Hàn, nhóm Cổ sử Từ nguyên.
35, 36, 37. Văn Tân (1958): Cách mạng Tây Sơn, sách đã dẫn, từ trang 222 đến trang 226.
Văn hiến – 文獻
Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ,
Gia Long Nguyễn Phúc Ánh,
trong lịch sử và văn hóa người Việt thời VNCH.
Trong lịch sử VN, hai nhân vật Tây Sơn Nguyễn Huệ và Gia Long Nguyễn Phúc Ánh là đại diện cho hai nhà khác nhau và đối kháng nhau. Năm 1777 Tây Sơn kết thúc triều đại Chúa Nguyễn đàng trong. Nguyễn Ánh, Cháu nội Chúa Nguyễn Phúc Khoát, bôn tẩu sơn hà, chạy lánh nạn đồng thời hoạt động mưu cầu khôi phục thống nhất giang sơn, mở đầu vương triều Nguyễn Phúc. Đó là một giai đoạn câu chuyện của lịch sử VN.
Thời VNCH, cả hai nhân vật Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh đều được nhắc nhở trong giáo dục văn hóa và cả trong văn nghệ trình diễn. Thủ đô Sài Gòn Có đại lộ Nguyễn Huệ ngay tại trung tâm, đồng thời cũng có trường nữ trung học Gia Long nổi danh nhất nhì thủ đô VNCH.
Ngày mùng năm tết Nguyên Đán hằng năm thời VNCH, quý vị hẳn còn nhớ, công chúng gọi là ngày Tết Quang Trung, nhằm kỷ niệm chiến thắng Đống Đa của vua Quang Trung Nguyễn Huệ. Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ sáng tác trường ca “Đại Phá Quân Thanh” thường hay trình diễn trên đài phát thanh Sài Gòn.
Giỗ vua Gia Long hằng năm được tổ chức ở Huế vào dịp đầu năm Tết Nguyên Đán, và vài địa danh trong Nam, như tại miếu Gia Long (Đức Cao Hoàng Miếu), ở ấp Hưng Mỹ Tây, xã Long Hưng A, quận Lấp Vò – Cao Lãnh, theo truyền thuyết Gia Long Tẩu Quốc từng về nơi đây. Nhà văn Bình Nguyên Lộc viết truyện ngắn “Cõng Vua” trong đó có đoạn kể rằng ông nội của nhân vật chính từng cõng vua Gia Long chạy loạn Tây Sơn.
Người VN vốn tự hào là dân tộc VN có hơn 4000 năm văn hiến. Vậy, văn hiến là gì? Văn hiến 文獻 là nền văn hóa, tư tưởng, lịch sử, văn chương, người hiền tài của một quốc gia còn truyền lại hậu thế.