Rachel Gold có bằng Cử Nhân Văn Chương Anh và Tôn Giáo Học của Đại Học Macalester và bằng Cao Học về Sáng Tác của Đại Học Hamline, cả hai trường này đều ở Saint Paul, Minnesota. Trong vòng một thập niên, cô làm phóng viên cho nhiều tờ báo của cộng đồng LGBT và hiện nay cô là chuyên viên tiếp thị và diễn giả công cộng.
Being Emily là cuốn sách dành cho thanh thiếu niên đầu tiên được viết từ nhãn quan của một cô gái chuyển giới (Bella Books, 2012). Trong cùng năm 2013, cuốn tiểu thuyết này đã được vào vòng chung kết của giải Lambda Literary Award và đoạt giải nhất của hai giải thưởng Golden Crown Literary Award và Moonbeam Children’s Book Award.
Trong cuốn tiểu thuyết này, nhân vật Emily kể chuyện ở ngôi thứ nhất. Cô sinh ra và lớn lên tại một thị trấn nhỏ ở tiểu bang Minnesota trong thân xác một cậu con trai mang tên Christopher, nhưng biết rõ rằng, bên trong, mình là một cô gái.
Trích đoạn được chuyển ngữ dưới đây là Chương Một trong cuốn Being Emily.
___________________________________________________________________________
Tiếng chuông đồng hồ báo thức xé tan bóng đêm tĩnh lặng của giấc ngủ như trận gió ồ ạt của một cơn bão mùa đông. Tôi nhoài người tới để bấm nút tắt nhưng lại đụng phải cái bàn để đầu giường. Tôi đã thức đến quá nửa đêm nên cố tình đem cái đồng hồ báo thức ra đến tủ áo để không thể bấm nút tắt lúc nào cũng được. Sau khi mò mẫm đi qua hết căn phòng để tắt đi âm thanh inh ỏi đó, tôi đứng thẳng người lên và thấy thôi thì đằng nào cũng phải vào tắm cho xong.
Tôi không muốn nhìn mình trong tấm gương ở buồng tắm. Vào những giây phút đầu tiên của buổi sáng tinh sương, tôi có thể vờ như mình vẫn còn là con người tôi đã lờ mờ nhìn thấy trong những thời khắc tăm tối và khuya khoắc, khi tôi chỉ có một mình và hết sức an toàn. Tôi muốn được là chính mình lâu thêm một chút nữa.
Dưới làn nước ấm, tôi vẫn nhắm nghiền hai mắt. Cảm giác lúc này như là tôi đang tắm gội cơ thể của một người nào khác. Dù đã hơn mười sáu năm rồi, tôi vẫn có những lúc không thể hiểu được làm thế nào tôi đã đến được giai đoạn này, hay làm sao mà một lỗi lầm như thế đã bị phạm phải. Tôi biết tôi là ai, và thân thể cao dong dỏng, nhiều góc cạnh này không phải là con người đó.
Lúc đang kỳ cọ, tôi suy nghĩ không biết có nên quyết định nói chuyện với cô bạn thân và cũng gần như là bạn gái của mình hay không. “Gần như,” vì Claire đang hẹn hò với “cái tôi” mà đúng ra là không có thật. Suốt ngày, tôi cứ suy đi nghĩ lại quyết định đó, tôi có thể nói như vậy. Tôi thích cô bé đủ để không nỡ lừa dối cô—có lẽ thích hơn bất cứ một ai là đằng khác—nên tôi nghĩ đó là lý do vì sao tôi quyết định cho cô biết trước mọi người. Tôi đã thử nói với hai người bạn khác mấy năm trước, nhưng chuyện đã hỏng bét. Một người không thèm nói chuyện với tôi nữa, còn người kia thì cười to lên đến nỗi tôi đã phải bảo hắn là mình chỉ nói đùa mà thôi. Có lẽ tôi phải thôi không cố nói với ai nữa cả, nhưng sự thật đã tràn đầy trong tôi đến độ tôi biết mình không thể nào giữ lâu hơn được nữa.
Như nhiều buổi sáng trong mùa đông đó, lúc tôi thức giấc thì bên ngoài trời hãy còn tối, và lúc tôi từ trong phòng tắm bước ra, khung cửa sổ cũng vừa hừng sáng. Tôi phải đối diện với những bộ quần áo mà mình không thể mặc, nhưng tôi không muốn nhìn chúng. Qua bao nhiêu năm tháng ăn mặc như một đứa con trai, tôi đã rút xuống chỉ còn ba kiểu chính: quần jeans với áo thun, quần jeans với áo len và quần jeans với áo sơ-mi hở nút (dành cho những ngày nào tôi phải ăn vận tươm tất).
Sáng hôm ấy, tôi đứng trước tủ quần áo của mình, tự hỏi phải ăn mặc ra sao để đến báo cho cô bạn gái của mình là anh con trai mà cô đang hẹn hò thật ra bên trong là một cô gái. Bà ngoại Emhad có tặng tôi một cái áo len cashmere hai mùa Giáng Sinh trước mà tôi hy vọng rằng sẽ mang lại cho tôi ít nhiều can đảm. Cái áo thật mềm mại, tôi sờ vào rất thích, mặc dầu màu xanh ô-liu không phải là màu tôi muốn chọn; màu này làm da tôi trông xỉn ra. Tôi mặc cái áo vào, vuốt lại mái tóc rồi xuống lầu kiếm cereal để ăn.
Bố đang đi về cửa chính, ông tựa vào tường để mang đôi bốt to tướng có những đường viền rõ nét. “Chris, con trông bảnh trai lắm,” ông nói. “Hẹn nhau đi bơi à, con?”
“Dạ, lần này là lần chót trong mùa đông,” tôi đáp. “Claire cũng đến nữa.”
Thật khó mà đọc trong ánh mắt của ông để biết ông nghĩ gì. Ông không biết mình có thích Claire hay không, nhưng tôi chắc ông cũng mừng là năm nay tôi đã có bạn gái. Ông gật gù, vẫy tay chào và biến vào màn tuyết bên ngoài.
Trong nhà chúng tôi, căn bếp nằm về phía bên trái của cánh cửa lúc khách bước vào, còn bên phải là phòng khách. Nhà bếp mở ra về một hướng khác, nơi để được một cái bàn cho bốn người ngồi ăn. Căn nhà này vốn có ba phòng ngủ, cho đến khi Bố cùng vài ông bạn xây thêm một phòng ngủ cho tôi phía trên nhà xe, để ông và Mẹ có thể dùng một phòng ngủ chứa giấy tờ và những món đồ mỹ nghệ. Lúc đi về phía bàn ăn, tôi lấy sữa và cereal, lí nhí câu “Chào mẹ” trong khi bà đang loay hoay làm mấy cái sandwich.
Ngồi xuống bàn, tôi rót sữa vào một cái tô, đoạn đổ một ít Cheerios lên trên. Tôi không hiểu tại sao nhiều người lại rót sữa lên cereal, vì như thế cereal sẽ mềm nhanh hơn là nếu làm ngược lại. Mẹ đã sửa soạn xong phần ăn trưa cho chúng tôi. Bà đặt hai cái túi giấy xuống bàn, vừa lúc Mikey, thằng em chín tuổi của tôi, chạy ào vào phòng. Tóc nó chĩa ra tứ phía, nhưng nó chẳng buồn để ý. Nó lấy một cái tô, kéo bình sữa gần tôi về phía nó rồi rót sữa vào chỗ cereal cao nghệu cho đến lúc sữa sắp tràn ra cả vành tô.
Mẹ lúi húi sửa mái tóc cho Mikey lúc nó đang ăn, cuối cùng cũng làm cho những chỗ lộn xộn nhất chịu nằm xuống. “Chắc hôm nay mẹ sẽ đi làm về trễ,” bà nói với hai đứa chúng tôi. “Nhưng bố sẽ về sớm.”
“Con thì sẽ đến nhà Claire sau khi bơi,” tôi nói.
“Bố không nấu ăn chứ, Mẹ?” Mikey hỏi.
Mẹ cười. “Không, con ạ. Có lasagna trong tủ lạnh đấy. Còn Chris, mấy giờ con mới về?”
“Dạ, khoảng tám giờ,” tôi trả lời.
“Nhớ làm bài đầy đủ nhé. Mẹ không muốn con chơi game cả đêm hay bất cứ chuyện gì làm mất hết thì giờ của con đâu.”
“Dạ.”
“Mẹ của Claire có ở nhà không?”
Claire là con một của bà mẹ đã ly dị, và điều này làm bố mẹ tôi lo lắng, mà lý do thì tôi không tài nào hiểu nổi. Tôi nghĩ hai ông bà cho rằng Claire và tôi lợi dụng những lúc chỉ có hai đứa trong nhà của cô bé để ngủ với nhau, rồi hút cần sa và bán vũ khí bất hợp pháp cho bọn khủng bố ở Trung Đông trên mạng.
“Dạ có,” tôi nói dối. Mẹ của Claire thường về nhà khoảng sáu, bảy giờ tối. “Bà về lúc năm giờ.” Khi nói câu đó, ruột tôi như thắt lại. Gần hết đời tôi đã là một sự dối trá, tôi không muốn quẳng thêm thứ gì nữa vào cái đống lừa lọc ấy.
Tôi nhìn thẳng vào đồng hồ trên microwave. “Con phải chạy đây.” Tôi vớ lấy cái bao đựng thức ăn trưa, nhét vào trong ba-lô, hôn lên hai má của Mẹ rồi tất tả đi ra cửa.
Mùa đông ở Minnesota như một con thú hoang, và người ta phải đối xử với nó một cách lễ độ, kể cả mặc áo choàng dài và mang bốt dày từ tháng Mười Một đến tận tháng Ba. Tôi buộc lòng phải dùng những thứ đó vì không chịu đội nón nếu nhiệt độ là trên 0 độ F. Chỉ cần một chút keo là tóc của tôi đã xoắn thành từng dợn sóng rời màu nâu một cách rất tự nhiên, tôi thích như thế. Nhờ sự nổi tiếng của Orlando Bloom và những kiểu tóc dài trong loạt phim Pirates of the Caribbean, tôi đã thuyết phục được Bố cho tôi để tóc dài một chút, vừa chạm vào cổ áo phía sau. Đội nón vào tất nhiên sẽ làm hỏng hết những lọn tóc nhỏ xinh xắn, vì thế cái nón đã phải nằm im lìm trên kệ tủ gần hết cả mùa đông.
Tôi quấn chiếc khăn quàng quanh cổ hai vòng và nhét hai đầu khăn vào áo khoác. Đoạn tôi đeo ba-lô lên vai phải và bước ra làn gió lạnh bên ngoài.
Trời ủ ê suốt tháng Hai. Ngày ngắn và lạnh, đêm thì dài và băng giá, tuyết dày đặc, còn gió như cắt vào da. Mùa xuân năm ngoái tôi vừa tròn mười sáu tuổi và Bố nhất định đòi mua cho tôi một chiếc xe. Đam mê suốt đời của ông là phục chế xe hơi cổ điển. Ông muốn cho tôi một chiếc Mustang, nhưng tôi tránh được chiếc này bằng cách đề nghị một chiếc Chrysler 300B đời 1956 cũ rích mà chúng tôi có thể cùng nhau phục hồi. Đành rằng tôi đã phải cùng bố tôi tân trang chiếc xe suốt mùa hè và nghe ông gọi tôi là “con trai” mỗi năm phút một lần, bù lại tôi được lái chiếc xe màu đỏ như kẹo táo, có ba sắc đậm nhạt, viền kim loại, trông thật sang trọng, hơn hẳn chiếc Mustang thô kệch dành-cho-những-kẻ-mê-xem-đánh-võ.
Chiếc Chrysler quả đã làm tôi nổi tiếng ở trường là một đứa chịu chơi, và Claire tuần nào cũng nhắc nhở rằng tôi đã may mắn lắm mới được như vậy. Tôi là một thanh niên có thân hình cân đối ở độ tuổi của mình, hơn nhiều đứa con trai khác trong lớp tôi và tất nhiên là trên trung bình đối với các cô gái, trong khi Claire thì tự ví cô là “một con vật tí hon.” Cô bé cao khoảng 1 thước 6, người mảnh dẻ. Tôi đã thử bảo cô, nếu đừng nhuộm tóc đen nữa thì chắc cô sẽ thành công hơn trong trường, nhưng cô lại buộc cho tôi cái tội là không hiểu được bọn con gái. Con gái, cô giải thích, vốn rất ác độc. Nếu không nhờ mái tóc làm cô nổi bật lên thì những đứa con gái khác hẳn đã tìm thêm được một lý do để chòng ghẹo cô.
“Em chỉ là một kẻ bị xua đuổi,” cô bảo. “Còn bọn chúng là một bầy sói; chúng có thể đánh hơi thấy điều đó ở em.”
Chiếc xe của tôi như một khối băng khi tôi bắt đầu đề máy nên tôi đã phải ngồi bên trong, ở khoảng sân trước nhà xe gần năm phút, thấy lạnh tê người để chờ nó nóng máy. Tôi đã có thể trở vào nhà, nhưng chắc Mẹ sẽ kiếm chuyện nói với tôi về việc học hành hay về Claire. Chỉ vài phút nữa thôi thì bà và Mikey sẽ ra khỏi nhà để bà đưa thằng bé đến trường tiểu học trên đường bà đến chỗ làm; bà làm thư ký ở một văn phòng hoạch định tài chính. Phần lớn các ngày bà làm từ chín giờ sáng đến ba giờ chiều, nhưng mỗi tuần một hai lần, bà phải ở lại làm trễ hơn một chút.
Khi chiếc xe đã nóng máy, tôi cho xe lùi ra sau rồi trực chỉ đến trường. Như một con ngựa đã thuần, chiếc xe như đã biết đường đi nước bước và tự lái lấy trong lúc tôi nghe nhạc từ chiếc radio. Ở thị trấn Liberty này, chúng tôi có được bốn đài phát thanh, hai đài của Twin Cities và hai đài Tin Lành. Có nghĩa là tôi được chọn giữa hai đài “Top 50” và “Hip Hop/Dance.” Tất nhiên là tôi chọn đài thứ nhì.
Trường Trung Học Liberty-Mayer được dành cho ba quận hạt nằm về phía tây của Twin Cities, với một dãy building dài và thấp bằng gạch sẫm màu và khoảng 500 học sinh. Ở Minnesota này, chúng tôi chỉ có khoảng 12 học sinh da màu và các lớp học phần lớn đều không có chuyện phân biệt màu da. Tôi cho xe vào bãi đậu rồi ì ạch băng qua khoảng sân phủ đầy tuyết rộng gần trăm mét mới đến được dãy lớp học. Một làn khí nóng ùa ra khiến tôi phải tháo khăn quàng lúc tiến về dãy tủ khoá.
Vài đứa bạn trong đội bơi lên tiếng chào tôi và tôi cũng chào lại bằng một giọng đã được tự động hoá mỗi lần đến trường. Thanh quản của tôi được lập trình với các câu trả lời thích hợp mà tôi cũng không hề để ý đến. Như thể là tôi đã viết ra những mã số đó từ bao nhiêu năm nay vậy, và bây giờ bộ não của tôi chỉ việc đọc chúng ra:
/mệnh lệnh lập trình: chào hỏi các bạn trong đội bơi
Buổi sáng nào của tôi cũng chán ngấy. Tôi bắt đầu với lớp khoa học, thời khoá biểu thật ngược đời đối với tất cả những kẻ thức khuya, sau đó là qua lớp lịch sử Hoa Kỳ. Giữa lớp này và giờ ôn tập, tôi thường gặp Claire trong hành lang và cô thường chuồi vào túi quần tôi một mẩu thư nhỏ.
Hôm nay, mẩu thư đó viết như sau: “Hê bồ tèo, sau khi họp chúng ta vẫn gặp nhau chứ? Mẹ em đi làm về trễ. Gặp anh sau buổi học nhé.” Đó chỉ là một mẩu giấy xé ra từ cuốn vở, vậy mà tim tôi lại đập mạnh lên.
Ngồi trong thư viện để học, tôi cố gắng tập trung vào bài vở, nhưng thật tình là tôi đang không biết làm thế quái nào mà mình sẽ nói với Claire đây. Tôi có khá nhiều “bạn”, từ mấy đứa trong đội bơi lội đến nhiều đứa khác tôi học chung lớp, nhưng chỉ có Claire là người tôi thường háo hức muốn gặp gỡ thường xuyên. Với những đứa khác, thật khó mà lúc nào cũng phải vờ đóng vai là Chris. Cuộc đời tôi có thể sẽ tồi tệ hơn nhiều, và nếu tôi mất đi tình bạn của Claire, nhất định mọi việc sẽ xấu đi rất nhiều. Tôi không biết mình sẽ chịu đựng được những gì tệ hại hơn nữa, nhưng nếu bây giờ tôi không thú thật với ai ngay thì tôi sẽ chẳng còn là tôi nữa.
Claire thường rất vui vẻ tuyên bố mình là người lưỡng tính, cô là kẻ kỳ cục nhất mà tôi quen biết, tất nhiên là trừ tôi ra, nhưng đôi lúc tôi cho rằng chuyện lưỡng tính chỉ là do cô cố tình làm ra cho mình có vẻ độc đáo mà thôi. Hồi giờ chưa bao giờ cô cặp bồ với một cô gái nào cả… ngoài tôi ra, nhưng cũng không hẳn là vậy vì ai cũng thấy tôi là một đứa con trai.
Tôi nhìn ra bầu trời xa xa bên ngoài cánh cửa sổ màu xám của thư viện. Điều xấu nhất có thể xảy ra là gì nhỉ? Claire có thể nghỉ chơi với tôi rồi kể lại hết cho mọi người ở trường, kể cả bố mẹ tôi. Lúc đó thì hoặc là tôi phải chối và bảo rằng tôi chỉ bịa chuyện để đùa mà thôi, hoặc là tôi sẽ bỏ trốn. Cũng có thể tôi sẽ tự tử. Tôi biết đó là một ý định vô cùng khủng khiếp, nhưng không biết sao nó luôn luôn làm tôi thấy dễ chịu. Nếu chuyện vỡ lỡ thì tôi chỉ việc biến mất đi trên cõi đời này. Biết được có lối thoát trong một tình cảnh tuyệt vọng như vậy khiến tôi có thêm nhiều can đảm. Tôi không muốn chết, nhưng chắc chắn là tôi cũng không muốn suốt đời cứ phải vờ vĩnh mãi.
Không có cách nào để tôi dùng máy điện toán trong thư viện để tìm kiếm những phương pháp giúp tôi lộ diện. Tôi biết chắc là trường có kiểm soát việc học trò dùng máy điện toán. Hơn nữa, biết đâu có đứa nào tình cờ đi ngang tôi lúc đó. Tôi chỉ cần một đứa trong đội bơi thấy dòng chữ LỘ DIỆN LÀ NGƯỜI ĐỔI GIỚI TÍNH viết thật to tướng trên lưng mình.
Tôi mở cuốn sách toán ra và tìm những bài khó nhất để có thể đọc một cách thật chăm chú. Nhờ vậy, tôi tạm thời được chia trí ra một chút cho đến lúc chuông reo, rồi lớp toán sau đó làm tôi bận bịu đến tận giờ ăn trưa. Thật không may là năm nay Claire lại ăn trưa vào giờ thứ tư, nên tôi thường phải ngồi chung với mấy đứa trong đội bơi hay làm bài ngay tại bàn.
Sau bữa trưa, tôi thấy khá mệt mỏi, suy tính thử xem mình có thể ngủ trong suốt giờ thứ sáu ở lớp nhiệm ý tâm lý học hay không. Thầy dạy lớp này rất dễ chịu, nhưng gần cả tuần nay chúng tôi đã nói về chứng tâm thần phân liệt rồi nên tôi đã ngán ứ. Lúc tôi tựa lưng vào ghế, sửa soạn ngủ mà-vẫn-mở-mắt, thầy Cooper viết lên bảng hai chữ thật đáng báo động: “Tính dục” và “Giới Tính.”
“Ai có thể phân biệt được hai khái niệm này?” thầy đặt câu hỏi.
Thầy Cooper có dáng người cao ráo, mái tóc biếng chải của thầy màu nâu đỏ—chắc Bố sẽ bảo là quá dài, mặc dù tóc thầy chỉ phủ tới hai tai và gáy. Thầy có nước da tái xanh của người Ái Nhĩ Lan, đôi má ửng hồng như rám gió, nên tôi không rõ là đề tài này có làm thầy đỏ mặt như tôi không. Thầy đứng chắp tay ra sau, bụng ưỡn về phía trước, đu đưa thân người qua lại, nhưng ánh mắt thầy vẫn nhìn bao quát cả lớp một cách bình thản.
Tôi có thể trả lời câu hỏi đó, nhưng nhất định là tôi sẽ chẳng hé môi. Một đứa trong đội túc cầu ngồi ở hàng đầu giơ tay trả lời: “Tính dục là điều chúng ta làm, còn giới tính là người cùng chúng ta thực hiện chuyện đó.”
Cả lớp cười ồ lên.
Jessica, cô bé tóc vàng ngồi cạnh tôi—mà tôi biết là rất khoái tôi—trợn tròn mắt. “Đồ cà chớn,” cô thì thào.
“Trong hai tuần lễ tới, chúng ta sẽ phân tích nhiều mặt khác nhau của tính dục và giới tính,” thầy nói. “Tôi phát ra những tờ giấy xin phép này để các em điền vào, trong trường hợp có phụ huynh nào không muốn các em biết về tính dục, vì sợ điều đó sẽ ngăn cản sự phát triển của các em hay chăng. Chúng ta sẽ thảo luận về các khuynh hướng tính dục bình thường và bất bình thường, sau đó lớp sẽ mời một người từ Trung Tâm Hành Động Đồng Tính Nam và Đồng Tính Nữ đến nói chuyện.”
Tôi muốn gục đầu xuống bàn để khóc, nhưng như vậy thì chẳng khác nào tôi đã tự tố giác mình là kẻ lệch lạc giới tính. Tôi kẹp tờ giấy xin phép vào trang đầu của cuốn sách tâm lý học. Trong giờ ôn tập ngày mai, tôi sẽ giả chữ ký của Bố. Chuyện này thì tất nhiên tôi không đời nào muốn bàn luận với bố mẹ mình.
Thầy Cooper dùng thì giờ còn lại của lớp để giảng giải về khái niệm tính dục liên quan đến các đặc điểm sinh lý của một người như thế nào, trong khi giới tính lại thuộc về phạm trù tâm lý, văn hoá và giáo dục. Tôi có thể dạy cả lớp về những điều này. Nhưng không, tôi chỉ ngồi im như phỗng và cảm thấy như có ai đó thò tay nắm gọn quả tim tôi, còn tay kia thì siết cổ họng tôi lại, thật mạnh.
This publication was supported in whole or in part by funding provided by the State of California, administered by the California State Library in partnership with the California Department of Social Services and the California Commission on Asian and Pacific Islander American Affairs as part of the Stop the Hateprogram. To report a hate incident or hate crime and get support, go to CA vs Hate.
Tác phẩm này đã được hỗ trợ toàn phần hoặc một phần bằng nguồn tài trợ từ tiểu bang California, do Thư Viện Tiểu Bang California quản lý với sự hợp tác của Bộ Xã hội và Ủy ban đặc trách Cộng đồng Người Mỹ gốc Á Châu và Quần đảo Thái Bình Dương cho dự án Stop the Hate (Ngăn Chặn Lòng Thù Hận). Để báo cáo mọi sự việc liên hệ đến tội ác do thù ghét và những hành động kỳ thị chủng tộc, và để nhận lãnh hỗ trợ, xin vui lòng truy cập trang mạng của Bộ Dân Quyền (Civil Rights Department) Tiểu Bang California, CA vs Hate.