Home » Biên Khảo, Lịch Sử, Nghiên Cứu, Nguyệt san Tình Thương, Nhận Định, Tư Liệu, Văn Học Miền Nam Việt Nam 1954-1975 Email bài này

Một thời Đại Học Sài Gòn: Giáo sư Trần Ngọc Ninh và Di ngôn ẩn giữa bao mùa tuyết xưa (Kỳ 4)

0 comment ♦ 23.07.2026
Nguyệt san Tình Thương - 1st issue
  1. CHỦ QUYỀN QUỐC GIA và VIỆN TRỢ của HOA KỲ: Nguyệt san TÌNH THƯƠNG và đặc san LÊN ĐƯỜNG

  2. Tình Thương– Nguyệt san “Tranh đấu Văn Hóa Xã Hội”, Đại Học Y Khoa, Viện Đại Học Sài Gòn


Nguyệt San Tình Thương do Sinh Viên Y Khoa Chủ Trương: từ trái, Số báo đầu tiên, Số 18 với chủ đề Thanh Niên Hướng Về Nông Thôn, Số 24 Đặc Biệt về Đại Hàn với chủ đề Chiến Tranh và Hòa Bình (Nguồn: blog Trần thị Nguyệt Mai)

Theo chủ nhiệm/thành viên sáng lập Phạm Đình Vy, Tình Thương là nguyệt san với phương châm “Tranh đấu Văn Hóa Xã Hội” do “Sinh Viên Y Khoa” chủ trương và xuất bản, từ tháng giêng, 1964 đến khoảng tháng 8, năm 1967. Hiện nay, theo tôi nhớ, Thư viện tại Viện Đại Học Cornell (Hoa Kỳ) là nơi lưu trữ ngót 30 số, nghĩa là chỉ đến giữa năm 1966. Một vài thư viện tư nhân tại Hoa Kỳ, nếu không lầm, có nhiều hơn, nhưng chỉ cho phép tham khảo tại chỗ mà lúc đó (2007-2010) tôi lại không có phương tiện di chuyển xuyên tiểu bang. Dù sao, gần 2/3 số báo tồn tại vẫn cung cấp một số tài liệu đủ dồi dào. Trước khi qua đời, nhà văn/nhà thơ/nhà kỹ thuật Trần Hoài Thư đã sưu tầm và đưa Bộ Tình Thương lên mạng khiến việc nghiên cứu hay bổ sung tài liệu trở thành dễ dàng. Hơn thế nữa, ông còn thiết kế rất an toàn để độc giả có thể tải xuống, không phải qua bất cứ thủ tục hay trở ngại nào. Tôi sẽ nêu rõ xuất xứ khi trích dẫn một  số Tình Thương mà tôi có nên quý độc giả càng có thể theo dõi thêm, theo link tại đây: https://tranhoaithu42.com/2021/05/17/nguyet-san-tinh-thuong-tai-chinh-trang/.

1.1    Hoàn cảnh thành lập nguyệt san Tình Thương và Ban Biên tập

Hơn 40 năm sau khi Tình Thương đình bản tại Sài Gòn, một số sinh viên nay đã thành bác sĩ, ghi lại quãng đời đã qua ấy trong Tập san Y Sĩ -Chủ đề “Một thời Nhân bản” số 84, năm thứ 35, Tháng giêng. 2010, Canada. Cùng với bộ Tình Thương, họ cung hiến một cái nhìn nội bộ–kết tinh từ bài viết của nhiều nhân chứng trong ban biên tập–đã góp phần xây dựng và duy trì Tình Thương 1964-1967 như  Trần Mộng Lâm (trang 30-39), Ngô Thế Vinh (trang 40-53), thành viên sáng lập Trần Xuân Ninh (trang 54-57), Đặng Ngọc Cương (trang 58-60); Đỗ Hữu Tước (trang 61-66), Đặng Vũ Vương (trang 67-70), Nghiêm Đạo Đại (trang 71-73), Nguyễn Thanh Bình (trang 74-77), Vũ Thiện Đạm (trang 78-80), Bùi Thế Khải (trang 86-90) , Lê Văn Châu (tức nhà thơ Trang Châu), Chủ nhiệm/ thành viên sáng lập Phạm Đình Vy (trang 98-100).

Tập san Y Sĩ -Chủ đề “Một thời Nhân bản” do Hội Y sĩ Việt Nam tại Canada phát hành.  Ban Điều hành tập san lúc ấy gồm Chủ nhiệm Lê Quang Tiến cùng Chủ bút Thân Trọng An và Ban Biên tập gồm có: Thân Trọng An, Nguyễn Thanh Bình, Hoàng Chính, Trần Văn Dũng, Trần Xuân Dũng, Trần Mộng Lâm, Trần Văn Tích. Phần Trình bày do Lê Thành Ý phụ trách.

Tập san Y Sĩ số 84, Năm thứ 35, Tháng giêng. 2010
Hội Y sĩ Việt Nam tại Canada xuất bản

Y sĩ Quân Y, Thủy quân Lục chiến/ Bác sĩ Phạm Đình Vy–trong bài tưởng niệm Y sĩ Thiếu tá Quân Y/Bác sĩ Phạm Văn Lương–cho biết chi tiết lúc mới thành lập Tình Thương:

– Nhớ Phạm Văn Lương, Ủng hộ viên tâm huyết báo Tình Thương ngay trong thai nghén,

-Đồng tưởng niệm đến các Tình Thương viên: Nguyễn Vĩnh Đức, Nghiêm Sỹ Tuấn, Bùi Thế Hoành, Lê Sỹ Quang, Hoàng Thiện Căn, Nghiêu Đề và các Giáo sư Phạm Biểu Tâm, Ngô Gia Hy Trần Văn Bảng, Nguyễn Hữu…- Tôi không có dịp quen biết Phạm Văn Lương trong hành lang của các bệnh viện thực tập ở Sài Gòn vì anh học trên tôi nhiều năm và là sinh viên Quân y (…) Chúng tôi đồng ý và thống nhất một điểm, sinh viên phải vùng dậy đứng lên và hoạt động trường kỳ để gánh vác trách nhiệm vì không ai hy sinh cho mình cả. Tôi đưa ra ý định “ra báo” để làm cơ quan ngôn luận tranh đấu văn hóa, xã hội trường kỳ của Sinh viên Y khoa vì dư luận rất tin tưởng nơi các “thầy thuốc tương lai” như bất cứ quốc gia nào trên thế giới, nhất là Á Châu. Để thực hiện bước đầu giấc mơ ấy, chúng tôi đã tổ chức hội thảo ở sân trường Y khoa Sài Gòn và xuống đường nhiều lần ở trước Quốc hội, ban đầu chỉ có sinh viên Y khoa và sau đó có dân chúng tham dự (…) Tôi và Phạm Văn Lương cảm thấy nhiều lạc quan trong ý đồ “làm báo” trường kỳ. Phòng họp là Amphithéâtre của trường Y khoa, ngày hôm đó 03-11-1963 đầy sinh viên và tinh thần sôi nổi như chưa từng có, với sự góp sức của anh Trần Xuân Ninh, chúng tôi quyết định hai vấn đề đưa ra trước hội thảo của SVYK ngày hôm ấy để được chấp thuận:

-Ra báo nguyệt san để làm cơ quan ngôn luận tranh đấu văn hóa xã hội của SVYK Sài Gòn.

-Chấp nhận lấy tên Tình Thương do tôi đề nghị và bầu tôi ở chức Chủ Nhiệm.

Ở chức Chủ Nhiệm Tình Thương, tôi hứa với hội thảo là tờ báo sẽ độc lập về tài chánh qua xin quảng cáo các viện bào chế và tinh thần Dân Chủ trong sinh hoạt của ban biên tập và quản trị. Ngay sau đó tôi và Phạm Văn Lương chia tay, tôi lo tìm quảng cáo để khởi sự xuất bản Tình Thương. Phạm Văn Lương lo tổ chức cơ sở cho SVYK, bầu ban đại diện SVYK Sài Gòn và Tổng hội Sinh viên Sài Gòn. Việc ra báo Tình Thương đã qua giai đoạn đầu tìm tài chánh ở các viện bào chế như OPV, Tenamyd, Roussel, Trang Hai, Phạm Doãn Điềm…như ý muốn vì Tình Thương là tờ báo của SVYK (…)  Với ý định và ý hướng có sẵn, những suy nghĩ trước khi bắt tay vào việc, tôi đã có một ban biên tập xuất sắc, tâm huyết, tin cậy ngay ở phút đầu như người Mỹ thường nói “Seeing, Believing”, cộng tác cho đến lúc ra trường Y khoa, trong số đó phải kể đến Ngô Thế Vinh làm chủ bút Tình Thương kế tiếp Nguyễn Vĩnh Đức cho đến ngày đình bản Tình Thương, bốn năm sau ngày khai sinh (…) Tôi chịu đựng bốn năm rưỡi, Phạm Văn Lương đã tuẫn tiết, tự tử trong tù ngay phút đầu. Sự qua đời ấy không làm tôi ngạc nhiên, tôi biết Phạm Văn Lương và nhớ nhiều về Lương. (…) Ngàn lần vĩnh biệt Phạm Văn Lương-Lyon, France-10/2009 [Phạm Đình Vy, “Nhớ Phạm Văn Lương”, Tập san Y Sĩ số 184-Chủ đề “Tình Thương: Một thời nhân bản”, trang 98-100, tháng giêng, 2010, Canada * Chú thích của Nguyễn Tà Cúc: Y sĩ Quân Y, Thủy Quân Lục Chiến Phạm Đình Vy, bị tù hơn 4 năm sau 1975, vượt biển sau khi được phóng thích rồi nhập cư tại Pháp. Y sĩ Thiếu tá Phạm Văn Lương, Trưởng Khối Ngoại Khoa, Tổng Y viện Duy Tân tại Đà Nẵng, tuẫn tiết trong trại Tù Cải Tạo khoảng 1976]

Ngoài Phạm Đình Vy (sinh viên năm thứ IV) và Phạm Văn Lương, còn có Trần Xuân Ninh, sinh viên năm cuối và người khác, dẫn đến việc cụ thể hóa bằng cách vận động xin tài chính thành công; rồi cứ thế tiếp tục với sự hợp lực của khối sinh viên Y khoa. Theo Y sĩ Quân Y Thủy quân Lục chiến/ Bác sĩ Trần Xuân Dũng, Tổng Thư ký đầu tiên và trong 8 tháng đầu: 

-… Vài tuần sau khi cuộc cách mạng 1-11-1963 thành công, anh Trần Xuân Ninh, lúc đó vừa học hết năm thứ 6 Y Khoa, nẩy ra ý kiến, cần phải xuất bản một tờ báo cho Sinh viên Y Khoa. Anh bèn tự đánh máy trên giấy Stencil một giấy mời rồi đem đi in ronéo, và phổ biến tại Trường và các Bệnh viện, thỉnh cầu anh em Sinh viên tới Trường để họp bàn về vấn đề này. Y Khoa Đại Học Đường, từ 1954-1966, tọa lạc trên một khu đất rộng ở số 28 đường Trần Quí Cáp Sàigòn. (…) Tới ngày giờ ấn định, gần 50 Sinh viên có mặt. Trần Xuân Ninh mở đầu cuộc họp, trình bày những lý do tại sao Sinh viên Y Khoa cần phải có một diễn đàn của chính mình, một cơ quan ngôn luận riêng. Sau hơn 3 giờ bàn luận, mọi người đều đồng ý là phải xuất bản một tờ báo. Toàn thể anh em đề nghị Trần Xuân Ninh làm Chủ nhiệm. Anh Ninh từ chối, lý do là chỉ còn 3 tháng nữa anh sẽ phải lên đường nhập ngũ. Anh em đang chọn người khác thì một câu hỏi được nêu lên khiến mọi người khựng lại. “Báo sẽ quay ronéo, hay in?”. Bàn đi tính lại, quyết định chung là báo sẽ phải được in đàng hoàng, chứ không thể dùng máy quay ronéo được. Vừa quyết định xong, tất cả đều lo. Lấy đâu ra tiền để thuê in báo mỗi tháng? Nếu là quay ronéo, thì anh em còn có thể cùng nhau xoay trần ra đánh máy, quay máy, đóng tập rồi phát hành. Còn in, không thể nào có tiền được. Bỗng anh Phạm Đình Vy, vừa sắp sửa lên năm thứ 4, phát biểu: “Nhất định là phải in. Tôi quen một ông Tướng có tham dự vào cuộc đảo chánh. Tôi sẽ đến xin ông ‘viện trợ’ cho một số tiền để in vài số đầu. Anh em hoan hô, phòng họp ồn cả lên. Ban Điều Hành Tòa Soạn được đề cử gồm:

-Chủ nhiệm: Phạm Đình Vy,

-Chủ bút: Nguyễn Vĩnh Đức (Sinh viên QY),

-Tổng Thư ký: Trần Xuân Dũng,

-Thư ký: Nghiêm Sỹ Tuấn.

Cả 3 anh Đức, Dũng, Tuấn đều sắp sửa lên năm thứ 5 Y Khoa. Đa số sinh viên dự họp ngày hôm đó đều đồng ý vào Ban Biên Tập. Sau đó vấn đề đặt tên tờ báo được nêu lên. Một số tên liên quan đến chính trị và văn hóa được đề nghị. Phạm Đình Vy đề nghị tên “Tình Thương”. Đa số cho rằng đặt tên như vậy thì ủy mị quá. Nhưng tranh luận xong, mọi người đồng ý với Vy, vì dù sao hai chữ đó cũng hợp với nghề nghiệp của mình. Ba ngày sau, Vy thông báo, đã xin được 10 ngàn đồng. (Ngày đó, lương của một Y Sĩ Trung úy mỗi tháng khoảng 5.000 đồng). Sau khi đã gom đủ bài vở và chọn được hình bìa, Tôi (là Tổng Thư ký) ra Kim Lai Ấn Quán, nhà in nổi tiếng nhất thời đó, hỏi giá tiền in bìa offset, và 64 trang trong. Câu trả lời làm tôi choáng người: “8.000 đồng”. Nếu in ở đây chỉ xong một số, là tiêu tan cái “gia tài” mà Phạm Đình Vy vừa đem về. Tôi bèn đến nhà in Trường Sơn, ở đường Nguyễn An Ninh, hông chợ Bến Thành, và Cliché Dầu hỏi giá. Kết quả, tổng cộng mọi chi phí chỉ ba ngàn đồng cho mỗi số báo. Số báo đầu tiên in ra xong và phát hành, đã gây một chấn động toàn diện trong giới Sinh viên, không những chỉ ở trong Trường Y Khoa, mà còn ở các Trường khác nữa như Luật Khoa, Văn Khoa, v.v… “Nguyệt san Tình Thương” là tờ báo đầu tiên trong giới Sinh viên của tất cả các phân khoa thuộc viện Đại Học Sàigòn, đã được in đàng hoàng như một tờ báo chuyên nghiệp… [Bác sĩ Trần Xuân Dũng, “Sơ lược về nguyệt san Tình Thương của Y Khoa Sài Gòn”, Tập san Y Sĩ số 184-Chủ đề “Tình Thương: Một thời nhân bản”, trang 54-56, tháng giêng, 2010, Canada]

        
Nhắc tới hoàn cảnh đầy biến động lúc ấy, Ngô Thế Vinh nhớ lại mấy cuộc thảm sát do Cộng sản chỉ huy:

-… Đó là phía chính quyền, bên này chiến tuyến và cho dù có khó khăn gì đi nữa thì chúng tôi vẫn còn một không gian để sinh hoạt. Nhưng phía bên kia là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, với Đoàn công tác Thanh niên Sinh viên Sài Gòn Gia Định rất tích cực hoạt động nhưng dấu mặt hoặc lộ diện thì dấu đi căn cước của họ, được trực tiếp chỉ đạo từ cấp Bí Thư Đảng Ủy, lại có thêm hỗ trợ của “bạo lực” nên sự đối đầu rất bất định và nguy hiểm hơn nhiều. Từ thư nặc danh đe dọa gửi tới tòa soạn, tới giai đoạn rải truyền đơn lên án tử hình một số sinh viên trong đó có sinh viên Y khoa, tiến thêm bước nữa là giai đoạn “khủng bố trắng” với súng đạn, có án mạng và đổ máu. Cũng nên ghi lại một số sự kiện nay đã thuộc về lịch sử: chỉ riêng với trường Y Khoa, đã có hai giáo sư bị sát hại (Gs Trần Anh, Cơ Thể học và Gs Lê Minh Trí chuyên khoa Tai Mũi Họng), rồi đến sinh viên Y khoa II Trần Quốc Chương (con của Thẩm phán Trần Thúc Linh) có một giai đoạn vào bưng, sau trở về học lại thì bị trói tay bịt miệng ném từ lầu ba xuống đất ngay trong vòng thành trường Y Khoa trên đường Hồng Bàng, một cái chết rất thảm khốc. Sinh viên Luật khoa Lê Khắc Sinh Nhật cũng bị bắn chết. Hai sinh viên khác bênVăn Khoa cũng bị nhóm Biệt Động Thành bắn trọng thương nhưng may mắn sống sót là Ngô Vương Toại, Bùi Hồng Sĩ, hai anh ấy hiện đang sống ở Mỹ… [Ngô Thế Vinh, “Tìm Lại Thời Gian Đã Mất: NGUYỆT SAN TÌNH THƯƠNG 1963-196-Tiếng nói của Sinh viên Y Khoa”, Tập san Y Sĩ số 184-Chủ đề “Tình Thương: Một thời nhân bản”, trang 50-51, tháng giêng, 2010, Canada]

Như vậy, bác sỹ Phạm Đình Vy là người đặt tên, giúp tìm tài chính thực hiện Tình Thương những số đầu tiên kiêm chủ nhiệm từ đầu năm 1964 đến khoảng tháng 8, năm 1967. Theo Y sĩ Thiếu Tá Nhẩy Dù/bác sỹ/nhà thơ Trang Châu, nguyệt san này bị Thiếu Tướng Nguyễn Bảo Trị/Tổng Trưởng Bộ Thông Tin ký sắc lệnh đóng cửa vì “nội dung chắc chắn chỉ trích chính quyền nên bị đình bản…” [Trang Châu, “Một thời để nhớ”, Tập san Y sĩ, sđd, trang 97]. Theo tôi, trước khi biết rõ, chúng ta không thể gán cho Thiếu Tướng Nguyễn Bảo Trị bất cứ lý do nào  khiến ông phải rút giấy phép của Tình Thương.

Tình Thương có một đặc điểm mà các báo sinh viên khác không có: Không những được in ấn hàng tháng mà còn có phụ bản hàng tuần, tuy không thực hiện được thường xuyên như đã hứa. Các phụ bản này chỉ khoảng 8 trang theo Phụ Bản số 2 mà tôi có, ra ngày 25 tháng 11. 1964, có kèm quảng cáo cho nguyệt san Tình Thương số 12, tháng 12, 1964.

Tình Thương, Phụ Bản Số 2, trang 1&2, ngày 25.tháng 11.1964
Nguồn: Microfilm từ Thư Viện thuộc Viện Đại học Cornell, Hoa Kỳ

Theo Phụ bản Số 2 giá “1 đ. thống nhất”, thì Tình Thương không là một nội san mà là nguyệt san lưu hành căn cứ trên “Giấy phép số 70 / BTT / NĐ ngày 6-12-63”. Tình Thương số 1 phát hành vào tháng giêng, 1964, hơn một tháng sau khi được Bộ Thông Tin cho phép. Ban Biên tập của Tình Thương thay đổi vài lần vì có sự luân phiên. Ngoài khả năng và được tín nhiệm, các sinh viên sẽ rời phần phụ trách của mình khi ra trường, nghĩa là tốt nghiệp bác sĩ, trừ phi chưa kịp tốt nghiệp thì báo bị đóng cửa như trường hợp chủ nhiệm Phạm Đình Vy.

  • Từ số 1/Tháng 1.1964 đến số 8/Tháng 8.1964: Chủ nhiệm: Phạm Đình Vy, Chủ bút: Nguyễn Vĩnh Đức, Tổng Thư ký: Trần Xuân Dũng, Thư ký: Nghiêm Sỹ Tuấn, Quản lý: Phạm Như Bách.

Tòa soạn đặt trong khuôn viên Đại học Y khoa, Số 28 Đường Trần Quý Cáp, Sài Gòn. Bắt đầu từ tháng 8.1964 (số 8), Tòa soạn dời về địa chỉ riêng tại Số 103, Đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, Sài gòn kèm thêm một thư ký có trả lương.

  • Từ số 9/Tháng 9.1964 cho tới số 13/Tháng 1.1965: Chủ nhiệm: Phạm Đình Vy, Chủ bút: Nguyễn Vĩnh Đức, Tổng Thư ký: Ngô Thế Vinh, Thư ký: Nghiêm Sỹ Tuấn, Quản lý: Trương Thìn, Thủ Quỹ: Vũ Thiện Đạm.
  • Từ số 14/Tháng 2.1965 cho tới số 15/Tháng 3.1965: Chủ nhiệm: Phạm Đình Vy, Chủ bút: Nguyễn Vĩnh Đức, Tổng Thư ký: Ngô Thế Vinh, Thư ký: Lê Văn Châu, Quản lý: Trương Thìn, Thủ Quỹ: Vũ Thiện Đạm.
  • Từ số 16/Tháng 4.1965 cho tới số 24/Tháng 12.1965: Chủ nhiệm: Phạm Đình Vy, Chủ bút: Nguyễn Vĩnh Đức, Tổng Thư ký: Ngô Thế Vinh, Thư ký: Lê Văn Châu, Quản lý kiêm Thủ Quỹ: Vũ Thiện Đạm.
  • Từ số 25 & 26/Tháng 1&2.1966 cho tới số 27/Tháng 3.1966: Chủ nhiệm: Phạm Đình Vy, Chủ bút: Ngô Thế Vinh, Tổng Thư ký: Nguyễn Hữu Ân, Thư ký: Trần Công Phát, Quản lý kiêm Thủ Quỹ: Vũ Thiện Đạm.
  • Từ số 28/tháng 4.1966 cho tới khi đình bản vào khoảng tháng 8, 1967: Chủ nhiệm: Phạm Đình Vy, Chủ bút: Ngô Thế Vinh, Tổng Thư ký: Nguyễn Hữu Ân, Thư ký: Trần Công Phát.

Tòa soạn dời về số 27-29 Đường Tạ Thu Thâu, Sài gòn.

  • Những số đầu tiên, Tình Thương có BAN BIÊN TẬP gồm: Trần Đông A – Hoàng Thiện Căn –Tôn Thất Chiểu – Lê Quang Dũng -Nghiêm Đạo Đại-Vũ Thiện Đạm– Nguyễn Long Hợp – Dương Hồng Huy- Trần Mộng Lâm – Phạm văn Lương –Trần Xuân Ninh – Hồ Tấn Phước– Lê sỹ Quang -Ngô thế Quí -Hà Ngọc Thuần –Trương Thìn -Tô văn Thỉnh – Đỗ hữu Tước – Đỗ thị Văn- Ngô Thế Vinh và Đặng Vũ Vương.
  • Sau một thời gian, Ban Biên tập được thay thành từng ban phụ trách một mục với các Trưởng ban. Bắt đầu từ số 10, * Quan điểm: Đặng Vũ Vương * Khảo luận: Hồ Tấn Phước * Truyện ngắn: Trần Mộng Lâm * Thơ: Trang Châu * Sinh hoạt Y khoa: Đặng Ngọc Cương * Bàn tay nắm lấy bàn tay: Ngô Thế Quí, Lê Sỹ Quang * Thế giới chúng tôi: Đỗ Trần * Sinh viên và Đại học: Nghiêm Đạo Đại.

Các Trưởng ban này cũng thay đổi theo thời gian. Thí dụ   * Quan điểm: Đường thiện Đồng * Khảo luận: Hà Ngọc Thuần * Truyện ngắn: Hà Li Hải * Thơ: Phạm Ngọc Lân * Sinh hoạt Y khoa: Đỗ Nghê * Bàn tay nắm lấy bàn tay: Lý Quốc Bằng, Vũ Công Liêm * Thế giới chúng tôi: Đỗ Trần * Sinh viên và Đại học: Phạm Hồng.

Ngoài ra, Tình Thương có 2 sinh viên phụ trách việc trình bày và hí họa: Lê Thành Ý (Lisa) và Bùi Thế Khải (Kathy), ngoài những họa sĩ thỉnh thoảng góp phần tranh bìa như Nghiêu Đề hay Đinh Cường. Tình Thương khổ lớn, khoảng 21 cm ½ x27cm 1/2, nghĩa là bằng khoảng nửa tờ nhật báo. Một điểm nổi bật về tờ báo sinh viên này là thái độ và lập trường chống Cộng sản tuyệt đối.

1.2    Đánh mạnh C(ộng) S(ản) trên khắp chiến trường-Chủ nhiệm Phạm Đình Vy

Như đã dẫn, nhiều nhân chứng đã giúp giữ lại chân dung Tình Thương qua hoạt động của sinh viên Y Khoa. Chân dung này đối nghịch với hoạt động của sinh viên Y Khoa/Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài gòn Huỳnh Tấn Mẫm và sinh viên Y khoa Trương Thìn, từng có mặt trong Ban Biên tập Tình Thương. Sau 1975, cả hai tốt nghiệp bác sĩ. Ký giả Phạm Vũ đã viết như sau, vào năm 2002, trong ngày ra mắt cuốn CHÚNG TA ĐÒI HÒA BÌNH: Huỳnh Tấn Mẫm Và Phong Trào Yêu Nước, Tranh Đấu Của Thanh Niên, Sinh Viên, Học Sinh Sài Gòn, 1969-1975:

…  Không khái quát và bài bản theo từng giai đoạn lịch sử như bộ sách Chúng ta đã đứng dậy mà Thành Đoàn TP.HCM từng thực hiện, Chúng ta đòi hòa bình chọn Huỳnh Tấn Mẫm, thủ lĩnh nổi bật nhất của giới sinh viên giai đoạn 1969-1975, làm trung tâm để làm sống dậy trước bạn đọc một giới trẻ miền Nam vì yêu đời yêu người, vì khát khao tri thức nên phải xuống đường tổ chức những cuộc biểu tình, phải đấu tranh từ ôn hòa đến bất bạo động. “Một người có học không thể không xuống đường biểu tình đòi hòa bình”, anh sinh viên y khoa Trương Thìn (tức nguyên phó giám đốc Sở Y tế TP.HCM, nguyên viện trưởng Viện Y dược học dân tộc TP.HCM – PV) đã trả lời trước cảnh sát như vậy, và đàn em của anh – Huỳnh Tấn Mẫm – đã cứ tự nhiên mà được những “người có học” ấy chọn làm thủ lĩnh… [Phạm Vũ, “Dấn thân của thanh xuân”, Tuổi trẻ Online, ngày 15.9.2022- https://tuoitre.vn/dan-than-cua-thanh-xuan-20220915092049207.htm]

Một bài báo khác cho biết:

-… Quyển sách này được thực hiện dựa trên lời kể của anh Huỳnh Tấn Mẫm – Chủ tịch Tổng Hội Sinh viên Sài Gòn (1969-1971), chị Nguyễn Thị Yến – Thủ quỹ Tổng Hội Sinh viên Sài Gòn (1969-1971), anh Lê Văn Nuôi – Chủ tịch Tổng đoàn Học sinh Sài Gòn (1970-1971), anh Lê Hoàng – Đoàn trưởng Đoàn học sinh Sài Gòn (1971-1974), và nhiều góp ý, hỗ trợ từ các anh chị: Nguyễn Hoàng Trúc, Tôn Thất Lập, Vũ Thị Dung, Phan Nguyệt Quờn, Cao Thị Quế Hương, Ngô Đa, Trương Anh Dũng, Nguyễn Văn Vĩnh, Lâm Thành Quý, Lê Ngọc Tú…[Linh Bảo, “Một thời chúng ta đòi hòa bình”,  Nhân Dân Online, ngày 15.9.2022, https://nhandan.vn/mot-thoi-chung-ta-doi-hoa-binh-post715301.html]

Tôi không có cơ hội được đọc nên không biết cuốn sách này có đề cập đến số sinh viên Sài Gòn chống Cộng điển hình như Tình Thương hay không cho công bằng. Với Tình Thương, họ xem quân đội là một phần quan trọng trong việc chống lại Chủ nghĩa Cộng Sản tại tiền tuyến nên thanh niên sinh viên cần hỗ trợ tại hậu phương bằng hành động; nhất là khi giới bác sĩ gồm cả những người từng gia nhập vào Trường Quân Y hay được lệnh trưng tập vì nhu cầu quốc phòng. Do đó, những y sĩ tử trận trong trận chiến chống Cộng Sản không những là đồng môn mà có khi còn là đồng đội của họ. Như Y sĩ Trung úy Quân Y Nhẩy Dù/ bác sĩ Nghiêm Sĩ Tuấn. Ông tử trận tại Khe Sanh vào tháng 4. 1968.

Tôi dẫn nguyên văn 2 lá thư Tòa soạn trên Tình Thương: Lá thư thứ nhất đăng trên số 14, giúp chúng ta thấu hiểu hơn ý nghĩ của giới y sĩ trong vị trí đặc biệt: chứng kiến trực tiếp sự tàn khốc của chiến tranh vào cơ thể con người, những con người hy sinh cho họ. Lời nguyền đứng chung với những người tại tuyến đầu ấy đến một cách chân thành và mạnh mẽ:

Lá thư gởi ra tiền tuyến

Các Bạn Chiến Sĩ Thân Mến

XUÂN lại về với tiếng súng thay tiếng pháo giao thừa. Mùa Xuân trở về tươi mát nhưng lạc lõng trên Miền Nam khói lửa và rối loạn. Nỗi ước ao bé nhỏ trong lòng mỗi người dân Việt làm sao được ăn một cái Tết thanh bình trải hai mươi năm qua vẫn còn là một ao ước. Và ngày về sum họp gia đình trong những ngày Xuân của anh lính biên cương vẫn còn là một giấc mơ… Nhìn lại đoạn đường đất nước đã đi: đoạn đường một năm dài với những ngày vui chưa kịp vui đã (…kiểm duyệt 1 giòng), đoạn đường với những kẻ bộ hành không giao thân, chỉ muốn làm chia rẽ với những bàn tay chỉ giỏi đập phá nhưng kém xây dựng, đoạn đường với những đoàn người hung hãn nhưng vô định hướng, với những thủ lãnh mang đầy quá khứ đấu tranh nhưng lại tiêu cực vụng về trong hiện tình đất nước, đoạn đường đầy cạm bẫy của kẻ thù luôn luôn rình rập khuấy phá. Đó là thực trạng đáng buồn trong một năm qua. Nhưng nhận định không phải để bi quan chán nản rồi đâm ra chủ bại mà trái lại để tin tưởng thêm rằng quê hương của chúng ta trải qua bao cơn thử thách vẫn tồn tại nhờ ở lớp người thanh niên trải hai mươi năm dài cam khổ vẫn không sờn ý chí đấu tranh kiến tạo một tương lai sáng đẹp và thanh bình. Lớp người thanh niên ấy từng giờ từng phút đang chiến đấu và hy sinh. Chúng tôi muốn nói đến các anh, những chiến binh đang xông pha ngoài mặt trận. Chúng tôi đã gặp các anh không phải ở những buổi hành quân các anh hăng say giết giặc, cũng không phải những lúc các anh về hiên ngang vòng hoa chiến thắng mà chúng tôi gặp các anh quằn quại, rên xiết ở các bệnh viện Chợ Rẫy, Cộng Hòa với những vết thương lở lói, bê bết máu. Chúng tôi đã từng đau lòng cắt bỏ từng cánh tay, từng khúc chân để biến các anh thành những phế nhân vĩnh viễn. Chúng tôi cũng đã từng ngậm ngùi, bất lực nhìn một số các anh bị tử thần cướp mất đi. Các anh đã mộc mạc tâm sự với chúng tôi nhiều. Chúng tôi cảm phục lòng can đảm và thông cảm nỗi khổ tâm của người lính chiến như các anh. Dành những giây phút thiêng liêng, trang trọng của buổi giao thừa tưởng nhớ đến các anh là để ghi nhận công lao các anh đã tạo nên bằng xương máu. Bên thềm năm mới chúng tôi cầu chúc các anh vững niềm tin để phụng sự. Các anh không chiến đấu cho một chính thể hay một cá nhân nào, các anh chiến đấu cho mười bốn triệu người yêu chuộng tự do, cho mảnh đất nghèo nàn nhưng đậm đà tình thương. Những kẻ lợi dụng lòng nhiệt thành của các anh, những kẻ sống trên xương máu của các anh, những kẻ đó sẽ ngã gục dưới gót giày, trước mũi súng của các anh và lịch sử còn đó để ghi nhận. Ở hậu phương chúng tôi đón Xuân với niềm hy vọng. Toàn dân sẽ bền tâm để hy vọng. Dân tộc Việt là một dân tộc biết chịu đựng, chịu đựng không phải để trọn đời lầm than hay nô lệ mà chịu đựng để tự hào rằng mình còn một niềm tin vững mạnh. Niềm tin của chúng tôi là các anh. Các anh hãy đem mùa Xuân thanh bình và cho đất nước, đem đoàn tụ lại cho mọi gia đình để trong một tương lai gần đêm giao thừa chúng ta không còn nghe tiếng súng mà chỉ nghe tiếng trẻ con thức giấc reo hò vui tiếng pháo đầu năm. [Tình Thương, “Lá thư gửi ra tiền tuyến”, Số 14, trang III, tháng 2. 1965]

Hai tháng sau, không chỉ lời nguyền đứng chung, mà còn là một kháng thư gửi đến những “nhóm người sống yên ổn ở thị thành đang hô hào hòa bình một cách vô ý thức”, hoặc “Những kẻ chủ xướng phong trào hòa bình lên án chiến tranh, kết tội người Mỹ xâm lăng trong khi Cộng sản Bắc Việt chính là kẻ gây nên cuộc nội chiến đẫm máu này…”:

Lá thư thứ hai gởi ra tiền tuyến

Các bạn chiến sĩ thân mến,      

Không có gì an ủi các bạn bằng những món quà nho nhỏ, những bức thư chân thành gởi từ hậu tuyến ra; nhưng cũng không có gì làm giận lòng các bạn hơn khi các bạn thấy mình bị bội phản. Xương máu của các bạn đã đổ ra quá nhiều đề gìn giữ mảnh đất tự do này, đáng lẽ sự hy sinh to tát ấy phải được đền bù bằng sự cảm phục, lòng biết ơn thì một lớp người tay sai của bọn Cộng Sản đã có hành động phủ nhận công lao chiến đấu của các bạn. Chúng tôi muốn nói đến một nhóm người sống yên ổn ở thị thành đang hô hào hòa bình một cách vô ý thức. Sau mấy vụ oanh tạc Bắc Việt và Mỹ công khai tham chiến ở Việt Nam với chủ trương đánh mạnh, hai tiếng hòa bình trở nên một ám ảnh trong lòng mọi người, một đề tài thời sự hấp dẫn cho những bài xã thuyết, những cuộc tranh luận, những buổi hội thảo. Hai mươi mấy năm chiến tranh đã làm mệt mỏi dân Việt Nam; họ mong đợi thanh bình như mong đợi một cơn mưa rào giữa mùa hạn hán và sự khao khát đó đã bị kẻ thù của chúng ta triệt để khai thác và lợi dụng. Cộng sản Bắc Việt thừa hiểu rằng chủ nghĩa Cộng sản không còn mấy hấp dẫn để tuyên truyền, đem võ lực đương đầu với Mỹ thì như trứng chọi đá, trên các chiến trường chúng đang gặp sức phản công mãnh liệt của các bạn cho nên nếu tiếp tục chiến tranh phần nguy hại sẽ về chúng; để làm kế hoãn binh, chiêu bài hòa bình được chúng tung ra hầu lung lạc, mua chuộc những tâm hồn dễ dãi, nhẹ dạ, hèn nhát, cầu an. Những kẻ chủ xướng phong trào hòa bình lên án chiến tranh, kết tội người Mỹ xâm lăng trong khi Cộng sản Bắc Việt chính là kẻ gây nên cuộc nội chiến đẫm máu này. Họ kêu gọi các bạn buông súng trong khi Việt Cộng vẫn tiếp tục khủng bố người quốc gia, họ trách các bạn nỡ tâm tàn sát người, đồng bào trong khi các bạn chỉ chiến đấu tự vệ chống một kẻ thù không còn biết quê hương, nòi giống là gì. Chúng tôi nghĩ không có vết thương nào đau đớn cho các bạn hơn là vết dao do những bàn tay phản bội đàng sau lưng đâm tới. Chúng tôi cũng nghĩ sở dĩ bọn người đó còn sống đến ngày hôm nay để làm trò múa rối là vì các bạn quá tiết kiệm những viên đạn. Chúng tôi biết không ai tha thiết với hòa bình hơn các bạn. Có hòa bình nhiệm vụ của các bạn mới chấm dứt, gia đình các bạn mới đoàn tụ yên vui. Nhưng các bạn còn chiến đấu là vì các bạn quá hiểu rõ âm mưu của Cộng Sản. Đối với Cộng Sản chỉ có hòa bình thực sự khi trọn miền Nam hóa đỏ. Thì tại sao chúng ta không nghĩ rằng hòa bình cũng chỉ thực sự đối với chúng ta khi không còn bóng dáng một tên Cộng Sản nào trên phần đất tự do nầy? Sinh viên chúng tôi mong chờ hòa bình. Nhưng niềm tin chúng tôi không đặt vào những chiêu bài bịp bợm, những thỏa ước có giá trị của một mớ giấy lộn, tất cả niềm tin chúng tôi đặt vào bàn tay gân guốc của các bạn, những bàn tay sẽ quét sạch kẻ thù và bọn phản quốc. Chúng tôi chỉ chấp nhận một thứ hòa bình đó là hòa bình với chiến thắng của các bạn. Con đường đi đến hòa bình chắc sẽ gần vì ngày chiến thắng không còn xa. [Tình Thương, “Lá thư thứ hai gởi ra tiền tuyến”, Số 16, trang 2, tháng 4. 1965 * Chú thích của Nguyễn Tà Cúc: Những chữ in ngả, viết hoa hoặc có gạch dưới là của nguyên bản]

Quan điểm chống Cộng sản, ủng hộ quân lực VNCH, kết án những kẻ nhân danh hòa bình hầu giúp đỡ Cộng Sản càng rõ ràng hơn qua Lời Tòa soạn chỉ hai tháng sau. Tình Thương tái xác nhận họ ủng hộ chiến binh VNCH tại tiền tuyến và đề nghị một sự tự nhận trách nhiệm trực tiếp hầu giúp chiến binh đắc lực hơn, không bằng kêu gọi suông, mà góp phần cụ thể hầu giải quyết nhiều tệ nạn như tham nhũng trong xã hội.

Nhân ngày tưởng niệm chiến sĩ

QUÊN ƠN CÁC CHIẾN SĨ LÀ PHẢN BỘI DÂN TỘC, một khẩu hiệu đáng cho chúng ta suy ngẫm trong rừng biểu ngữ nhân ngày tưởng niệm Chiến sĩ do Thanh niên Sinh viên tổ chức mới đây. Cuộc chiến tranh chống đế quốc đó đã khởi điểm từ một thất thế khi Cộng sản nắm được chiêu bài đánh đuổi Thực dân, dành Độc lập; trong những năm đầu, người Chiến sĩ quả đã không được sự cảm mến xứng đáng với những hy sinh gian khổ của họ. Nhưng rồi với thời gian bộ mặt phi dân tộc của Cộng sản lần lần bộc lộ, mỗi ngày chiến đầu trôi qua lại có thêm một số người thức tỉnh ra, nhập hàng ngũ Quốc gia và người Chiến sĩ càng ngày càng chiếm được cảm tình của dân chúng. Mặc dầu chiến tranh trở nên quyết liệt, sự nguy hiểm trên trận địa tăng lên rất nhiều, những người tình nguyện đầu quân cũng đang đạt tới các con số kỷ lục. Sự say sưa nhập cuộc của lớp thanh niên hiện nay nói lên lý tưởng dân tộc của cuộc chiến tranh này: Nhân dân đã lựa chọn chủ nghĩa Tự do và ý thức rằng Cộng sản là mối đe dọa nguy hiểm cho sự Tự do ấy. Lý tưởng đã rõ rệt, công việc bảo vệ Lý tưởng đang được sự đóng góp của toàn dân, từ người thanh niên tốt nghiệp Đại học chiến đấu trong hàng ngũ Quân đội chánh quy tới bác nông phu lam lũ trong các tổ chức nghĩa quân. Từ ông cụ già bất khuất ngã gục trong các làng mạc hẻo lánh miền Nam đến anh phi công can trường hy sinh trên nên trời đất Bắc. Chúng ta không thể nào tách rời chiến sĩ ra khỏi dân tộc được nữa vì chiến sĩ ngày nay thuộc đủ mọi từng lớp xã hội không phân biệt tuổi tác, giàu nghèo, trí thức hay nông phu. Toàn dân đang chiến đấu, và chiến sĩ, những phần tử hăng hái nhất, đang lãnh trách nhiệm tiên phong trong công cuộc khơi giòng lịch sử bị đe dọa chận đứng bởi tà thuyết Cộng sàn. Thành phần ưu tú này đương nhiên được sự ngưỡng mộ của nhân dân, chỉ có hai hạng người thù nghịch với các chiến sĩ. Trước hết bọn tay sai Cộng sản, mơ tưởng một chủ thuyết ngoại lai; bọn này đang cố gắng phá hoại cuộc tranh đấu của chúng ta nhưng ác hại hơn, những người Quốc gia vì quyền lợi cá nhân đang hành động nối giáo cho giặc. Khi chúng tôi hỏi kết quả những cố gắng tuyên truyền Cộng sản vào lớp người nghèo khó rằng chúng sẽ giải phóng họ, một sĩ quan từng có mặt trên các chiến trường đã nói với chúng tôi: “Nhân dân miền quê thù ghét Cộng sản nhưng cũng không chịu nổi sự tham nhũng của một số cán bộ Quốc gia”. Đã nhiều lần người ta nói: phải kéo nhân dân về phía chính quyền để chiến thắng Cộng sản, nhưng chưa ai có một hành động thực tế nào trong việc “kéo nhân dân” này. Tất cả mọi người đều công nhận rằng việc làm đầu tiên phải là thanh lọc hàng ngũ cán bộ, thế mà đến nay nạn tham nhũng vẫn được đặc biệt “tôn trọng” trong xã hội chúng ta. Mục đích tối hậu của bọn này là vơ vét, phương tiện thông thường của chúng là cấu kết với bè lũ gian thương chia nhau tài nguyên Quốc gia. Chúng đã gây nên nhiều cuộc rối loạn vì tranh giành quyền hành vu cáo lẫn nhau. Cả hai hạng người này đều phản bội Dân tộc, không phải vì quên ơn các chiến sĩ mà phản Dân tộc, nhưng chính vì phản bội Dân tộc nên họ đã phản bội các chiến sĩ nhiều hơn cả. Nhân ngày tưởng niệm Chiến sĩ chúng tôi thấy thật thiếu sót nếu chỉ hô hào ghi ơn các chiến sĩ vì phải bao nhiêu xương máu nữa đổ ra để lấp kín nạn thối nát của xã hội? Việc làm hữu ích nhất của ta là bắt tay vào một cuộc Cách Mạng quét sạch mọi gai góc để người chiến sĩ sớm chiến thắng Cộng sản. [Tình Thương, “Nhân ngày tưởng niệm Chiến sĩ”, Số 18, trang 2, tháng 6. 1965]

Không chỉ sinh viên Y Khoa đại diện bởi Tình Thương, Tạ Chí Đại Trường cũng có nhiều quan sát và nhận định tương tự–chắc chắn đã thu thập được từ những ngày còn là sinh viên Văn Khoa, Bộ Môn Sử—về nhóm người thiên tả, nằm vùng. Ông phân tích về trạng thái mà tôi gọi là “nửa mùa” của những người mơ một mùa Xuân sẽ không đến: nửa mùa tranh đấu nhưng thừa biết vẫn được bảo vệ bằng Hiến Pháp VNCH, nửa mùa kết án người khác về sự cùng khốn lầm than của chị em phụ nữ nhưng bản thân vẫn sống trong nhung lụa, nửa mùa quan trọng hóa ngòi bút sẽ vô dụng khi đối đấu với họng súng Cộng Sản:

-… Miền Nam cũng là cái cầu rộng đi ra thế giới tư bản và được bên ngoài–phần đáng chú ý là Việt kiều–hướng về Hà Nội trong ảo giác mà không phải bỡ ngỡ. Điều này đã xảy ra trong cuộc chiến tranh trước. Trong tâm tư thì họ hướng về Hà Nội nhưng trong sinh hoạt thì họ chọn Sài Gòn như đã chứng tỏ trong nhiều lần khuất lấp (…) Có thể kể thêm bà Ngô Bá Thành, giá như không có chiến thắng 1975 thì cũng vẫn đang hô hào “phụ nữ đòi quyền sống” tại Sài Gòn đầy bơ sữa, nơi bà dạy đại học chứ nhất định không về sinh quán Hà Nội vinh quang của bà. Một tả phái ở các thành phố và các trường đại học Tây phương kết hợp với tình tự dân tộc được đẩy cao độ, nhờ sự sôi sục bày tỏ chính kiến tương đối tự do đã đưa đến những luận thuyết mang dáng dấp trí thức cao và những hành động anh hùng bốc đồng. Không kể đến “tòa án” Stockholm với triết gia B. Russell chứng tỏ lúc “tin” thì ai cũng như ai, đến những luận án chống đế quốc, thực dân có đủ biểu đồ, thống kê làm bằng cớ… nhưng lại xuất phát từ một vài luận đề chính trị thô sơ đã viết thành khẩu hiệu, ta gặp những cường điệu lịch sử tán rộng tung ra từ các “viện” ọp ẹp ở Hà Nội nói về phương thức sản xuất châu Á, phong kiến, về nông dân khởi nghĩa, về các anh hùng dân tộc, về chế độ thực dân kiểu mới… không đưa lại phát hiện gì mới ngoài cái khuôn macxít và lối trau chuốt văn từ. Trong hành động, ta gặp những cuộc biểu tình phản chiến của du học sinh dẫn đến cú liều lĩnh thúc đẩy bởi thời trang không tặc của những người hùng khủng bố khiến anh Nguyễn Thái Bình định cướp máy bay bằng một túi chanh giả làm lựu đạn. Rồi dựa vào chân đứng quốc tế, hai nhà giáo Pháp treo cờ Mặt trận trước tòa nhà Quốc hội Sài Gòn. Đó là những chặp hồi co giật trong cơn mê say lí tưởng, nhưng trong chuỗi thời gian thường nhật vẫn có những phút giây hồi hộp khích động mà không đe dọa mất tinh thần. Phối hợp trong ngoài, đám thanh niên miền Nam mới lớn trong thế hệ hậu Genève, cả con cháu người cầm quyền, hành động theo tâm tư tuổi trẻ của thế giới tư bản và vẫy vùng trong thế giới đó, đã làm công việc “quậy phá” miền Nam trong một không khí đầy hỉ nộ ái ố và không kém phần hấp dẫn huyền bí lên đến tột đỉnh với những vụ tự thiêu. Những cuộc biểu tình cút bắt với cảnh sát, đốt xe Mĩ trong tiếng reo hò ngoài đường lớn và cười khúc khích trong hẻm nhỏ, những đêm không ngủ ca hát vang lừng “nối vòng tay lớn” theo một niềm say mê về thống nhất trong yêu thương, bình đẳng xuống đường gặp gỡ giấc mơ hòa bình thời thượng ngươn của sư bà Trúc Lâm nương. Rồi ra ngoài bưng là những buổi học tập trùm đầu chừa hai con mắt như đảng KKK… Trong kẽ hở của một tổ chức xã hội lỏng lẻo, một chính quyền yếu kém, người thanh niên có điều kiện để giải tỏa sức hăng say của mình, nhập vào cơn mê cuồng tưởng của ý thức hệ giữa tiếng bom đạn ầm ĩ và những hình ảnh nhảy múa hốt hoảng của các kênh truyền hình. Cả một không gian quốc tế rộng lớn, những xã hội với trình độ phát triển không có ở miền Bắc, ở toàn thể khối “ưu việt” đã xông vào phục vụ Bác và Đảng bằng nhiệt tình hết mực tin vào lẽ phải của mình. Quan điểm phục vụ quần chúng, hòa nhập với quần chúng, đẩy mạnh với chính sách “ba cùng” ở miền Bắc, có cơ sở tiềm ẩn từ căn bản những người thực hiện, đã kéo trình độ suy luận hạ thấp đồng thời với tin tưởng thần quyền được khuyến khích, biện minh. Khi được coi là đã có quan điểm lập trường đúng –nói nôm na là đã chọn được phe phía rồi– thì sự cả tin được đặt dồn về một phía chọn lựa, dành cho phía kia toàn thể những hoài nghi và khinh miệt. Cho nên cán bộ tuyên truyền gốc nông dân mang nhiệm vụ hấp dẫn tín đồ quần chúng không ngần ngại gì mà không lôi kéo người nghe đến góc độ thiên lệch nhất… [Tạ Chí Đại Trường, “Cơn mộng du ba mươi năm”, Văn Học số 97, trang 16-17, Tháng 5.1994]

Đọc đến mấy câu “những đêm không ngủ ca hát vang lừng “nối vòng tay lớn” theo một niềm say mê về thống nhất trong yêu thương, bình đẳng xuống đường…”, tôi không khỏi liên tưởng đến một số bài được đọc sau 1975. Nhà văn Ngô Thị Kim Cúc trình bày kinh nghiệm của bà, có những đoạn như sau trong bài “Hữu Loan, Xuân Sách … và hai bài thơ “vượt biên” …”, về bài thơ Những đồi hoa sim của Hữu Loan được nhạc sĩ Dzũng Chinh-Miền Nam phổ nhạc và Đường chúng ta đi của Xuân Sách được nhạc sĩ Huy Du-Miền Bắc phổ nhạc:

– Có hai bài thơ phổ nhạc của hai nhà thơ miền Bắc đã “vượt biên” vào Nam và được hát công khai trước 1975: Những đồi hoa sim của Hữu Loan (1916- 2010) và Đường chúng ta đi của Xuân Sách (1932- 2008). Nhạc sĩ phổ thơ hẳn có biết về tác giả, nhưng người nghe nhạc ở miền Nam thời đó thì hầu như không biết mấy về họ. Khi còn rất nhỏ, từ thập niên 1960, tôi đã nghe ca sĩ Phương Dung hát Những đồi hoa sim của Dzũng Chinh. Ca sĩ Phương Dung có giọng cao và trong, được mệnh danh là “Nhạn trắng Gò Công”. Là người Nam Kỳ nhưng khi hát bà phát âm giọng chuẩn-Bắc, nên người nghe dễ nghĩ bà là người gốc Bắc (…)

***

“… Dặm đường xa, ta đi giữa mùa xuân,
Ta đi giữa tình thương của Đảng,
Tiếng Bác Hồ rung động mãi trong tim. 
Đường ta đi ánh lửa soi đêm dài,
Đường ta về trong nắng ấm ban mai.
Việt Nam, Việt Nam, qua từng bước gian nan,
Lớn lên rồi đẹp những mùa xuân…”.

Lúc đó, tôi vừa vào năm thứ nhứt đại học, thập niên 1970. Tất cả hãy còn quá mới mẻ, xa lạ với cô sinh viên mười tám tuổi lần đầu rời gia đình, từ Đà Nẵng vào Sài Gòn trọ học. Lần đầu xem chương trình biểu diễn văn nghệ của nhóm sinh viên phong trào tranh đấu tại trường, tôi rất có ấn tượng về một bài hát được đồng ca trên sân khấu. Ca từ rất đẹp và giai điệu thì tuyệt vời, hết sức hùng tráng. Chỉ nghe một lần duy nhứt và tôi vẫn đinh ninh đó là một bài nhạc-phong-trào, do các nhạc sĩ sinh viên sáng tác. Sau 1975, tôi mới biết đó là ca khúc Đường chúng ta đi rất nổi tiếng do nhạc sĩ Huy Du (1926-2007) phổ nhạc từ một bài thơ của nhà thơ Xuân Sách (1932-2008). Bài hát được hoàn thiện vào cuối năm 1968 và được thu thanh đầu năm 1969, tối giao thừa Tết Âm lịch đã được nghệ sĩ Kim Oanh đơn ca. Đó là thời điểm chiến tranh Việt Nam đang diễn ra rất ác liệt. Khi đọc đến đoạn “… Ta đi giữa mùa xuân/Ta đi giữa tình thương của Đảng/Tiếng Bác Hồ rung động mãi trong tim…”, tôi tự hỏi: Hồi đó, không rõ các bạn sinh viên đã đổi lời những câu này thế nào để có thể ngang nhiên đứng hát giữa Đại Giảng đường 1 của Đại học Khoa Học, trong khi ngay bên ngoài cánh cổng, sang bên kia đường của đại lộ Cộng Hòa là Tổng Nha Cảnh sát Sài Gòn. (…)   Dẫu sao, bài hát rất hay ấy đã vang lên giữa lòng thành phố Sài Gòn trong thời chiến, và đã để lại một ký ức đẹp trong trái tim một tân sinh viên mới gia nhập môi trường đại học là tôi. Cho tới hôm nay, nghe lại, tôi vẫn thấy bài hát ấy rất hay, và với tâm thế của một công dân Việt bình thường, yêu nước, tôi hiểu nó đã thuộc về quá khứ, là một mảnh nhỏ của lịch sử, không thể xóa bỏ… [Ngô thị Kim Cúc, “Hữu Loan, Xuân Sách … và hai bài thơ “vượt biên” …”, Văn Việt, ngày 25.10.2025- https://vanviet.info/van/huu-loan-xuan-sach-va-hai-bai-tho-vuot-bien/]

Tuy hoàn toàn tôn trọng khiếu thẩm mỹ (về Âm nhạc) cũng như quyền yêu nước của Ngô Thị Kim Cúc, tôi bắt buộc phải có vài ý kiến trước khi tiếp tục về Nhóm sinh viên Tình Thương chống Cộng sản.

Thứ nhất, mấy chữ “công khai” và “vang lên giữa lòng thành phố Sài Gòn” cho cả hai bài thơ phổ nhạc–Những đồi hoa sim của Hữu Loan và Đường chúng ta đi của Xuân Sách tại Miền Nam trước 1975—cần phải xét lại. Cứ vào tìm các video của 2 bản thơ-phổ-nhạc này trên mạng Internet trước và sau 1975 là có thể kiểm chứng được. Thứ hai, hình như chính Ngô Thị Kim Cúc tự mâu thuẫn khi thú nhận bà chỉ nghe một lần duy nhứt, tại trường Đại Học Khoa học mà cũng không nhớ được nguyên văn. Trí nhớ của Ngô Thị Kim Cúc càng bị thử thách hơn khi bầy tỏ: “Hồi đó, không rõ các bạn sinh viên đã đổi lời những câu này thế nào …”. Đã “duy nhứt” còn “đổi lời” thì không thể “công khai”. Đã lén lút, đã chỉ xuất hiện trong một khu vực giới hạn với một số khán giả giới hạn thì càng khó để chấp nhận bài hát này đã “vang lên giữa lòng thành phố Sài Gòn” [sic], khi so sánh với bài nhạc phổ thơ Hữu Loan của nhạc sĩ Dzũng Chinh.

Dù có thế nào, chắc chắn tôi có thể giải đáp thắc mắc (“ngang nhiên đứng hát giữa Đại Giảng đường 1 của Đại học Khoa Học, trong khi ngay bên ngoài cánh cổng, sang bên kia đường của đại lộ Cộng Hòa là Tổng Nha Cảnh sát Sài Gòn…”, sđd) cho 1 người dù sao cũng đã đủ lương thiện để tự nhận mới chân ướt chân ráo vào Sài gòn. Hồi đó, tại những Đại học như Đại học Khoa Học hay Viện Đại học Vạn Hạnh vv… sinh viên vẫn có thể ngang nhiên tụ họp “phản chiến”, “thân Cộng” mà cảnh sát vẫn thường không can thiệp vì chính quyền Miền Nam rất tôn trọng Quyền Tự trị Đại học. Cảnh sát không thể bước vào khuôn viên Đại Học, nhưng không phải là họ không biết diễn tiến bên trong. Có một anh lính ném mẩu thuốc lá cháy dở xuống đường: “Họ vào đến đây thì các cô các cậu tha hồ ca với hát.” Vì không ở lại Miền Nam sau 1975, nên để cho công bằng, tôi sẽ nhường cho khán giả Ngô Thị Kim Cúc và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn xem các cô các cậu ca và hát ra sao. Sau 1975, Nhạc Vàng bị cấm (và có bài vẫn bị cấm?), khiến nghệ sĩ Nhân dân hay nghệ sĩ Dân gian đều phải tuân theo cùng một chính sách. Hai chữ “vượt biên” của tác giả, theo tôi, lại còn hóa ra khôi hài và tàn nhẫn so với cả triệu người Việt 2 miền phải vượt biển vượt biên bỏ nước ra đi, mong tránh tù đầy, thoát vùng Kinh tế Mới. Cho tới nay, có ít nhất từ 250.000 đến nửa triệu dân Việt bỏ mạng trên đường vượt biển vượt biên. Nếu thoát, những nạn nhân khốn khổ này lại nỗ lực cùng người ở lại bảo vệ Văn học Miền Nam và tất cả những gì đại diện cho một thời đó. Tôi viết bài này cũng để chứng minh Việt Nam Cộng hòa không chỉ có loại thiểu số sinh viên theo Cộng sản, mà còn có tập thể thanh niên thanh nữ tình nguyện chống Cộng trong nền Tự trị Đại học mà Tình Thương là một trong nhiều thí dụ.

Tình Thương, tuy do sinh viên Y khoa chủ trương và thực hiện nhưng chuyên nghiệp từ bài viết đến trình bầy, trừ phần sáng tác. Văn thơ như của Chủ bút Ngô Thế Vinh và Thư ký Trang Châu chỉ mới mở đầu đời văn họ sau này. Tuy mới mở đầu nhưng nếu nghiên cứu về sự nghiệp và chí hướng của họ, đó là những dấu hiệu đầu tiên, như trường hợp sinh viên Ngô Thế Vinh trên Tình Thương rồi chính thức trở thành nhà văn/Y sĩ Liên đoàn trưởng/ Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù Ngô Thế Vinh trên Trình bầy. Ông và văn chương không Thân Cộng, nhưng sự cộng tác với một tạp chí rõ ràng đã bị Cộng sản thao túng sẽ giúp chúng ta đánh giá không những về Trình bầy trong công tác binh vận của Cộng Sản mà còn về thái độ của một số nhà văn/Sĩ quan Trẻ của VNCH lúc ấy khi gia nhập vùng “xôi đậu” văn nghệ.

Mỗi số Tình Thương còn hướng sự chú ý của Ban Chủ trương vào từng vấn đề xem ra quan trọng. Tùy theo sự đòi hỏi, mỗi chủ đề đặt ra được ban biên tập chỉ định nhân sự phỏng vấn, nghiên cứu rồi tường thuật cùng nhận định. “Thanh niên sinh viên” và “Nông thôn” là mấy chủ đề của Tình Thương đặc biệt hữu ích khi muốn trở lại thời kỳ đặt vào hoàn cảnh của Việt Nam Cộng Hòa lúc ấy. Họ đã đề cập đến vấn đề Nông thôn từ số 5, tháng 5. 1964. Giới trẻ thành thị vẫn bị xem như thiếu trách nhiệm với đại đa số dân chúng nông thôn. Thêm nữa, người Cộng sản đã lợi dụng sự viện trợ từ vũ khí đến kinh tế của Hoa Kỳ hầu rao giảng cho giới trẻ rằng Miền Nam đã “mất chủ quyền đất nước”. Do đó, vì chủ trương kiện toàn, bồi đắp quốc gia với thế hệ trẻ hơn trong khi chống Cộng, giới sinh viên-thanh niên như Tình Thương quan tâm tới hoạt động xã hội của những tổ chức được giới trẻ chủ trương hoặc tham gia, điển hình như Chương trình Công tác Hè 65/CTCTH 65 (còn được biết đến với Chương trình Công tác Mùa Hè 65/CTCTMH 65), hoặc Summer Youth Program/ SYP- một cái tên đặc Mỹ vì chương trình này nhận sự hỗ trợ từ IVS/International Voluntary Services/Đoàn Chí nguyện Quốc tế và tài trợ từ Cơ quan USOM/United States Operations Mission.

Sự hỗ trợ ấy không hoàn toàn là chính sách “đế quốc” như bị Khối Cộng Sản tuyên truyền. Người dân và giới trẻ Hoa Kỳ thực sự muốn giúp đỡ các quốc gia còn nghèo khó. Tổng thống John F. Kennedy, trong bối cảnh sau Chiến tranh Lạnh, gợi ý rồi thành lập The Peace Corps/Đoàn thể Thiện nguyện cho Hòa bình vào ngày 1 tháng 1, năm 1961. Từ đó, chính phủ Hoa Kỳ có thể trợ giúp đoàn thanh niên Hoa Kỳ tình nguyện. Họ đến tận nơi sinh sống với dân cư tại các quốc gia còn mở mang hầu giúp đỡ về giáo dục, trồng trọt, y tế và xây cất; song song với việc vận động cho hòa bình thế giới khi hố cách biệt giữa các quốc gia về sức mạnh tài nguyên và màu da càng lúc càng thu hẹp lại. Tuy biết như vậy nhưng sự chú ý đặc biệt của giới trẻ Miền Nam nói chung–và có lẽ của cả Tình Thương nói riêng– xuất phát từ mối quan tâm hiện thực: Trước hết, thanh niên, sinh viên-học sinh không thể rơi vào quỹ đạo của Hoa Kỳ qua một thiểu số lãnh đạo chưa đủ khả năng. Sự thiếu khả năng đó sẽ giúp Cộng sản thành công trong việc kéo dân chúng về phía họ, nhất là tại nông thôn và xa đô thành, những nơi sẽ quyết định vận mạng cuộc chiến. Quan trọng hơn, sự giúp đỡ của Hoa Kỳ vẫn cần thiết nhưng không thể vi phạm Chủ quyền Quốc gia.

(còn tiếp)

 

 

Articles by Nguyễn Tà Cúc

Comments


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

@2006-2025 damau.org ♦ Da Màu Magazine
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)