- Tạp Chí Da Màu – Văn chương không biên giới - https://damau.org -

30 THÁNG TƯ: NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA, BÂY GIỜ ANH Ở ĐÂU?

Ngày ba mươi tháng Tư. Chính xác là ngày ba mươi tháng Tư năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm. Bốn mươi chín năm về trước. Một ngày thay đổi lịch sử và vận mạng của nhiều người, nhiều nhất là những người Việt. Một bên thắng, một bên bại. Đa số bên bại chịu nhiều thiệt thòi, mất mát, nhưng có lẽ không có thành phần nào chịu nhiều mất mát như những người lính Cộng Hòa, người lính Việt của miền Nam. Ngoài mất mát Tổ quốc, tự do, thậm chí phải tù đày, họ phải mang nỗi nhục của người bại trận, nỗi nhục như chiếc bóng đeo đuổi, thoạt tiên có thể là nơi ẩn trốn, rồi dần dà là khoảng tối che khuất, xóa nhòa.

Cần phải nhắc lại là người lính Cộng Hòa đã bị đặt vào thế bại trận trước ngày ba mươi tháng Tư năm 1975, khi đồng minh Mỹ bắt đầu hòa đàm riêng với miền Bắc ở Paris, chính thức xác nhận điều chính quyền Mỹ, truyền thông Mỹ và dư luận Mỹ vẫn hằng ngầm ý, rằng trong cuộc chiến Việt Nam hai phe chính là Mỹ và Bắc Việt. Khi Hiệp định Paris được ký năm 1973 thì sự bại trận đã thành giấy trắng mực đen, không hẳn vì phe “địch” thắng, mà do đồng minh của “ta” muốn lui trong một danh dự phản trắc. Từ Hiệp định Paris cho đến ngày ba mươi tháng Tư năm 1975, người lính Cộng Hòa tiếp tục đổ máu trong cuộc chiến tuyệt vọng, nhưng giữ lại danh vị chiến sĩ của mình. Sau ngày ba mươi tháng Tư năm 1975, họ bị dồn hết vào hai chữ “đáng thương”, vì họ bị đồng minh và chính quyền của họ bỏ rơi, vì họ phải nói những lời thú tội bắt buộc, vì họ phải vào tù, vì họ phải trốn ra nước ngoài, vì họ là những chiến sĩ đã quy hàng (tuy rằng quyết định quy hàng không phải là lựa chọn của chính họ), và trên hết, vì họ dần dà bị bỏ quên.

Đã đành rằng người lính Cộng Hòa đã không còn tồn tại từ ngày ba mươi tháng Tư năm 1975, nhưng lẽ ra họ vẫn còn trong ký ức, trong lịch sử, trong sáng tác? Đáng tiếc thay, cho đến nay, những tác phẩm viết về họ không gây được bao nhiêu tiếng vang. Trong những tác phẩm được biết đến rộng rãi hơn, họ chỉ được đóng vai phụ. Trong nước, nơi tự do có định nghĩa rất hẹp, dĩ nhiên họ đóng vai phụ, và vai ác. Ngoài nước, họ cũng đóng vai phụ, nổi bật nhất có lẽ trong bộ phim tài liệu The Vietnam War (Geoffrey C. Ward, Ken Burns và Lynn Novick) và tác phẩm The Sympathizer (Việt Thanh Nguyễn). Với The Vietnam War, một tác phẩm Mỹ mang một tầm nhìn của người Mỹ, vai chính phải là Mỹ. The Sympathizer, viết bởi một tác giả sinh ra ở miền Nam trước ngày ba mươi tháng Tư năm 1975, một trong những người Việt lưu vong hải ngoại, cũng đẩy người lính Cộng Hòa vào vai phụ. Trên phương diện thực tế, một tác phẩm viết bằng tiếng Anh (như thế đã loại trừ đa số độc giả lính Cộng Hòa và thế hệ đồng thời với lính Cộng Hòa), viết cho độc giả Mỹ, vai chính là người của miền Bắc (một trong hai phe chính trong cuộc chiến Việt Nam) rõ ràng là một quyết đinh “ăn khách”. Thêm vào một số vai phụ lính Cộng Hòa, cuộc đời ly kỳ của một gián điệp hai dòng máu, những tròng tréo của cuộc chiến anh em có người ngoài giật dây, tác phẩm được chú ý, đoạt nhiều giải thưởng, bao gồm giải Pulitzer 2016.

Người lính Cộng Hòa, trong thế “giả vờ” (“ngụy” theo miền Bắc) và phụ tá (theo Mỹ), hẳn không phải là một lựa chọn thu hút (sexy) cho vai chính. Nói thẳng thừng, kẻ bại trận mấy khi được nhớ đến? Vì thế, họ cần một tài năng và ý muốn soi chiếu tất cả những góc độ, sắc màu xấu đẹp, những hỷ nộ ái ố, cuộc chiến đấu thất bại của họ, tóm lại một cuộc đời thường, thậm chí tầm thường, của một con người. Như Don Quixote của Miguel Cervantes, như Paul Baumer của Erich Maria Remarque, như Ivan Denisovich của Aleksandr Solzhenitsyn.

Ngày ba mươi tháng Tư năm nay, người lính Cộng Hòa trẻ nhất khi miền Nam sụp đổ đã trên sáu mươi, đúng hơn là gần bảy mươi. Với đa số dân chúng Việt thuộc những thế hệ sau 1975, trong và ngoài nước, cuộc chiến Việt Nam chỉ còn là thứ bất liên can, câu chuyện kể, hay đề tài trong lớp học. The Sympathizer đang được chuyển thành phim bộ (HBO), còn người lính Cộng Hòa vẫn phải chờ được chọn làm vai chính của một tác phẩm có tầm cỡ. Trong lúc dấu vết của họ chưa phai nhạt hẳn, có lẽ cần phải kêu gọi: người lính Việt Nam Cộng Hòa, bây giờ anh ở đâu? (1)

04/2024

Hồ Như

bài đã đăng của Hồ Như

4 Comments (Open | Close)

4 Comments To "30 THÁNG TƯ: NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA, BÂY GIỜ ANH Ở ĐÂU?"

#1 Comment By Long Nguyen On 30/04/2024 @ 8:29 am

Nước CHXHCNVN

“Đã đành rằng người lính Cộng Hòa đã không còn tồn tại từ ngày ba mươi tháng Tư năm 1975, nhưng lẽ ra họ vẫn còn trong ký ức, trong lịch sử, trong sáng tác? Đáng tiếc thay, cho đến nay, những tác phẩm viết về họ không gây được bao nhiêu tiếng vang.” (trích, Hồ Như)

Cứ giả dụ như người lính VNCH “đã không còn tồn tại”, thử điểm qua các thứ mà HN đang nêu ra xem sao nhé.

. trong ký ức. Nhưng trước hết là ký ức của ai? Nếu của con cháu lính VNCH thì họ phải biết phải nhớ chứ. Tôi nè, tôi không quên ba tôi và chú bác tôi. Họ là lính VNCH, và họ đã qua đời hầu hết. Hay là ông ba vợ tôi, ở tù VC 12 năm, ông HO.28, qua Mỹ năm 1993, đem theo 3 đứa con. Ở Mỹ tiếp tục đi làm đi học. Tiếp tục nuôi con lớn khôn đàng hoàng. Tiếp tục gởi tiền dành dụm về VN giúp đở thân nhân nghèo khổ. Cho đến khi ông lìa đời.

. trong lịch sử. Lịch sử của ai viết? Của nước VNCS? Chắc là có. Có điều, người CS rất triệt để trong lằn ranh ý thức hệ ta và địch. Vậy, câu trả lời về sự “tồn tại” của người lính VNCH ở đây có cần phải biện bạch hay không, nếu giả dụ tôi như là một người lính VNCH nào đó !

. trong sáng tác. Lĩnh vực này khá là nhiêu khê. Ngay người lính của VNCS hiện tại họ cũng còn “sống dở chết dở” khi cầm bút viết về chính người lính của họ. Còn những người cầm bút ở hải ngoại gốc lính VNCH, có chứ. Phan Nhật Nam, Hà Thúc Sinh, Trần Hoài Thư, Trần Doãn Nho, Tô Thùy Yên … đó. Có thể chưa ai đưa vào tác phẩm văn chương hình ảnh người lính VNCH thật vang dội “hoành tráng”. Nhưng không có trong tác phẩm thì họ vẫn có tiếng nói lương tri trong đời thường chứ dù ít dù nhiều.

Tóm tắt, nước VN hiện tại là nước VNCS. Nó là một yếu tố chính quyền, quyền bính và quyền lực sờ sờ rất lớn. Theo tôi, nó là yếu tố không thể không kể đến về các “vấn nạn” tại sao ký ức, lịch sử và sáng tác về hình ảnh người lính VNCH khá là mờ nhạt. Mờ nhạt theo cái nghĩa khi so sánh với loạt phim truyền hình lấp lánh ánh sáng khôi hài diễu nhại (satire) kiểu Mỹ The Sympathizer mà tác giả Hồ Như đã nêu ra.

Ngoài ra, không cứ gì phải trực tiếp là người lính VNCH thì mới sáng tác về đề tài này được. Ai, già trẻ lớn bé gì, cũng có thể viết được. Nếu họ có tài viết, có kiến thức và óc tưởng tượng của fiction. Patrick Modiano dành hết tâm lực cho sự nghiệp viết những cuốn sách với bối cảnh nước Pháp thời Đức Quốc Xã chiếm đóng, thời kỳ mà ông chưa sinh ra đời.

#2 Comment By Càn Di On 03/05/2024 @ 5:06 pm

Phản hồi của bạn đúng trên phương diện cá nhân (personal space), nghĩa là người lính VNCH luôn ở trong tâm thức của chúng ta. Chúng ta nhớ đến cha, anh, chú, bác và cả bạn bè trưởng thượng đã phục vụ trong quân đội VNCH. Tuy nhiên trên bình diện vĩ mô (public space) người lính VNCH chỉ là vai phụ, vai phản diện, vai nhạt. Khi đọc the Sympathizer tôi rất phẫn nộ vì cách diễu cợt và bôi xấu một sĩ quan VNCH tuẫn tiết vào ngày 30-4. NTV đã bán danh dự của người lính VNCH câu khách với dòng chính Hoa Kỳ và đoạt giải Pulitzer. Tôi khinh tác giả Sympathizer.

#3 Comment By Long Nguyen On 07/05/2024 @ 5:29 pm

Vai chính, vai phụ

“… trong cuộc chiến Việt Nam hai phe chính là Mỹ và Bắc Việt.” (trích)

Nhưng cuộc chiến đó xảy ra ở đâu? Trên lãnh thổ nước VNCH. Theo tôi, đây là mấu chốt của vấn đề. Từ đây sẽ bật ra nhiều câu hỏi và câu trả lời rất thú vị. Thứ nhất, vai “phụ” VNCH là nạn nhân. Thường dân VNCH đã tử thương bao nhiêu? Bao nhiêu người lính VNCH đã nằm xuống trên mảnh đất quê hương của họ? Mắc mớ gì lính Mỹ phải trực tiếp đánh nhau với VC và chịu tổn thất?

Hiện nay, chiến cuộc ở Ukraine đang sôi sục. Ai chính ai phụ? Nga chính là kẻ xâm lăng tàn phá nước Ukraine. TT Zelensky chính là người anh hùng lãnh đạo toàn dân toàn quân chống lại quân Nga. Khối NATO có thể coi là “vai phụ”. Và để trả lời câu hỏi “Mắc mớ gì lính Mỹ phải trực tiếp đánh nhau với VC và chịu tổn thất?”, tôi có thể trả lời: Chắc chắn là bởi vì yếu tố Trung Cộng đằng sau lưng lính VC đang xâm lăng miền Nam lúc đó.

Ít lắm người Mỹ đã có viễn kiến không sai về yếu tố TC sẽ hoành hành khu vực. Hiện nay đã cho thấy như vậy. Nước VN không khác gì một thứ quận huyện chư hầu của China. Thực tế trong quan hệ kinh tế giáo dục và đào tạo chính trị, China chỉ “bang giao” với VN cấp tỉnh là cùng. Và còn các quốc gia Cambodia, Lào, Đường biển ngoài khơi VN, Miến Điện, kể cả Philippines.

#4 Comment By Đinh Từ Bích Thúy On 16/05/2024 @ 8:45 am

Độc giả Càn Di hoặc chưa đọc kỹ tiểu thuyết The Sympathizer của Việt Thanh Nguyễn, hoặc dễ quên, nên đã lẫn lộn tiểu thuyết này với bộ phim The Sympathizer của đạo diễn Nam Hàn Park Chan-wook khi hùng hồn phát biểu, nhưng không có một dẫn chứng nào, rằng “Khi đọc The Sympathizer tôi rất phẫn nộ vì cách diễu cợt và bôi xấu một sĩ quan VNCH tuẫn tiết vào ngày 30-4.”

Thật ra cảnh quay xác người sĩ quan tuẫn tiết trước ngày Sàigòn thất thủ là ở Episode 1, trong bộ phim The Sympathizer, theo kịch bản và sự đạo diễn của Park Chan-wook, chứ cảnh này không có trong tiểu thuyết của Việt Thanh Nguyễn. Nhưng cảnh trong phim, dù hiểu cách nào, cũng không thể bị coi là một “cách diễu cợt và bôi xấu một sĩ quan VNCH,” vì cảnh này chỉ ghi lại hình ảnh lịch sử về sự tuẫn tiết của Trung tá Nguyễn văn Long dưới bậc thềm tượng đài Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) trước Hạ nghị viện VNCH (nay là Nhà Hát Sàigòn), để đối chiếu thảm kịch của một chiến sĩ có lương tri và hào khí với một ông tướng nằng nặc đòi CIA can thiệp để đưa cả gia tộc và những cận vệ trung thành của ông chạy trốn sang Mỹ. Hình ảnh ông tướng (tên trong phim là Tướng Trọng, xếp của điệp viên nhị trùng) chào vĩnh biệt xác người sĩ quan dưới quyền ông nên được hiểu như một hình thức chế diễu ông tướng đầy hoang tưởng về sự vĩ đại của mình chứ không phải là chuyện bêu xấu người chết.

Trong nguyên bản Anh ngữ của tiểu thuyết The Sympathizer, ở trang 24 (nxb Grove Press, 2015), Việt Thanh Nguyễn chính ra chỉ trích tượng đài TQLC khổng lồ và thiếu thẩm mỹ, chứ không hề đề cập đến sự tuẫn tiết của Trung tá Nguyễn văn Long.

Theo nhà văn, do tượng đài “lính chổng mông” chỉa mũi súng về phía Hạ nghị viện, nên có thể được hiểu đây là chế độ quân phiệt thao túng, “bully” Cơ quan Lập pháp: “… hai người lính Thủy Quân Lục Chiến khổng lồ đang lao đầu về phía trước, người hùng phía sau chúi thẳng mũi vào đít anh bạn …. Tôi chỉ băn khoăn không hiểu họ đang bảo vệ những người dân đang thơ thẩn bách bộ dưới ánh nhìn của họ trong một ngày đẹp trời, hay cũng rất có thể là họ đang tấn công vào Hạ nghị viện với hai họng súng máy chĩa thẳng” (“…the two massive marines charging forward, the hero in the rear taking a rather close interest in his comrade’s posterior …. [A]ll I could ponder was whether these marines were protecting the people who strolled beneath their gaze on a sunny day, or, just as likely, were attacking the National Assembly at which their machine guns aimed.”)

Việt Thanh Nguyễn sau đó dẫn chứng biến cố đảo chánh 1963 đã giết chết hai anh em nhà Ngô Đình và kết thúc nền Đệ Nhất Cộng Hòa, cùng những hỗn loạn chính trị mà các tướng tá đã gây ra trong lịch sử VNCH. Quan điểm này không mới lạ, vì Việt Thanh Nguyễn đã dùng nhiều tài liệu nghiên cứu để dựng truyện, và cũng đã có nhiều người dân Sài gòn trước 1975 lên tiếng về sự “phản cảm” của tượng đài TQLC. Do đó tiểu thuyết của Việt Thanh Nguyễn chỉ dựng lại chi tiết lịch sử này.

Theo một nguồn trên mạng thì tượng đài TQLC đã được hình thành bởi những người lính không nhiều kiến thức mỹ thuật nhưng vẫn sốt sắng tuân lệnh thi hành dự án … vĩ mô nhưng thiếu cân nhắc của cấp trên. Sự chỉ trích về kích thước lệch lạc của tượng đài, với “nòng súng đại liên quá ngắn, trong khi đó ‘cặp mông’ của hai chiến sĩ lại quá to …” không có nghĩa là dân Sàigòn bôi xấu chiến sĩ, mà phản ảnh tinh thần tự do ngôn luận đã dám nêu lên sự lố bịch mù quáng của giới lãnh đạo.

Nếu có thể, nên đọc nguyên bản Anh ngữ vì bản dịch Việt ngữ Kẻ Nằm Vùng của Lê Tùng Châu – tuy là một nỗ lực dịch thuật tự nguyện đáng được nhìn nhận, với những ghi chú chi tiết và phong phú, tiếc thay cũng có nhiều lỗi chưa được biên tập hay gạn lọc vì có lẽ dịch giả Lê Tùng Châu không hiểu rõ các cấu trúc và từ ngữ tiếng Anh. Trước đó, một bản dịch có hợp đồng chính thức của Nhã Nam thì lại bị chính quyền Việt Nam cấm không cho phát hành ở trong nước. Hiện nay, nhà văn Việt Thanh Nguyễn đang vận động để một bản Việt ngữ đáng tin cậy có thể được phổ biến sâu rộng trong cộng đồng người Việt ở ngoài nước cũng như ở trong nước, hầu giảm bớt những hiểu lầm dễ bị gây ra bởi sự cách biệt về ngôn ngữ, kiến thức văn hóa và lịch sử, cũng như quan điểm chính trị.

Trân trọng,
Đinh Từ Bích Thúy