Home » Chuyên Luận, Học Thuật, Lý Luận, Nghiên Cứu, Nhân Văn Email bài này

QUAN-NIỆM CỦA KANT VỀ “DING-AN-SICH” TỨC “TÍNH RIÊNG CỦA SỰ-VẬT” VÀ QUAN-NIỆM CỦA HEIDEGGER VỀ “DING” HAY NOUMENA CŨNG LÀ “TÍNH RIÊNG TƯ CỦA SỰ-VẬT.”

0 comment ♦ 21.03.2025


clip_image003    clip_image004

                                                                                Immanuel Kant  và  Martin Heidegger



LTG. Bài sau đây là một phần nhỏ của cuốn The Question for Humanism: Heidegger’s Metaphysics VS American Pragmatism. Tác-giả bắt đầu viết luận- cương The Question vào đầu năm 2024 và cần ít nhất 2 năm nữa mới hoàn tất.

Tặng Thơ Thơ, Em gái yêu quý của anh

*****

Quan-điểm của Heidegger về Sự-vật [Ding] khác với quan-điểm của Kant về Tính Riêng của Sự-vật [Ding-an-Sich]. Khác nhau thế nào? Cuốn Phê-bình Lý-trí Thuần Lý của Kant là một tác-phẩm rất quan trọng bàn về nhận-thức đúng theo suy-tư khoa-học. Như vậy để hiểu quan-niệm của Kant về Tính Riêng Của Sự-vật chúng ta nên đọc ngay Chương Thứ Ba trong cuốn sách kể trên. Phần này có tựa đề như sau: Sự vật nhìn theo góc-độ Hiện-tượng và nhìn theo tính của Sự-vật. Sau khi đã đọc xong chương này chúng ta mới so sánh quan- niệm của Kant về Tính Riêng của Sự-vật với quan-niệm về Sự-vật [Ding] của Heidegger.

Quan-niệm về Tính-Riêng-Của Sự-Vật [Ding-an-Sich] luận rằng Hiểu-biết Đúng hay Tinh-ròng về Sư-vật phải đến thẳng từ sự vật chứ không qua kinh-nghiệm riêng của cá-nhân vì sự-vật luôn luôn đổi thay [constitutive a priori]. Như vậy, dựa trên cơ-cấu nhận- thức thì cái gọi là hiểu biết như thế đã dựa vào cảm-thức [perception] hay dựa vào tiền-kiến [a priori].

Ví-dụ sau đây đáng cho chúng ta suy ngẫm về vấn-đề hiểu-biết. Dựa vào phúc-trình của Khoa Thiên-văn năm 2016, thì Exoplanet WASP-127b đã được để ý đến vào năm 1917, tức là khoảng 100 năm trước. Hành-tinh này ở cách Địa cầu 520 năm ánh sáng và nó chỉ cần khoảng 4 ngày để xoay quanh [orbit] mặt trời của nó. Vận-tốc gió trên hành-tinh này là 33,000 cây số [kilometers] một giờ, tức là 18 lần mạnh hơn sức gió trên Neptune trong Thái-dương Hệ của chúng ta.

Lísa Nortmann và những khoa-học gia nghiên-cứu trong nhóm của bà tại đại-học Gottingen ở Đức đã dùng viễn vọng kính rất lớn [Very Large Telescope] ở Chile để phân-tích và đã phám phá ra Carbon Monoxide và hơi nước ở thượng tầng khí-quyển của WASP-127b. Những khám phá trên khiến các nhà khoa-học thiên- văn và vũ-trụ vẫn còn đang tiếp-tục hiểu biết thêm [nguồn trích từ Space, do Sharmila Kuthuunur cung cấp, 2024]. Trong khi đó Triết- học chỉ có khả-năng đặt ra vấn-đề truy tầm hiểu hiết qua luận-lý dù có dựa vào cái hay nhưng không chính-xác của tiền-nghiệm [a ptiori]. Vì thiếu chính-xác nên tiền-nghiệm không phải là yếu-tố bổ túc [references] cần thiết cho những khám phá mới. Như vậy, theo tinh-thần khoa-học chúng ta không thể thu hồi [rescind] tiền-nghiệm mà chỉ còn một cách duy nhất là xoá bỏ hiểu-biết dựa vào tiền-nghiệm mà thôi. Tức là bắt đầu trở lại, y như Heidegger nhận xét rằng, lùi lại một bước rồi nhẩy vọt qua hiện tại để tiến vào tương-lai

Như vậy, hiểu được Tính Vật là một vấn-đè nghiên-cứu rất công-phu và không ngừng, rất đa đoan như khoa học về vũ-trụ. Trước hết chúng ta phải thấy rõ ảnh-hưởng tâm-lý của chúng ta khi nhìn vào sự vật. Sự-vật không có tình-cảm. Trong lịch-sử Triết-học chữ Ontology là khoa-học bàn về ý-thức nhưng khoa Ontology ấy không bàn đến ảnh-hưởng tâm-lý của chúng ta khi chúng ta nhìn vào sự-vật. Chính các nhà khoa-hoc cũng công nhận trong khi phân tích sư-kiện họ vẫn không thoát khỏi tư-duy. Cho nên Husserl đề- nghị Hiên-tượng Luận là phương-pháp Ontology mới giúp chúng ta hiểu Tính Vật một cách tinh ròng [pure] không mang mầu sắc tình cảm [tâm-lý].

Một bông hoa gọi là “đẹp” không có tình-cảm của nó nhưng bông hoa ấy hớp hồn người ngắm nó tựa hồ như nó có tính người. Cũng vậy, một bông hoa gọi là “tầm-thường” cũng không có tình- cảm trong bông hoa ấy. Sự cảm thấy đẹp hay tầm-thường của bông hoa đến từ tập-quán hay kinh-nghiệm [a priori] hoăc ’tâm-lý của chúng ta [Phenomena]. Tập-quán và tâm-lý không nằm trong Tính Vật. Một ví-dụ nhỏ nhưng cụ-thê như mùi thơm của hoa hồng. Trong trường hợp này chúng ta sẽ có lối nhìn vốn sẵn có nằm trong lịch-sử [a priori] và cái nhìn theo tâm-lý [phenomena] tức là suy- diễn theo Hiện-tượng Luận [Phenomenology]. Theo khoa-hoc, Phenomenology không phải là nhận-thức mới [a posteriori] vì chi nhìn theo tâm-lý không những chỉ chủ-quan mà còn trái với khoa- học.

Ding-an-Sich của Kant đã đi một bước lớn về ý-thức trong lịch-sử Triết-học theo tinh-thần khoa học nhưng đó đây vẫn còn lảng vảng tính Siêu-hình (Metaphysics). Trong khi ấy, lạ thay, ý- niệm vê Vật (Ding) của Heidegger lại có mầu Thực-tiễn (Pragmatisn) nhưng thực ra như chúng ta biết căn-bản triết-học của Heidegger luôn luôn khới đi từ nền-tảng Siêu-hình Học (Metaphysics) để bước sang cái tạm gọi là “Thực-tiễn”, ví dụ ông dùng cái Búa, cái Xe để giải-thích quan-niệm hiểu biết về Vật [Ding].

Kant nhắc lại rằng tuy quan-niệm hiểu biết vật [Ding] có những lẽ [references] bắt đầu bằng những kinh-nghiệm đã qua hay đã có sẵn [a priori] trong triết-sử tuy nhiên những kinh-nghiệm này không cho chúng ta biết đây đủ ý-nghĩa của vật.

Ngay cả đối với vấn-đề hiểu biết về người như khôn-ngoan và xảo trá tuy hiện ra qua hành-động [reality] nhưng chúng ta vẫn không hoàn toàn hiểu rõ tính người, riêng cũng như chung. Do đó vấn-đề “Nhân-bản” như trong chuyên-luận này [The Questions for Humanism] chính là câu hỏi lớn bởi vì ý-thức [cognition] của con người gồm hai phần: lý-trí [Mundus intelligibilis] và cảm-xúc [Mundus sensibilis] hay “emotive” [easy to arouse intense feeling]. Nhận xét của William James về vấn-đề “đổi ý” phải hiểu tuỳ trường-hợp. Trường-hợp nào cũng có cỗi-nguồn.

Búa và xe có nhiều loại cho nên mỗi loại có chức-năng riêng.

Một tác-phẩm nghệ-thuật như một bức tranh có tính riêng theo quan-niệm “Ding” và “Ding-an-Sich” không? Tranh có thể được coi là một vật [Ding] trong ý-nghĩa nhận-thức [cogntion] của Kant và Heidegger. Nhưng thông thường chúng ta chỉ cảm-nhận tranh chứ chúng ta không hiểu tranh bởi vì tranh không trưng ra cơ-cấu có tính “máy móc” như cái búa hoặc cái xe.

Khi còn là sinh-viên ban Vật-lý tại Đại-học Columbia chúng tôi được một giáo-sư khuyên chúng tôi nên xem tranh vì theo ông, hội- hoạ cho thấy một trí tưởng-tượng rất lạ khác hẳn khoa-học. Ông không biết trong đám sinh-viên của ông có một người biết vẽ là tôi.

Như vậy, chữ ý-thức [cognition] bao gồm lý-trí và tình-cảm phải được diễn-tả làm sao cho đúng chứ không giản-dị như một công-thức.

Có phải bức tranh Mona Lisa của da Vinci là một bức chân- dung, một nụ cười khó hiểu, một làn không khí rất hiển nhiên trên địa cầu? Phong cảnh sau lưng Mona Lisa [người mẫu] không hề thấy ở Âu-châu. Những điểm vừa nêu lên là cấu-trúc suy-tư hình- tượng [vísual thinking] của da Vinci nên chúng ta tạm gọi chúng là những cơ-cấu sáng tạo trong tranh dường như người xem không sao biết [ý-thức] được bởi vì bức tranh Mona Lisa có đời sống riêng tư của nó [Ding-an-Sich]. Hiểu Mona Lísa là bộc lộ suy-nghĩ và súc- động của mỗi người. Những phản-ứng khác nhau ấy [phenomena] khiến cho Mona Lisa có nhiều bức màn huyễn hoặc. Có khi chính da Vinci cũng ngạc-nhiên với khám phá sáng-tạo bất ngờ của chính ông. Do lẽ đó nghệ-sĩ nói chung và ở đây nói riêng là hoạ-sĩ không thể trả lời câu hỏi của quần-chúng về tác-phẩm của mình.

clip_image006

Hình 1. Leonardo da Vinci, Mona Lisa, 1503-1505

Tính của một tác-phẩm như bức tranh Mona Lisa là hiên- tượng của chính nó [Ding-an-Sich] vì sau bề ngoài của bức tranh ấy chúng ta có thể dùng X-ray để biết phần nào sự biến chế của chất- liệu vẽ lên một tấm tranh. Ví dụ để biết cách hoạ-sĩ dùng mầu trong tranh. Nhưng phân-tích một mầu trong tranh nhất là có những mầu mầu tuy nằm bên dưới nhưng ảnh hưởng trực tiếp lớp mầu bên trên là lớp mầu trực-tiếp đến với con mắt của người xem tranh. Những tấm tranh dở dang hay phác-hoạ công-phu [cartoon] của da Vinci mà chúng ta thấy quả là những ví-dụ rất khó hiểu xét theo nhận- thức học [cognition].

Dĩ nhiên chúng ta dùng cái búa cũng như khi chúng ta lái chiếc xe một cách tự-nhiên chứ chúng ta không tìm những cơ-cấu quan-trọng và chức-năng của chúng. Điều này rõ ràng nhất trong quan-niệm về “Ding” của Heidegger. Theo Heidegger, vật [Ding] có chức năng sẵn sàng để chúng ta dùng [Ready-to-Use].

Chúng ta thường có những liên-tưởng về sự-kiện bất chợt không dính dáng gì tới vấn-đề đang diễn ra trong việc làm của chúng ta, ví-dụ trong cuốn L’étranger của Camus, thường được xem là ý-niệm về sự Phi-lý [Absurdity] trong thuyết Hiên-sinh [Existentialism].

Sau đây là hai ví-dụ liên quan tới “Absurdity” mà chính tôi thường nghiệm ra.

Ví-dụ Một: Chân-dung Uyên-Như, 2024-25

Tôi vẽ Uyên-Như vì nhan-sắc và nụ-cười rất đẹp của Uyên- Như và tôi chỉ mong đạt đươc hình-ảnh đó. Nhưng trong suốt ba tháng vẽ Uyên-Như đã có những chuyện loé lên chẳng dính-dáng tới nét và mầu trong lúc vẽ. Đây là chưa kể đến “tĩnh-vật trong tranh”. Sau này những hình ảnh như hoa quả, màn trướng, bỗng nhiên là những nét chấm-phá rất ẩn-dụ [metaphor] nhắc nhở tới những nét đẹp. Vì là ẩn-dụ nên chúng miêu-tả nhan-sắc của Uyên-Như [Hannah 2]. Ẩn-dụ là vấn-đề liên-tưởng. Chúng ta biết hoa quả trong tranh đều đẹp và thơm trong hai ý-nghĩa: hiện-thực [reality] về ĐẸP và THƠM, ngoại trừ hoa mẫu-đơn không thơm. Nhưng hoa mẫu-đơn không thơm lại hợp với tranh vì trong tranh cũng như trong các bộ- môn nghệ-thuật khác khi miêu-tả mùi vị tác-giả chỉ cho chúng ta biểu-ý, tức là miêu tả mùi vị từ trong ký-ức hoăc dựa vào ý-thức [cognition] đã định vị hoặc đã trở thành một loại hiểu-biết dựa vào tính-sử. Một bản văn có thể miêu-tả mùi vị của một bông hoa trong khi đó một bức tranh hay một bản đàn không có mùi vị mà chỉ có chức-năng ngôn-ngữ riêng của hai bộ môn đó mà thôi. Bởi thế trong thực-tế hoa quả thơm tho và lộng lẫy nhưng trong tranh hay trong tiếng đàn chúng chỉ lộng lẫy chứ không thơm.

.

clip_image008

Hình 2. Quỳnh Nguyễn, Chân-Dung Uyên-Như, 26” x 9”, Mầu nước [dry brush technique] trên giấy Arches, 2024, 2025.

Chúng ta sẽ tiếp-tục bàn thêm về Ding trong triết học của Kant và Heidegger rồi sau đó chúng ta tìm hiểu mối tương-quan của Ding trong ý-niêm về Vật [Objects] của Quine. Vấn-đề chúng ta lưu-ý lúc này là chúng ta nên bàn nốt về tính phi-lý [Absurd] trong những lúc chúng ta tìm nội-dung của “vật” hay của “vấn-đề”.

Tính phi-lý đó thường xảy ra ví dụ ở lúc chúng ta đang đi tìm căn-nguyên trong cơ-sở của vật hay vấn-đề nào đó. Thế mà bất chợt chúng ta thấy, nghe hay suy-nghĩ về những chuyện không liên quan tới chuyện chúng ta đang làm. Điều này sẽ không xẩy ra trong lúc suy-tư toán-học hay bận-rộn nghiên-cứu vấn-đề trong phòng thí- nghiệm về khoa-học.

Xin nhắc lại, chuyện phi-lý [absurd] đến tự-nhiên không liên- quan tới công việc đang làm, ví dụ chúng ta chợt nhận ra một sự- kiện có thể là hình-ảnh, là tiếng nói hay một bài ca. Có thể chúng ta hát lên một câu trong một bài ca, ví-dụ bài Dư-Âm của Nguyễn văn Tý. Theo nhận xét của Wittgenstein, chuyện bất ngờ nào cũng có căn nguyên nằm trong tiềm-thức. Cho nên trong khi viết hoặc vẽ bỗng nhiên chúng ta hát lên mấy câu chẳng dính dáng gì tói tác- phẩm của mình, như sau:

Anh muốn là mây nương nhờ n gió….
Anh như lầu vắng em như ánh trăng gieo muôn ý thơ.

Kinh-nghiệm về “phi-lý/absurd” kể trên không khác gì trường- hợp nhân-vật trong L’Étranger của Albert Camus – đi trong đám tang của mẹ chợt nhớ tới kỷ-niệm trên bãi biển năm ngoái với người yêu.

Ví-dụ hai: Suy-tư Khắc-khổ, 1985, 2025

Năm 1985 hoạ-sĩ Phạm Tăng xem tranh của tôi có nhận xét là tranh tôi “suy-tư khắc-khổ” [Hình 3]. Tôi giữ một tấm tranh năm ấy có nét suy-tư rất tiêu-biểu như nhận xét của Phạm Tăng và đã không ngừng khai-triển. Những ý bất ngờ và rất phi-lý luôn luôn có mặt trong tranh nhất là những yếu-tố trong tranh trừu-tượng thuộc về tư-duy hinh-tượng [visual language] cho nên “lý-luận” trong tranh không như lý-luận trong ngôn-ngữ phổ-thông.

Trở lại với bức Chân-dung Uyên-Như, điểm gọi là “phi-lý / absurd” nhất là hai cơ-cấu [motifs] “tung-hoành”. Nét “tung” dựa trên một phần hình chụp cành đào của Thơ Thơ. Trong hội-hoạ hai cơ-cấu ấy là điểm chính [statement] của tư-duy hình-tượng [visual thinking] chứ không phải là hình-ảnh màn trướng và hoa quả trong tranh.

Nghệ-sĩ sáng-tạo trong lãnh-vực Visual Language như hoạ-sĩ, điêu-khắc gia và kiến-trúc sư ưu-tư theo hình-thể, đường nét trực tiếp trong không-gian hai hoặc ba chiều bởi vậy những yếu tố trong nghệ-thuật tạo-hình [Vísual Language] không có tên cũng như ra ngoài mô-tả và định-nghĩa. Một toà nhà, một cái cầu hay một biểu-ý [motif] trong tranh không nằm trong công-thức của chữ-nghĩa.

Bởi vậy tấm tranh “Suy-tư Khắc-khổ” sau đây là một “trò chơi uyển-chuyển”. Thế nhưng tôi đã phải cần khoảng 30 năm để hoàn thành. Tranh không thể được diễn-tả bằng lời vì lý-luận về tranh rất gần với hiện-tượng vật-lý Quantum trong đó tính bất-định [indetermination] xem ra “phi-lý’ [absurd] nhưng lại hữu-tình.

clip_image010

Hình 3. Nguyễn Quỳnh, “Suy-tư Khắc-khổ”/ “The Absurdity of Visual Thinking”, Acrylic and Water Color [dry brush technique], 19 “ x 4”. 1985-2025.

VẬT HAY SỰ-KIỆN [reality] TRONG TRIẾT-HỌC CỦA W.V. QUINE

Tác-giả bài này chợt nhớ đến triết-gia Quine vì có những bổ túc quan trọng. Trong khi Kant và Heidegger bàn đến sự hiểu- biết [cognition] về VẬT/ DING thì Quine suy-tư về VẬT [OBJECT] theo phương-pháp luận gọi là Ontological Reality. Đây là đề-tài chính cho một số bài-giảng của Quine tại Columbia University, vào năm 1968.

Theo Quine “Ontology” tương đương với “Cognition”. Tính- từ “Ontological” có nghĩa là “bàn về sự hiểu-biết”. Bài-giảng đầu tiên của Quine là: “Speaking of Objects” Như thế, Ontological Reality có nghĩa là “thực-tại“ hay vấn-đê theo nhận-thức. Bài-giảng của Quine gồm năm phần xoay quanh nhận-thức về thực-tại [object] hay vật [Ding] như sau:

PHẦN MỘT

Thực-tại [objective] hay vật [Ding] say-diễn theo ngữ-học là cái tên hoặc những mảnh miêu-tả những phần chinh của thực-tại, ví dụ thịt bò có những phần được đặt tên rõ ràng [affinity]. Cái tên như THỎ đặt cho con thỏ chỉ có nghĩa hoàn toàn khi chúng ta thấy thỏ. Mỗi xã-hội có tên cho thỏ. Người Pháp gọi tỏ là Lapin [m] hay Lapine [f], người Đức gọi thỏ là Kaninchen, người Anh/Mỹ gọi thỏ là Rabbit. Dĩ nhiên trong mỗi xã-hội kể cả những bộ-lạc đều có tên gọi cho thỏ. Tên gọi phải có đối-tượng cụ-thể để cho chúng ta “thấy” và “biết” đích-thực dù đối tượng là thực-tại cụ-thể hay thực-tại trừu-tượng. Đây chính là vấn-đề sơ-khai của ý-thức [cognition/ ontology]

Như vậy, để cho tên gọi chính-xác về thực-thể thì chúng ta phải nhìn vào sự-vật, ví-dụ cái tên “con thỏ” chỉ vào “con thỏ” ngay trước mắt chúng ta chứ không phải chúng ta nghe nói về thỏ. Nghe nói về sự-vật không phải là hiểu-biết về sự-vật.

Thế nhưng vì thực-thể không cố-định hay tất-đjnh [deterministic] cho nên những yếu-tố bất-ngờ xảy ra trong thực-thể sẽ quyết-định tính biến-thiên [indeterministic] của thực-thể dựa vào lẽ của Quantum. Do đó, Quine đã nói rằng chúng ta không thể xác-định như đinh đóng cột [warrant] về sự hiểu-biết [cognition] của chúng ta [về Sự-vật/ Ding, Object].

Theo Quine, việc làm của một nhà ngữ-học có tài [cagey linguist] khi chuyển một chữ từ ngôn-ngữ A sang ngôn-ngữ B không thể nào lại chuyến chữ đó sang ngôn-ngữ C, có khi còn phải diễn tả chứ đó theo nội-dung [context]. Công-việc của một nhà ngữ-học có tài phải biết rõ về cấu-trúc và phương-pháp theo khoa từ-điển, để soạn ra từ-điển ngõ hầu có khả năng biết rõ nguồn-gốc, cách dùng chữ và cách phát-âm, ví dụ: THỎ trong tiếng Việt, RABBIT trong tiếng Ạnh.

Giáo-sĩ Alexandre de Rhodes [Đắc-Lộ] lắng nghe người Việt nói tiếng Việt, dù là tiếng Việt địa-phương để ông biết cách ghi âm của một chữ rồi mới biết cách phát âm của chữ đó vì chữ biểu-thị cho một thực-tại [object]. Thực-tại được biểu-thị rất rõ-ràng [obvious illustration], cụ-thể [physical] cũng như trừu-tượng [abstract] (Quine, Ontological Reality, 1969, p. 1). Sau đó là sắp xếp các chữ thành câu [sentences] [Quine, OR, p. 4].

Một điều chúng ta nên nhớ là khi chuyển một câu tiếng Pháp sang tiếng Việt hay sang tiếng Anh chúng ta không chuyển âm của chữ trong câu [phonenic corespondence] mà chúng ta chuyền theo tự-điển, ví-dụ từ THỎ sang RABBIT hay từ THỎ sang LAPIN chúng ta không chuyển âm vì âm THỎ và âm RABBIT khác nhau. Do lẽ đó, chúng ta tìm trong tự-điền, ví-dụ tự-điển VIÊT-ANH để biết “Thỏ là Rabbit” [xin xem Appendix]

Như trên chúng ta biết Quine công nhận ‘thực-tại” [object] có thể là cụ-thể [physical]hay trừu-tượng [abstract]. Biết vật [Ding/ Object] đã đòi hỏi nhiều công-phu nhưng vẫn chưa hiểu hết thì làm sao chúng ta biết rõ cơ-cấu của vật trừu-tượng. Triết-học Thực- chứng [Positivism] mà Quine là một đại-biểu rất quan-trọng không cho chúng ta biết rõ trong Phần Một, tức là phần chúng ta đang tham khảo. Vậy thì chúng ta phải bắt đầu từ điểm nào của một vật trừu-tượng?

Chúng ta hãy trở lại vấn đề ngôn-ngữ. Theo Wittgenstein, ngôn-ngữ là cái hình của thực-tại. [2.04, 2.063, 4.01]. Nghe hay lắm. Nhưng trong triết-học của Wittgenstein, ngôn-ngữ chỉ được bàn đến trong cấu-trúc phổ-thông và đơn-giản. Trong Tractatus tinh-thần của triết-học Positivism trở thành sách giáo-khoa cho trường-phái Vienna Cỉrcle. Nội-dung chính của Tractates bàn về cách trình-bày tư-tưởng giản-dị và rõ ràng theo suy-tư luận-lý. Thế nhưng nhận- định của Wittgenstein cho rằng thẩm-mỹ và đạo-đức là một và như nhau [6.421] cần phải được ông bàn tới cái đẹp hay những cái đẹp và ở điểm nào thì cái đẹp và đạo-đức là một.

Trong phần kết-luận cuốn Tractatus Wittgenstein có lời khuyên rất đúng “cái gì không nói lên được chúng ta nên yên lặng.” [W. T., 6.54] Tuy nhiên, ông nên hiểu là ‘sự yên-lặng” không chấm dứt được suy-tư hay vấn-đề chúng ta muốn trình bày bằng lời nhưng không thành-công.

Chúng ta không giải-đáp được những điều trừu-tượng mà chỉ trưng ra những cơ-cấu trừu-tượng mà thôi. Như thế chúng ta hiểu thêm rằng bên cạnh ngôn-ngữ nói [parole] và viết [écriture] tư-duy vẫn âm-thầm hoạt-động trong trí-tuệ và trong thân-xác của chúng ta. Do đó chúng ta mong ước một lúc nào đó thứ ngôn-ngữ tiềm-ẩn ấy chuyển sang chữ hoặc lời.

Trong suốt ba mươi năm Wittgenstein đã “tạm” viết ra Philosophical Investigations, xong năm 1945, xuất bản 1953, 1958, nhằm làm sáng tỏ Tractatus. Thế nhưng, phần hai của cuốn sách này liên quan tới vấn-đề “Nhãn-thức” [Visual Perceptions] lại có vấn-đề. Thay vì nhìn vào chính thực-tại của sự-kiện [object hay Ding] ông đã lấy bút vẽ ra sự-kiện y như khi chúng ta giải-thích vấn-đề. Nhãn- thức có những trường-hợp gọi là “nhìn gà hoá cuốc” dưới một góc- cạnh nào đó, do ảnh-hưởng của không-gian và ánh-sáng… Trên thực-tế, đầu con vịt và đầu con thỏ không giống nhau. Cũng vậy, vòng tròn và mặt người không giống nhau. [W. PI., p. 194] Cho nên chỉ có lối vẽ của Wittgenstein là cố gắng trình bầy hiểu-biết qua ảo- giác của nhãn-thức [the illusionistic views qua Visual Perceptions] chứ không phải là “ảo-giác” của thực-tại.

Chữ “ảo-giác” ở đây không chính xác. Đúng ra đây là một hiện-tượng của nhãn quan về một sự-kiện hay về một vật thoáng qua ‘hình như là” [alleged hay likeness], ví dụ, từ xa chúng ta thấy một xe điện [xe lửa] như một đoạn dài ngoằn noggin di chuyển quanh đồi tựa hồ rắn lượn. Chữ “tựa-hồ” ở đây là một trạng-từ [similarly] cho nên “rắn lượn” và “tầu lượn” là một biểu-thị của nhãn-thức trước một thực-tại “trông như” mà thôi. Như thế, hiên- tương “tựa-hồ” là một “conjunction” để so sánh hoặc ví-von hai sự- kiện có vẻ như nhau.

Wittgenstein chỉ bàn về ngôn-ngữ có những đơn-vị rất nhỏ [atomic] do đó theo ông ngôn-ngữ là những câu nói giản-dị như: “Cho tôi một hòn gạch … hai hòn gạch …”. Phải nói rõ ví-dụ này là cấu-trúc ban-sơ [premordial, basic, primal] cho trẻ em học nói lúc ban đầu. Khác với tiếng chim, tiếng nói hay ngôn-ngữ của con người vừa tích-lũy lại vừa phát-triển theo trí-tuệ và tình-cảm. Chữ mới ra đời chữ cũ chuyển đi. Điểm này chưa được Wittgenstein bàn đến, một phần do chinh ông cũng thấy chính lối viết theo nhận-xét [remarks] của ông nên được phát-triển cho đúng tinh-thần triết-học. Cho nên, chúng ta thấy nhận-xét [remarks] của ông đúng là một lối viết lập-ngôn [émettre une hypothèse/ express an opinion]. Lập-ngôn hay Didactic [adj.] gốc từ Hy-lạp, Didakticós hay La-tin, Diducticus, có nghĩa là lối trình bày tư-tưởng theo giáo-lý như hành văn trong Đạo-đức Kinh của Lão-tử [Lao Tzu, Tao Te Ching, 1963, trans. D. C. Lau, Penguin Books] nghe sâu-sắc nhưng đôi chỗ rất mơ-hồ và nghịch-lý. [Black Max, CWT, and others, 1964, Cornell University, pp. 376-379]. Lập-ngôn trong tiếng Anh cũng có nghĩa là “Ostention” có nghĩa là “Hào-nhoáng” hay “Làm ra vẻ”. Tuy nhiên, thật công bằng nhận xét không phải mọi ý trong Tractatus đều trùng-phức hay định-nghĩa vội vàng.

Chúng ta sẽ trở lại vấn-đề này trong những chương tới khi đọc Siêu-hình Học và Luận-lý của Kant và Heidegger.

Theo Wittgenstein Vật hay Ding có mặt trong thế-gian. Đúng thế vì ngay trong câu đầu cuốn Tactattus ông đã viết: “Thế-gian là tất cả. Đó là sự-thật”. Nếu thế vai trò của Vật [Ding] là gì trong thế- gian? Có phải Vật [Ding] bao gồm cả những tác-phẩm của con người hay không? Xin đọc nhũng câu 2.011, 2.0121 2.0122 cho đến 2.014, 2.02, 2.021, 2.023, 2.032, 2.0271, 2.0272.

Ông nói: “Vật [Ding] là cơ-cấu của chuyện [Sachverhalt], tức là cơ-cấu của thế-gian. Nếu thế, ngôn-ngữ không chỉ là ngôn-ngữ đơn-giản hay là những đơn-vị rất nhỏ [atomic]. Heidegger nhận xét rất đúng “ngôn-ngữ là cái nhà của con người.” Con người change chỉ nói “nhát gừng” con người nói lên tất cả những gì mình muốn nói về trạng-huống bên ngoài hay trạng-huống trong lòng mình cho dù không đúng.

Chúng ta có thật sự biết hay hiểu không-gian và thời-gian trong một tác-phẩm nghệ-thuật, chẳng hạn như thơ, văn, đàn, tranh, điêu-khắc và kiến-trúc hay không? Không! Chúng ta bất chợt và hết sức vô thức liên-tưởng đến không-gian và thời-gian của chính chúng ta. Ví-dụ, đọc hai câu thơ sau đây của Bùi-Giáng:

Liễu ban sơ, hạnh ngân dài, Cổng sô còn vọng điệu Tài-tử qua.

Liễu ban sơ

Điểm uyên-nguyên của không-gian và thời-gian

hạnh ngân dài

Ẩn-dụ về âm-thanh trong không-gian và thời-gian

Cổng sô còn vọng

Điểm trong không-gian

[kết với]

điệu Tài-tử qua

Thời-gian và âm-thanh

Người đọc không sống với Tĩnh và động trong khôn.g-gian và thời-gian ở hai câu thơ trên. Người đọc sống trong không-gian và thời-gian của mình khi đọc hai câu thơ trên. Nhưng vì có liên-tưởng nên có hội-thông. Chinh hội-thông gây cảm-xúc cho người đọc.

Dùng cách lập-ý của John Venn, con người trong thế-gian tức tiểu vũ-trụ lMicrocosm] mặc nhiên liên-kết thế-giới của mình [ego] hay A với thế-giới bên ngoài [others] hay B. Gọi A là hai câu thơ trên và B là người đọc chúng ta hình-dung ra như sau:

Hình chữ nhật tượng trưng cho tiểu vũ-trụ trong đó vòng tròn A và B hội-thông làm thành không-gian F. F càng lớn hội-thông càng mạnh nhưng AB change bao giờ thành một vì chúng là hai đơn-vị uyên-nguyên.

clip_image012


Venn’s Diagram


[Còn tiếp]







APPENDIX

Đoạn văn sau đây, mở đầu của bài viết, là một ví-dụ về sự khác nhau trong vấn-đề chuyển ngữ mặc dù cùng nội-dung.

THE PRE-ONTOLOGY OF THE CONCEPT OF THING/DING IN THE PHILOSOPHY OF KANT AND HEIDEGGER.

Since Kant and then with Heidegger, the cognitive thinking of THING/DING heralds new concepts as of yet these two philosophers investigate such issue quite differently. Kant’s Critique of Pure Reason is prone to scientific approaches. In chapter 3 of this book the theme Ding-an-Sich sets for pre-requisite conditions that the pure understanding of THING should come directly from THING not from personal experience of THING lest subjective opinion meanwhile THING is continuously subject to change [constitutive a priori].

Articles by Nguyễn Quỳnh

Comments


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

@2006-2025 damau.org ♦ Da Màu Magazine
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)