Home » Tùy bút Email bài này

Có đi cả đời…

0 comment ♦ 14.03.2023
Hình đại diện

 

Nói dối là cái tật hầu như ai cũng mắc phải. Ngày nào tôi cũng nói dối ít là một lần. Còn bạn thì sao nhỉ? Bạn có thường nói dối không? Tôi nghĩ là có. Giả dụ như tôi với bạn tình cờ gặp nhau. Bắt gặp bạn đang cầm cuốn truyện của tôi trên tay, tôi hỏi bạn thấy tay này viết được không. Nếu bạn không biết “tay này” là kẻ đang chuyện trò với bạn, câu trả lời của bạn sẽ có nhiều phần sự thật hơn. Nhất định là như thế. Còn như biết tôi là tác giả, chắc hẳn bạn sẽ gật gù khen hay. Hoặc ít ra bạn cũng sẽ ngần ngừ và thêm một chút sự thật vào câu trả lời đại khái là có bài hay có bài không hay.

Còn tôi, buổi sáng nào gặp đồng nghiệp ở chỗ làm, nghe câu How are you là cứ như phản xạ tôi I am fine, thank you ngay lập tức dù đêm hôm trước không chợp mắt được vì cứ ho sù sụ, và lúc ông đồng nghiệp hỏi câu ấy thì trong đầu tôi kẻ nào đó vẫn xoáy những mũi khoan nhói buốt.

Những lần nói dối ấy chẳng làm hại ai và đôi khi còn cần thiết nữa. Không tin khi bị hỏi How are you bạn cứ thử trả lời là I am very sick! tôi không khỏe, tôi ốm đau, tôi mệt mỏi, vị đồng nghiệp có lòng sẽ hỏi bạn tới tấp về chứng bệnh của bạn, hoặc là bạn sẽ được nghe vị đồng nghiệp ấy kể liên tu bất tận về chứng đau lưng, nhức mỏi của ông hay bà ta.

Tóm lại, những câu nói dối vô hại chẳng có gì phải bận tâm.

Tuy nhiên, nói dối cũng quan trọng ít nhiều tùy theo bạn nói dối với là ai.

Lúc nhỏ thỉnh thoảng chúng ta nói dối với bố mẹ. Khi bị hỏi đã học thuộc bài chưa, đã làm bài tập xong chưa, thế nào chẳng có lúc đứa bé – là bạn, là tôi – nói dối. Lớn lên, đi học xa, đi làm xa, chúng ta cũng thỉnh thoảng nói dối khi không về thăm bố mẹ những ngày lễ nghỉ vì còn bận bịu với “ai đó”. Chúng ta sẽ nói dối rằng kỳ thi sắp tới, con phải tập trung nhiều thời gian vào việc học, đại loại như thế.

Tôi không biết loài vật có nói dối không, vì không hiểu ngôn ngữ của chúng nhưng tôi nghĩ dường như nói dối là nét đặc trưng của con người.

Và vì chính mình cũng hay nói dối để người khác yên lòng nên khi thăm hỏi ai – đặc biệt là người thân – tôi thường nhắc mình rằng “chắc nó nói dối để cho mình yên tâm đấy thôi!”

Thử hình dung bạn có cô con gái. Nó ra trường đi dạy học ở tận miền thượng du miền Bắc Việt Nam. Ở nơi mà cái tên đọc ra, âm thanh nghe khập khiễng, trắc trở như đôi chân què cụt bước thấp bước cao trên mặt đất gồ ghề cát, đá. Nó đi biền biệt năm sáu tháng trời. Là cha mẹ, bạn muốn khăn gói lên thăm nó nhưng lần nào nó cũng gạt đi là đừng lên. Rằng nó sống ở đó thoải mái. Mọi chuyện đều được “Trên” lo chu đáo. Thỉnh thoảng bạn tìm cách gọi điện thoại cho nó, nghe nó cười nói vui vẻ bằng cái giọng nghe như người ngạt mũi. Bạn hỏi có ốm đau gì không mà sao giọng nói nghe như ngạt mũi thế, nó bảo ở miền thượng du, không khí loãng nên giọng nói của người ta cũng nghe lạc đi như giọng người đang cảm cúm nhưng thật ra nó “khỏe như voi ấy!”

Nghe con gái khoe như thế bạn yên lòng. Và mỗi lần nói chuyện được với con gái qua điện thoại, bạn thấy yên tâm. Bạn ngủ ngon, bạn ăn thấy ngon miệng, vì bạn biết giọt máu của mình đang làm một việc có ý nghĩa là đem chút chữ nghĩa lên chốn núi non chia cho đám trẻ con nghèo miền thượng du. Bạn ăn ngon, ngủ yên bởi bạn yên lòng khi nghe con gái khoe trên ấy ăn uống đầy đủ, chỗ ở khang trang dễ chịu.

Bạn đâu biết rằng cô con gái ngoan của bạn vừa nói dối với bạn.

Bởi lúc bạn gọi điện thì con bé đang khóc. Vì nhớ nhà, vì buồn chán, vì cơ cực. Thế nhưng nghe giọng của bố, của mẹ, nó vội đổi giọng làm vui, nó còn khoe mới ăn tiệc ở nhà một đứa học trò, nó bảo giọng nó nghe như đang khóc tại vì nó ở vùng cao, không khí loãng.

Bạn đâu biết nói chuyện điện thoại xong, cô con gái ấy chạy vội xuống ngồi cạnh bếp lửa để hong cho ấm những ngón tay buốt giá. Gió núi lùa qua vách lá tả tơi của nếp nhà, đem cái lạnh quấn vào da thịt, con bé quơ vội chiếc áo vá chằng chịt phơi trên sợi dây dăng ngang bếp lửa, mặc lên người. Hơi lửa, mùi khói quyện cay sống mũi. Những áo quần phải phơi trên bếp lửa cho khô bởi nếu phơi ngoài trời, trong vũng sương mù dày đặc, sẽ ẩm ướt không biết bao lâu. Ở nơi xa, bạn không bao giờ nghĩ ra con gái bạn và bạn của nó – cũng là cô giáo tiểu học – được đặt cho cái biệt danh “người khói” bởi áo quần lúc nào cũng ươm mùi khói.

Bạn khoe với người nhà là con gái bạn trên đó ăn uống toàn những của ngon vật lạ. Bạn đâu biết những của ngon vật lạ ấy không gì khác hơn rau cải mèo, thứ rau duy nhất sống được trong khí hậu lạnh của vùng cao, và vì chỉ ở vùng cao mới có nên được xem là “đặc sản”. Bạn thân mến, cái món đã được tấn phong là đặc sản ấy đương nhiên là quý, nhưng chưa chắc ăn đã ngon. Nếu bạn hỏi tới, cho tới lúc con gái bạn phải nói ra sự thật, nó sẽ kể rằng rau cải mèo đắng như thuốc, cứ phải ăn hết ngày này qua ngày khác đến phát sợ, nhưng đói nên dù nhiều lúc nôn ra vì không nuốt trôi, sau đó vẫn cứ phải ăn để sống.

Con gái bạn bảo chỗ ở khang trang, bạn yên lòng. Bạn hình dung căn phòng vuông vức, có cả rèm cửa sổ để che nắng, có chiếc giường xinh xắn, có bàn làm việc (con gái bạn là cô giáo, phải cho nó cái bàn để ngồi chấm bài cho học trò chứ), có tủ sách nho nhỏ, có ngọn đèn dầu be bé (bởi trên vùng cao chắc là không có điện rồi). Trên vách tường treo mấy bức tranh phong cảnh quê hương. Có hình Tháp Rùa, với Hồ Gươm, có hình vịnh Hạ Long, có hình chợ Bến Thành. Toàn những phong cảnh thân yêu đất Việt. Hình ảnh đẹp biết bao nhiêu. Dĩ nhiên cũng có một tấm hình ông già râu ria, áo ngoài khoác hờ trên vai, giơ tay vẫy chào muôn dân. Dù là trong tưởng tượng bạn cũng không tránh được hình ảnh ấy.

Đó là hình ảnh trong trí tưởng tượng của bạn; ông bố, bà mẹ có con làm cô giáo ở tận miền thượng du phía Bắc, nhưng nếu bạn bất ngờ ghé thăm, con gái bạn sẽ khổ tâm tới nghẹn lời khi phải dẫn bạn vào lán nhà lụp sụp, chung quanh gài những miếng nhựa xanh đỏ chắn gió, bạn hỏi nấu ăn ở chỗ nào, nó sẽ ngạc nhiên khi bạn không nhận ra được ba viên gạch đen cháy chỏng chơ trên nền đất, cạnh mấy cái nồi móp méo và một bó nhỏ những cành cây khô dùng làm củi.

Bạn hỏi, “Thế tối mấy chị em ngủ ở đâu?” “Mấy chị em” gồm có con gái của bạn và hai cô giáo cũng đồng trang lứa với con gái bạn. Hỏi vậy là bạn làm khó con gái bạn, bởi nó ngập ngừng mãi mới chỉ cho bạn thấy mấy tấm ván kê sát nhau. Mấy cái gối xẹp cũ kỹ, và mảnh chăn xám cuộn ở một đầu những tấm ván. Bạn nhìn kỹ thấy hai tấm ván cao không đồng đều. Con gái bạn bảo tối ba chị em ngủ ở đó. Trời lạnh phải đốt một đống lửa lên cho ấm. Có khi lạnh quá, lửa cũng không giúp được gì, “phải ôm chăn qua nhà dân, ngủ nhờ quanh bếp lửa.” Bạn chỉ chỗ hai tấm ván chênh nhau bên cao bên thấp, bạn chưa kịp hỏi, con gái bạn đã nhanh nhảu bảo, “Tụi con chia nhau ra nằm chỗ nửa thấp nửa cao, có khó ngủ nhưng phải cố gắng thôi.”

Bạn thăm hỏi về hai cô gái – cũng là cô giáo – ở chung với con gái bạn, và bạn nhìn ra những cảnh đời mà bạn không thể nào nghĩ có người phải trải qua. Vợ dạy học trên núi, chồng làm dưới đồng bằng, con gái lớn ở với bà nội, con gái út ở với bà ngoại. Những thành viên của một gia đình nhỏ bé sống cách nhau hàng trăm cây số. Và những con đường đưa họ tìm đến với nhau là đường núi chênh vênh miền thượng du, là đường quê khấp khểnh ở nông thôn miền Bắc. Giờ giấc làm việc của hai vợ chồng khác nhau. Nhiều khi hai ba tháng trời họ không gặp nhau. Mẹ gọi điện về, bà nội đưa điện thoại cho đứa bé, đứa bé còn nhỏ quá, chẳng nhớ được gì; gọi sang bà ngoại, bà đưa điện thoại cho con bé cháu, con bé cháu trốn vào góc nhà tấm tức khóc. Nếu bạn là người mẹ trẻ xa nhà, xa chồng, xa con… như cô giáo vùng cao ấy, bạn sẽ làm gì?

Trở lại chuyến viếng thăm trong tưởng tượng. Nếu bạn thắc mắc tan học, bọn học trò về hết thì cô giáo làm gì? Bạn sẽ được nghe kể rằng bóng tối nơi ấy lan đi rất nhanh. Mặt trời chỉ vừa mới lặn là mặt người đã nhọ nhem. Và thoắt một cái, họ đã chìm trong bóng đêm. Các cô sẽ lần mò trong bóng tối, thắp nến, vội vàng nhai miếng cơm chiều, rồi lên giường, và co ro nhớ nhà.

Buổi sáng thức dậy, những con mắt sưng húp nhìn nhau, thầm hiểu với nhau.

Bạn thân mến, tôi mừng vì những cô giáo vùng núi Lào Cai kia cứ lập đi lập lại những câu nói dối với bố mẹ họ. Giả như các cô nói thật, bố mẹ các cô làm sao có thể yên lòng. Nếu các cô nói sự thật mẹ các cô sẽ khóc hết nước mắt, như tôi, khi đọc bài viết hiếm hoi của một nhà báo trong nước, người – thay vì “giật tít” ồn ào những chuyện hoa hậu lộ hàng, những chuyện siêu sao ăn xài vung vít, những chuyện diva phát ngôn bừa bãi, những chuyện soái ca đình đám nọ kia, những chuyện lường gạt, đánh ghen, cướp chồng, giật vợ rẻ tiền – đã thắp sáng núi non vùng thượng du Việt Bắc bằng một bài viết tuyệt vời; và tôi không thể không viết ra đây những câu trò chuyện rất thiếu nữ, rất trẻ thơ của ba cô gái mới ngoài hai mươi tuổi – cái tuổi mà những người đồng trang lứa ở miền xuôi đang ăn nằm với iPhone, với những ứng dụng, những đồ chơi điện tử, với thời trang, với bia rượu, với sắc dục.

Tưởng tượng trước khi tiễn bạn (tức là bố mẹ của một cô) xuống núi, sau chuyến thăm viếng bất ngờ, các cô đứng với bạn trên đỉnh núi Pờ Hồ Cao ở Trung Lèng Hồ, Bát Xát, tỉnh Lào Cai (đỉnh cao nhất của dãy Hoàng Liên Sơn có dân sinh sống), bạn đứng với các cô giáo vùng cao, nghe gió hú bên tai, nghe cây lá rì rào và bạn sẽ nghe được giọng trẻ thơ của các cô giáo vùng cao trò chuyện (không còn là trong tưởng tượng, mà là) ngay giữa hoang vu núi đồi, mù mịt sương lạnh như thế này:

“Sa Pa ngay dưới núi, đêm quang mây, chị em vẫn ra bậu cửa nhìn xuống thị trấn li ti ánh điện như cái bánh đa vừng!”

“Chỗ ấy nhiều người nên điện mới sáng thế! Chắc nhiều hoa quả, sữa chua ăn vặt!”

“Có đi cả đời, cũng chẳng đến được Sa Pa!”

Tôi thích quá hình ảnh cô gái ví von “Thị trấn li ti ánh điện như cái bánh đa vừng”, tôi yêu lắm cái nhận xét quá đỗi trẻ thơ rằng “Chắc có nhiều hoa quả, sữa chua ăn vặt!” Và tôi thương vô cùng cái ngậm ngùi trong tiếng thở dài “Có đi cả đời, cũng chẳng đến được Sa Pa!”

Hơn bốn mươi năm trước, bọn sinh viên chúng tôi rời “mái trường xã hội chủ nghĩa”, thuộc nằm lòng cái câu “đi bất cứ nơi đâu tổ quốc cần”, cũng đã có dịp ôm bụng đói ở những nơi tăm tối, đã có dịp ngồi co ro trên chiếc chõng tre, nghe tiếng nước nhỏ giọt từ mái tranh, long tong xuống cái sô trên nền đất căn lều lụp xụp giữa cơn mưa, đã có dịp thắt tim khi đang ngồi đọc sách bên ngọn đèn tù mù, chợt vật gì đó rơi bộp xuống nền đất giữa nhà, cầm đèn lên soi, thấy con rắn ngoằn ngoèo bò ra khe cửa.

Cứ ngỡ bốn mươi năm sau, thế hệ đàn em ở quê nhà sẽ chẳng còn phải sống cảnh đời u ám ấy, ngờ đâu – chẳng khác gì những cô gái Lào Cai, dù cách Sa Pa chỉ một chặng đường cũng đi cả đời vẫn không đến được – thì ra một kiếp sống khá hơn cho những con người không quyền thế, không tiền tài, không con ông cháu cha, không vây cánh chức quyền… ở cái đất Việt Nam bây giờ thì dẫu chờ cả đời cũng chẳng bao giờ có được.

 

Articles by Hoàng Chính

Comments


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

@2006-2025 damau.org ♦ Da Màu Magazine
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)