Home » Bàn Tròn: Chính trị, Học Thuật, Nhân Văn Email bài này

Kẻ sùng tín – Lời tựa của nhà xuất bản

♦ Translated by: 1 comment ♦ 25.07.2009
tb2front

tb2frontNguyên tác: The True Believer
Thoughts on the Nature of Mass Movements
Xuất bản: Tổ hợp Thời Báo, New York 1963

LỜI TỰA CỦA NHÀ XUẤT BẢN

Dwight Eisenhower không phải là một người có thói quen giới thiệu mạnh mẽ loại sách về triết học chính trị. Thấy ông thúc đẩy những cộng sự của mình đọc cuốn sách Kẻ sùng tín của Eric Hoffer khi đang làm Tổng thống, nhiều người đã tưởng nó là một cuốn sách diễn đạt gọn và rõ những niềm tin của chính Eisenhower. Tuy nhiên, xin nói chắc rằng cuốn sách này không phải như vậy, và rất nhiều độc giả khác, trước và sau Eisenhower, đã thấy nó rất lý thú trong khi lại bất đồng với rất nhiều điều nó đưa ra. Đó là vì Kẻ sùng tín là một hình thức công kích kịch liệt đầy tự chế và nhã nhặn chống lại đức tin, hy vọng và nhiều hình thức từ thiện khác nhau. Khó có thể cho rằng phần đông số độc giả đã đẩy mức bán của cuốn sách lên tới 200,000 bản có cùng quan điểm coi nhẹ ba đức tính trên với Eric Hoffer.

Sự thành công của cuốn sách chắc chắn có phần nhờ vào sự tương phản giữa chính tác phẩm với lời giới thiệu của nhà xuất bản về tác giả: “Eric Hoffer hành nghề phu khuân vác bến tàu ở vùng bờ biển phía Tây từ năm 1943. Trước đó, ông đã làm công lưu động cho các nông trại, và đào mỏ vàng quanh vùng Thành phố Nevada”. Dĩ nhiên, đây là một nước tự do, không có luật nào cấm phu khuân vác viết sách cả. Nhưng người ta phải nghĩ thế nào khi thấy một người phu khuân vác trích dẫn một cách dễ dàng và quen thuộc nào là Thoreau, Carl Becker, Angelica Balabanoff, De Tocqueville, Crane Brinton, Ernest Renan, Epictetus, Brooks Adams, Pascal, Dostoevsky, Jacob Burckhardt, Montaigne và William Butler Yeats? Thời năm 1951, khi Kẻ sùng tín xuất hiện, bao nhiêu con mắt đã mỏi mòn hướng về chờ đợi sự xuất hiện của một triết gia vô sản. Một trường hợp chân chính cuối cùng đã xuất hiện – với một lối triết học khác biệt hoàn toàn với suy nghĩ mà người ta tưởng một người vô sản phải có. Cú sốc văn chương thật khó mà mạnh hơn trong trường hợp này được.

Bởi vì người hùng của Hoffer là con người độc lập, tự chủ, loại người tự tin và yên bình trong tâm hồn về bản thân mình, dấn mình vào với hiện tại. Trong sách của Hoffer, loại người hùng này, được vun bồi lên bởi những xã hội tự do, được đặt đối lập với “kẻ sùng tín”, kẻ khởi đầu từ chỗ cùng quẫn, uất ức, bị thúc đẩy bởi mặc cảm phạm tội, thất bại và nỗi ghê tởm chính bản thân, đến chỗ chôn vùi nhân dạng riêng của mình trong một lý tưởng hướng đến cứu cánh cho tương lai. Ông đặc biệt lưu tâm đến giai đoạn ban đầu, giai đoạn của những con người hoạt động tự phát, hoạt động theo lý tưởng, khi tính cách của các phong trào được định hình từ nhu cầu của những con người phẫn chí muốn trở thành kẻ sùng tín trong một tín ngưỡng, một cuộc nổi dậy của dân tộc, hay một chiêu bài chính trị. Lý tưởng nào cũng không mấy khác nhau, nội dung không phải là điều quan trọng. Tuy nhiên, nó phải đòi hỏi niềm tin, vì con người phẫn chí không thể chấp nhận được thực tại, và niềm tin cho anh ta tấm áo giáp ngăn chặn khỏi những dữ kiện. Nó phải nhấn mạnh vào hy vọng, vì hy vọng cho phép con người phẫn chí thoát ra khỏi cái hiện tại không chấp nhận được (nói cách khác, là cái bản thể ghê sợ của anh ta). Anh ta đạt đến được sự tự  hy sinh (nói cách khác, tự hủy diệt) và đánh mất mình trong cái đồng nhất của phong trào.

Viết vào khoảng thời gian vừa xong Thế chiến thứ 2, Hoffer lấy nhiều ví dụ từ chủ nghĩa Quốc xã, chủ nghĩa Cộng sản, và chủ nghĩa Quốc gia Nhật bản, nhưng ông không chỉ giới hạn một cách phiếm diện lập luận của mình trong những phong trào bị phê phán này. Thiên Chúa giáo, như  ông nhìn, đã kéo dài giai đoạn hoạt động tự phát, lôi kéo thành phần phẫn chí ít nhất cho đến hết thời Trung cổ, thời mà ông cho là “tối tăm” và “trì trệ”. Đã có những phong trào quần chúng tương đối mang lại lợi ích, như phong trào Cải cách và Thanh giáo, hay các cuộc cách mạng Mỹ và Pháp quốc. Chúng đều bắt đầu với một hành động phản kháng ra mặt chống lại trật tự có sẵn. “Hành động phản kháng ban đầu này càng rõ ràng và quyết liệt, cũng như ký ức về nó càng sống động trong tâm trí của nhân dân, sự nảy sinh về sau của tự do cá nhân càng có nhiều khả năng xảy ra. Trong sự ra đời của Thiên Chúa giáo không hề có một hành động quyết liệt như vậy. Nó không khởi sự bằng việc lật đổ một vị vua, một hệ thống tập quyền, một nhà nước hay giáo hội. Đã có những vị thánh tử đạo, nhưng không có những con người dám chìa nắm tay vào trước mũi của giới đương quyền ngạo mạn, và coi thường nó trước mặt cả thế giới. Có lẽ đây chính là lý do mà nền trật tự độc đoán do Thiên Chúa giáo đưa đường đã tồn tại được suốt 1500 năm không bị thách thức.” Cách dùng sự đối kháng ban đầu của cá nhân trước quyền lực để đánh giá các phong trào đã đưa Hoffer đến một gợi ý là “sự nảy sinh tự do cá nhân ở nước Nga về sau có lẽ không phải hoàn toàn đã vô vọng”.

Những phong trào quần chúng, dù có những nguyên nhân khó ưa như vậy, cũng vẫn có thể đóng vai trò hữu ích trong hiện tại, Hoffer ghi nhận. Chúng đã canh tân Nhật bản và nước Thổ nhĩ Kỳ ngày nay, cũng như có thể kích thích dậy những xã hội trì trệ. Hoffer đưa ra quan điểm mà chúng ta có thể đặt dấu chấm hỏi, rằng chủ nghĩa quá khích là một phát minh của hệ tôn giáo Do Thái – Thiên Chúa giáo, rồi nói thêm: “Thật lạ lùng khi nghĩ rằng khi nhiễm phải loại ác chứng này của linh hồn, thế giới cũng đồng thời tiếp nhận vào một phương tiện kỳ diệu để vực dậy các xã hội và quốc gia từ cõi chết – một công cụ của phục sinh”.

Ở chỗ này ta thấy rõ tài năng của Hoffer – người viết: một ý tưởng thách thức người đọc đặt trong một câu văn nhịp nhàng, trơn và gọn, dễ đi vào trí nhớ. Tuy nhiên, Hoffer không tự cho mình là một người viết bằng là một “người suy nghĩ” – và trên phương diện liên hệ này, người đọc có thể tìm thấy một nhận định đánh giá có ích từ Tiến sĩ Sydney Hook, người thày giáo về triết học, người nghiên cứu và viết về những vấn đề công cộng, trong lời giới thiệu ông viết riêng cho lần ấn hành đặc biệt này của Kẻ sùng tín. Ở đây, ta có thể nhận xét một cách khá công bằng rằng những lời văn sáng và rõ như đá quý và những đoạn văn được đắn đo gọt dũa chu đáo của ông lại là một thứ bao bì chứa đựng một số tư tưởng còn khá mập mờ. Ý nghĩa của hai thuật ngữ quan trọng nhất của ông “phẫn chí” và “phong trào quần chúng” có vẻ như lệ thuộc lẫn vào nhau. Chúng ta được biết, qua một chú thích, rằng “phẫn chí” hay “phẫn uất” ở đây không phải dùng như “một thuật ngữ giám định lâm sàng” mà giản dị muốn nói đến “những người vì lý do này hay lý do khác, cảm thấy cuộc đời mình đã hỏng hay bị phí phạm hoàn toàn”. Trong sách không thấy có hoặc có rất ít thông tin về việc làm thế nào chúng ta nhận diện những người đó, ngoại trừ bằng việc họ tham gia các phong trào quần chúng. Vậy thì phong trào quần chúng lại là gì? Là nơi mà những người phẫn chí thường đến tham gia vào. Có cách nào chứng thực một cách độc lập rằng những người được chiêu dụ vào Chủ nghĩa Cộng sản (hay Thiên Chúa giáo hoặc chủ nghĩa Quốc gia Nhật) bị phẫn chí nhiều hơn là những người đứng ngoài? Giả thử – chuyện không thể có – điều đó có thể chứng thực được, những người phẫn chí đó lại có bao nhiêu điểm chung với những người di cư đến nước Mỹ, có vẻ như cũng được Hoffer coi như phần tử của một “phong trào quần chúng”?

Tư tưởng chủ yếu của Hoffer thuộc về một đường lối quy ước đã sáo mòn theo đó những đỉnh cao vĩ đại của lịch sử thuộc về Hy Lạp cổ và thời Cải cách. Sự đối lập của ông đối với tín ngưỡng là một phản ứng hoàn toàn dễ hiểu với khuynh hướng đáng tiếc của những con người có tín niệm thường hay lấy việc những kẻ khác không có niềm tin giống mình mà đổ lỗi về những tội lỗi cá nhân của họ. Còn gì đơn giản hơn là quay ngược lưỡi dao lại và đem những nhược điểm cá nhân gán ghép vào (để giải thích cho) tín ngưỡng? Cái nguy hiểm trong cách luận chiến này là nó coi nhẹ tối đa sự khác biệt giữa thứ “tín ngưỡng” này với thứ kia, và cả giữa “sự chỉ trích lịch sự” đàng hoàng của chính Hoffer với loại vô tín ngưỡng rao giảng dao to búa lớn, cũng có thể tác hại không kém gì sự quá khích của tín đồ tôn giáo (hay Cộng sản).

Hoffer không phải hoàn toàn không biết đến sự nguy hiểm này. Khi bàn luận về “loại người đấu tranh quá khích trong ngôn từ”, ông trích dẫn lời của Yeats để chỉ cho ta thấy cái gì sẽ xảy ra, khi người trí thức báng bổ đã làm xong việc của mình:

Những kẻ tốt nhất không còn xác tín ở điều gì,
Trong khi những kẻ xấu nhất thì tràn trề năng lực.
Hẳn rồi, đã tìm thấy được một thứ đáp án siêu nhiên,
Hẳn rồi, đã tới ngày Chúa Ki-tô lại đến.

Là một người hoàn toàn không biết kính nể trong ngôn từ, Hoffer có vẻ không e ngại gì về việc cuộc tấn công của ông vào những tín ngưỡng tôn giáo và chính trị sẽ góp phần dọn đường cho những kẻ quá khích. Nước Mỹ, như  ông từng nói, cần có tín ngưỡng khi nó còn non yếu, nhưng bây giờ thì không khi người dân của nó đã trở nên “mạnh mẽ, tháo vát và tự hào”. Kết luận này, Hoffer sẽ lập luận, được dựa trên quan sát thực tiễn và lý trí. Tuy nhiên, người khác lại có thể nghi ngờ rằng sự ngưỡng mộ “con người độc lập” giữa những đồng bào Mỹ của ông cũng có cái gì đó từa tựa như một thứ tín điều.

Eric Hoffer sinh ở Manhattan năm 1902, con trai của những di dân từ Đức; cha ông là một người thợ đóng tủ. Eric biết đọc từ lúc lên 5. Năm 7 tuổi, một chấn thương ở đầu khi ngã làm cho ông bị mù hoàn toàn. Ông được một bà vú em chăm sóc, một người đàn bà Đức đồ sộ thường ôm ông trong vòng tay và đối xử với ông tử tế, ngược lại với cha ông. Khi ông 15 tuổi, không hề trải qua phẫu thuật nào, hay một sự dự liệu hoặc sửa soạn gì, bỗng nhiên thị giác của ông có trở lại. Ông đã lỡ cơ hội đi học và hầu hết một tuổi thơ bình thường như mọi người. Bà vú em trở về lại bên Đức. Cha mẹ ông cùng mất, để lại cho ông $300. Ông chuyển đến California vì nghĩ rằng đây là nơi lý tưởng cho một người thanh niên nghèo – ta nên lưu ý, không phải cho một người nghèo muốn thăng tiến lên, nhưng là cho một người quyết định giữ cuộc sống nghèo khó. Năm 18, ông hoàn toàn trắng tay và thất nghiệp giữa thành phố Los Angeles và đánh giá đời mình coi như  đã gần hoàn hảo.

Nhiều năm liền, Hoffer làm các công việc nay đây mai đó, với cả chục thẻ thư viện trong túi, mỗi cái cho một thành phố mà ông đi qua. Ông theo nghề tìm vàng và khá vui lòng với lối sống này, cho đến một hôm, sau một mẻ khá thành công, ông thấy mình trở về thành phố với ý nghĩ về lần tới, mình còn có thể đào thêm được bao nhiêu vàng. Ông nhận ra đây là một sự dự liệu – cái mà dưới cái nhìn của ông gần như là một thứ tội lỗi, làm hư hỏng hiện tại bằng những giấc mơ hướng tới tương lai. Ông vượt qua được sự cám dỗ, và chẳng bao lâu, tìm được công việc cố định là nghề phu khuân vác ở San Francisco, nơi không có nguy cơ tìm được cách làm giàu đột ngột. Ông rất hãnh diện vì kỹ năng của mình và của các đồng nghiệp. Ông là một thành viên, nhưng không tha thiết gì, trong liên đoàn bốc vác của Harry Bridges. Hoffer không bao giờ lập gia đình, và cũng không quảng giao cho lắm, nhưng không phải là loại người ẩn sĩ, và nhất là không yếm thế. Người ta thấy ông sống bình lặng với một sự đam mê nồng nhiệt đối với hiện tại, một sự đam mê rất tự nhiên đối với một người thanh niên tráng kiện bỗng nhiên có lại được thị giác. Chuyện tốt đẹp nhất trong đời Hoffer đã đến mà không dính dáng gì tới đức tin hay hy vọng cả. Ai cần gì đến chúng nữa?

Mặc dù có tính cách đơn giản hoá sự việc quá mức khi đọc lướt qua (điều này chính Hoffer cũng nhìn nhận) và những chi tiết lệch lạc về lịch sử, Kẻ sùng tín thật sự là một thành tựu đáng kể. Năm 1951, khi nó được xuất bản, phần đông sử gia và nhà khoa học chính trị vẫn còn bị nắm chắc trong gọng kìm của phương pháp diễn giải lịch sử theo kiểu kinh tế. Hành động của con người, dù là bỏ phiếu, nổi loạn hay gây chiến được coi như những tuân thủ theo mạng lệnh của “lý lẽ của túi tiền”. Hiến pháp Hoa Kỳ được coi như một tập hợp thuần túy những thoả hiệp giữa các nhóm quyền lợi kinh tế. Hitler bị xem như một công cụ của những nhà kỹ nghệ vùng Ruhr, có nhiệm vụ bảo vệ ưu thế kinh tế cho họ chống lại giới công nhân. Thế giới được chia ra thành những nước có của và không có của. Trong 12 năm vừa qua, huyền thoại về tính tiền đề của kinh tế trong động cơ hành động của con người đã đánh mất sức nắm giữ đối với cộng đồng học thuật hàn lâm, và có thể dự trù sẽ suy giảm rõ rệt và nhanh chóng trên phương diện đại chúng.

Hoffer đã đi trước số đông trí thức trong việc nhìn qua khỏi kinh tế vào sâu hơn những uyên nguyên của chính trị. Ông sẽ không bao giờ phạm cái lỗi, chẳng hạn, tin rằng chỉ đơn thuần thoả mãn những thiếu thốn vật chất với viện trợ Mỹ là giải quyết được các xung đột chính trị ở những quốc gia chậm tiến. Dù cho cách liên hệ tâm lý cá nhân với chính trị của Hoffer có đáng khảo sát thêm hay không, ít nhất ông cũng đã đào bới đúng chỗ, hỏi đúng câu hỏi và diễn đạt sự tìm kiếm của mình bằng những lời văn với sự mới mẻ đầy phấn chấn.

Ban Biên Tập Thời Báo

Articles by Eric Hoffer

Comments


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

1 Comment

  • langsaotui says:

    Thiên Chúa giáo, như ông nhìn, đã kéo dài giai đoạn hoạt động tự phát, lôi kéo thành phần phẫn chí ít nhất cho đến hết thời Trung cổ, thời mà ông cho là “tối tăm” và “trì trệ”.
    Đọc đoạn này, tôi liên tưởng đến giai đoạn các thừa sai Kitô theo thực dân Pháp vào nước VN. Năm 1550, cha Gaspar De Santa Cruz đến giảng đạo tại Hà Tiên; Năm 1588, hai cha Luis de Fonseca và Grégoire de la Motte bị vua Chiêm Thành hãm hại tại Quảng Nam. Trước đó, năm 1583, do lời mời của nhà Mạc, các linh mục dòng Phanxicô đã đến Bắc Hà. Cha Bartôlômêô Ruiz đã giảng đạo bằng tranh ảnh tôn giáo. Sự kiện nổi bật cuối thế kỷ XVI (1591) là việc trở lại của công chúa Mai Hoa (Maria Flora) tại Thanh Hóa, do linh mục Ordonez. Hiện nay tại An Trường (Thanh Hóa) vẫn còn một nền nhà thờ và một giếng Da-tô do công chúa cho đào. (Trích từ C.A. Poncet : la Princesse Marie, Bulletins des Amis du Vieux Huế tháng 12-1941, tr. 351-358.)
    Và đây là những tín hữu đầu tiên. Theo tài liệu của Nguyễn Hồng, Lịch Sử truyền giáo ở Việt Nam I, Hiện Tại 1959 tr. 68-76; 105-118. “Các tín hữu Việt Nam tiên khởi đã đóng góp vai trò rất lớn lao trong công trình ấy. Ngoài việc giúp các thừa sai học tiếng, các vị còn phiên dịch kinh sách và giáo lý ra chữ Nôm để phổ biến. Sử sách còn nhắc đến cụ nghè Giuse, sư cụ Manuel giúp cha Pina ở Quảng Nam, đến cụ Gioakim giúp cha Đắc Lộ ở An Vực, Thanh Hóa.” Còn theo Đắc Lộ, Lịch sử xứ Đông Kinh, Lyon 1651, tr. 164, tác giả này đã viết “những vần thơ văn của công chúa Catarina, viết về “lịch sử đạo Thiên Chúa từ tạo thiên lập địa đến khi Chúa xuống thế… “. “… Thơ văn đó được các người có đạo truyền tụng nhau, họ ngâm lên lúc làm việc ở nhà, ở ngoài đồng hay lúc đi đường”.
    Trích dẫn những đoạn trên để cho thấy những người tín hữu đầu tiên theo Kitô giáo có thể toàn là những người “phẫn chí”. Đọc lại tiểu sử 117 vị thánh tử đạo của VN, ta cũng thấy những nhân vật này toàn là những người dân thường, binh sĩ, cai tổng, cai đội… làm chức cao nhất là quan thái bộc (Hy), quan thị vệ (Bường)… Chẳng có ai có đủ cái khí khái của một kẻ sĩ như Nguyễn Đình Chiểu. “Thà đui mà giữ đạo nhà” vẫn là tiếng chuông cảnh báo cho những tưởng mình là sáng suốt mà thật ra là mù quáng chạy theo những ảo tưởng vẽ vời của những thế lực đầy tham vọng thống nhất thế giới.

@2006-2025 damau.org ♦ Da Màu Magazine
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)