VỀ VĂN HỌC HẢI NGOẠI
Da Màu: Theo anh, có phải biến cố 30/4/1975 là nguyên nhân phát sinh ra Văn Học Hải Ngoại? Nếu có thể, mong anh nêu lên vài đặc tính của Văn Học Hải Ngoại.
Thu Phong: Từ 30-4-1975, nhà nước độc quyền văn học và dựng lên bức tường lửa ngăn người ta đọc các trang web hải ngoại. May thay, tôi biết cách vượt qua để đọc Da Màu.
Tiếp nối truyền thống tự do trong nước trước 1975, văn học hải ngoại là văn học tự do, tác giả chỉ viết theo ý mình, không chịu áp lực của ai.
Da Màu: Lấy tiêu chuẩn nào để xác định một tác giả hay một tác phẩm là thuộc về Văn Học Hải Ngoại? Địa lý (trong/ngoài nước)? Chính trị (quốc gia/cộng sản/bất đồng chính kiến)? Ngôn ngữ? Nơi xuất bản? Hay điều gì khác?
Thu Phong: Văn học hải ngoại là văn học được viết lên bởi người Việt ở hải ngoại và người trong nước gởi tác phẩm ra hải ngoại và được in. Người sau phải chịu ít nhiều rủi ro. Tôi từng bị một cán bộ mẫn cán lên án là “phản động.” Ông ta hỏi tôi “Sao mầy còn ăn cơm uống nước ở VN?” Tôi trả lời ông ta rằng vì tôi là người Việt đang sống trên đất nước mình. Và chỉ muốn sống trên quê hương mình. Năm 1970 tôi có du học ở Mỹ nhưng học xong tôi từ chối trốn ở lại theo sự rủ rê của một người bạn Nam Phi. Bị từ chối in ở báo Tuổi trẻ, Thanh niên, Văn Nghệ, tôi đành phải gởi tác phẩm đến Da Màu. Cám ơn Da Màu đã đồng cảm. Cảm ơn cô Đặng Thơ Thơ đã bắc cầu. Từ ấy, tôi trở thành một tác giả hải ngoại.
Da Màu: Mong anh cho nhận xét về sự khác biệt giữa Văn Học Miền Nam 1954-1975 và Văn Học Việt Nam Hải Ngoại.
Thu Phong: Không có khác biệt nhiều giữa văn học trong nước 1954-1975 và văn học hải ngoại hiện nay. Tuy nhiên, tôi có cảm tưởng văn học miền Nam 1954-1975 tự do hơn, phóng khoáng hơn. Có lẽ vì người viết ở hải ngoại sợ ảnh hưởng đến thân nhân còn ở lại trong nước hoặc trở ngại cho họ về thăm quê hương (Tôi biết chuyện anh Nguyễn Hưng Quốc ở Úc về đến phi trường TSN bị bắt phải quay trở lại Úc)
Da Màu: Theo quan sát của anh, có sự giao thoa nào giữa Văn Học Hải Ngoại và văn học trong nước không, và sự giao thoa đó diễn ra như thế nào?
Thu Phong: Có giao thoa: Đó là tình tự dân tộc, truyền thống gắn bó với quê cha đất tổ.
VỀ HÀNH TRÌNH VIẾT
Da Màu: Khi bắt đầu tham dự vào các sinh hoạt văn chương hải ngoại, động lực nào thôi thúc anh tham dự vào những sinh hoạt này, và/hoặc tiếp tục theo đuổi con đường văn chương ở bối cảnh hải ngoại?
Thu Phong: Sau 1975, nhà nước chủ trương xóa nền văn hóa cũ, nắm độc quyền viết. Tôi là người viết, tôi không thể ngừng viết, trong hoàn cảnh ấy tôi biết viết ở đâu ngoài hải ngoại?
Da Màu: Văn Học Hải Ngoại đã ảnh hưởng như thế nào đến phong cách và tư tưởng trong sáng tác/phê bình của anh khi mới bắt đầu viết?
Thu Phong: Khi viết, tôi chỉ viết theo phong cách, tư tưởng của mình.
Da Màu: Có những nhà văn hay tác phẩm nào đã là nguồn cảm hứng đặc biệt cho anh trong quá trình sáng tác/tham dự vào các sinh hoạt văn chương hải ngoại?
Thu Phong: Tôi mê văn chương. Khi còn ngồi trên ghế trường Trung Học, tôi đã thích đọc các quý ông Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Phạm Công Thiện. Hiện nay, dù với người viết ở hải ngoại hay trong nước, tôi quan tâm đến tác phẩm của nhà văn Đặng Thơ Thơ, Tôi thích ngôn từ văn chương đặc sắc của cô. (Tôi thực lòng, không nịnh!)
Da Màu: Trong các tác phẩm của mình, anh thường khai phá những chủ đề nào liên quan đến đời sống người Việt ở hải ngoại? Có tác phẩm nào anh/chị tâm đắc nhất không?
Thu Phong: Tôi ôm ấp viết một tác phẩm về nỗi sầu ly hương của người Việt hải ngoại, nhưng chưa viết được.
Da Màu: Anh đã viết nhiều thể loại: kịch truyện ngắn, tiểu thuyết, tuỳ bút… mong anh cho biết qua quan niệm của anh về mỹ học và hình thức nghệ thuật của từng thể loại.
Thu Phong: Viết cái gì, tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch hay tùy bút tùy ở cảm hứng của tôi
Quan niệm mỹ học và hình thức nghê thuật của tôi?
“Hãy viết những gì dù không có thực nhưng người ta tin, không viết những gì có thực mà người ta không tin” (May thay, những gì tôi viết đều đáng tin?)
Tôi viết trước hết là cho chính mình, không phải để đăng báo. Tất nhiên, viết xong tôi cũng muốn phổ biến, nhưng tôi không mong chờ được nhiều người đọc. Có nhiều thì vui, không có cũng không buồn!
Tôi rất thích kỹ thuật. Tôi khá ưng ý khi viết được truỵện ngắn “Mặt Cắt” không có nhân vật, không có con người (Tựa truyện tôi lấy từ ngành thiết kế xây dựng, tôi có vài năm làm ngành này)
Bản vẽ công trình xây dựng có 2 loại: chi tiết xây dựng (do kiến trúc sư đảm nhận) và kết cấu của công trình (do kỹ sư xây dựng đảm nhận)
Một bản vẽ chi tiết xây dựng phải thể hiện đủ các mặt của công trình. Đó là “Mặt đứng” ( trước 1975 gọi là “mặt tiền” ) các mặt hông phải, trái, mặt sau (trước 1975 gọi là tả, hữu, hậu diện) , “Mặt bằng” (trước 1975 gọi là “bình đồ”) cho thấy những chi tiết bên trong ở dưới đất và “Mặt cắt” (Thiết đồ) thể hiện những chi tiết bên trong không gian của công trình.