![]()
Nam Lê
(Nguồn: Poetry Foundation)
Năm 2008, khi Nam Lê 29 tuổi, The Boat (Con Thuyền), tác phẩm đầu tay của anh — một tuyển tập truyện ngắn với tầm nhìn toàn cầu mới lạ và sâu sắc — đã gặt hái cho anh nhiều tiếng tăm, giải thưởng văn học, cùng những cam kết giao kèo từ nhiều nhà xuất bản nổi tiếng trên thế giới. Mười sáu năm sau, Nam Lê mới xuất bản tác phẩm thứ hai của mình, nhưng đây không phải là một tiểu thuyết mà là một tập thơ với tựa đề 36 Ways of Writing a Vietnamese Poem (36 Cách Sáng Tác Một Bài Thơ Việt Nam). Theo Nam Lê thì tập thơ này cũng có thể được coi như một bài thơ dài liên kết những mảnh thơ cô đọng.
36 Cách Sáng Tác Một Bài Thơ Việt Nam bày tỏ sự khát khao mãnh liệt của nhà thơ cho một quan niệm sáng tác đột phá và độc lập, thoát ra khỏi mọi hình thức đóng khung, qua tư cách “một nhà văn với bản sắc và tầm vóc phức tạp” – thay vì chỉ là “một sứ giả.” Câu hỏi luôn ám ảnh Nam Lê là “sáng tác trong khi vẫn bị tiểu sử hoặc lịch sử đè nặng, hay chỉ trong vai trò là một “gạch nối” giữa văn hóa bản xứ và gốc gác Việt Nam – thay vì được chấp nhận đương nhiên là một nhà văn có khả năng biến hóa liên tục – thì có nghĩa gì?” Anh vẫn đang cố gắng thoát ra “những gánh nặng của đại diện, sự giải thích, làm sứ giả … cho [những] khuôn mẫu và những câu chuyện hạn hẹp vẫn được dòng chính mặc định hoặc kỳ vọng từ những nhà văn có gốc tị nạn như anh … do có cả một kỹ nghệ xoay quanh [khái niệm đại diện] này.”
“Thì cứ viết về đề tài Việt Nam, có sao đâu?” một nhân vật đã khuyên nhân vật “tôi” trong truyện ngắn đầu tiên, “Love and Honour and Pity and Pride and Compassion and Sacrifice” trong Con thuyền. Nam Lê cũng đã làm như vậy trong 36 Cách Sáng Tác Một Bài Thơ Việt Nam. Nhưng khi liệt kê những trạng thái về bản sắc, di sản văn hóa và gia đình của mình, và ngay cả cấu trúc thi ca, Nam Lê đã phá vỡ mọi tiền định qua cách phân tích “tán tận” của mình – cũng không lạ vì trước đây Nam Lê là một luật sư chuyên về ngành kinh doanh. “Khuôn mẫu sáng tác xung quanh khái niệm ‘thứ thiệt” (authenticity) rất có vấn đề,” anh nhận định. “Khi sáng tác để chứng minh bạn là một [nhà văn tị nạn thứ thiệt], là bạn đã giao dịch qua từ vựng và đặc tính của thương hiệu, do bất cứ điều gì được coi là ‘thứ thiệt’ sẽ loại trừ mọi thứ khác bị coi là “không thiệt,” anh nói, “Tôi nghĩ đó là một cái bẫy, đặc biệt đối với các nhà văn da màu.”
Đối với anh, thi ca thứ thiệt có thể được “định nghĩa như một quá trình hơn là một giải pháp” (danh sách những nhà thơ đã ảnh hưởng quá trình sáng tác của Nam Lê có Terrance Hayes, Monica Youn, Cathy Park Hong, Kaveh Akbar, Solmaz Sharif, Diana Khoi Nguyen). 36 Cách Sáng Tác Một Bài Thơ Việt Nam cũng tràn ngập những ẩn dụ — từ Thích Quảng Đức, Frances Fitzgerald (tác giả quyển Fire in the Lake), đến Wallace Stevens; từ Hồ Chí Minh đến T.S. Eliot, từ Emily Dickinson đến Lý Bạch – đây là một tập thơ, hoặc một bài trường thi chứa đựng những cách đọc khái quát, chống lại mọi cách đọc tuyệt đối.
“Nếu bạn là một đầu bếp yêu nghề, bạn sẽ muốn chế biến những món ăn mà bất cứ ai từ ngoài đường bước vào cũng có ấn tượng, và không mặc cảm khi tận hưởng,” anh nói. “Sau đó, bạn cũng muốn tạo ra một triết lý ẩm thực để tôn vinh truyền thống mà bạn đang thực hành – qua cách ghi nhớ những đầu bếp khác, những bàn tay, khối óc, miệng, lưỡi, đã giúp bạn đạt được ngày hôm nay, ở chốn này.”
[Đinh Từ Bích Thúy lược dịch từ bài điểm sách của Imogen Dewey trên The Guardian]
[30. Tiệm cận]*
[30. Asymptotic], trong 36 Ways of Writing a Vietnamese Poem của Nam Lê (Alfred A. Knopf, New York, 2024)]
Trăng tạo hồ.
Ký ức tạo tâm cảnh
Nơi sẽ áp dụng mọi cứu cánh
Để tạo ra trăng, hồ nước và con người có trí nhớ
Hầu phác thảo một bản ngã thống nhất
Từ một bản ngã huyền ảo.
Cây dâu rỗng ruột, chẳng thể là cây,
Cây bồ đề linh thiêng và cây thốt nốt gai góc,
Chẳng xuất xứ từ Việt Nam – nhưng na ná là được.
Chàng thi sĩ yêu trăng hơn ai hết, Lý Bạch,
Chẳng phải là Rihaku, chẳng phải là người Nhật.
Và Cathay chẳng phải là Trung Quốc.
Và Việt Nam chẳng phải là Trung Quốc
Cũng chẳng do Trung Quốc chế tạo – nhưng na ná là được.
Đạo này không phải của người Việt (chẳng bao giờ có 36 đạo)
Trăng cũng chẳng là trăng muôn thuở – nhưng na ná là được.
Giờ đây người đàn ông đang bốc cháy,
Hồ nước đang bốc cháy.
Cây cọ bên bờ hồ và con chim trên cây cọ đang bốc cháy.
Mặt trăng,
Ký ức là lửa, và thuộc về lửa.
Chẳng có thứ gì là đích thị – nhưng na ná là được.
[30. Asymptotic]
The moon-made lake.
The memory-made mood
That makes whatever it takes
To make a moon and lake and man who remembers
To compose a unity of self
From a fantasy of self.
The hollow mulberry tree, which was not a tree,
The sacred fig tree and the spiky sugar palm,
Are not of Vietnam — but close enough.
The man who most loved the moon, Li Po,
Was not Rihaku, who was not Japanese.
And Cathay was not China.
And Vietnam was not China
Nor made in China — but chose enough.
The Way is not Vietnamese (there are not 36 of them)
Nor is it the same moon – but close enough.
Now the man is on fire.
The lake is on fire.
The palm at the lake and the bird in the palm are on fire.
The moon,
The memory is fire, and of fire,
None of these things quite itself – but close enough.
Cận hồ
Cận hồ là chỉ có thể đạt gần đến chứ không bao giờ chạm đến. Trong toán học là đường tiệm cận, trong triết học là cận hồ. Thuật ngữ cận hồ xuất hiện trong sách Trung Dung. Theo tôi, khái niệm độc đáo này là giềng mối của sáng tạo và tự do.
好 學 近 乎 知. 力 行 近 乎 仁. 知 恥 近 乎 勇. 知 斯 三 者, 則 知 所 以 修 身.
Hiếu học cận hồ trí. Lực hành cận hồ nhân. Tri sỉ cận hồ dũng. Tri kỳ tam giả tắc tri sở dĩ tu thân.(Trung Dung)
Khi các học trò hỏi Khổng Tử về cách đạt được 3 tiêu chuẩn của kẻ sĩ nhân trí dũng thì Khổng Tử nói rằng nhân trí dũng không thể đạt được hoàn toàn nhưng chỉ có thể được gần chạm đên nó thôi, Khổng Tử nói: “Tính ham học gần với đức trí. Làm việc chăm chỉ gần với đức nhân. Trong lòng biết điều hỗ thẹn thì gần với đức dũng. Biết được đủ 3 điều như vậy tức là đã có thể biết trau dồi rèn luyện mà tự sửa mình.”