(theo bản tiếng Pháp của Didier Leroy, dịch từ nguyên tác tiếng Ba-Tư của Spôjmaï Zariâb, một nhà văn nữ Afghanistan)
“Giày đinh, giày đinh! Nho, nho!” Tiếng nói tôi vọng dội trong đầu tôi. “Giày đinh, giày đinh! Nho, nho…” Trời nóng, nóng lắm; tôi ngột ngạt. Những trái, những vườn nho hoà nhau rên khóc trong đầu tôi, vò xé lòng tôi. Tôi nhớ đến những chiếc giày đinh: tôi lại thấy chúng, đen bóng, vấy máu đến tận giữa ống. Nỗi sợ những chiếc giày đinh khiến tôi lạnh buốt xương sống, tôi la lên:
– Chúng nó đến kia kìa, chúng kia kìa! Giày đinh! Đừng để chúng đến gần! Chúng sẽ hủy diệt tôi, chúng sẽ hủy diệt hết chúng ta!
Hôm nay là thứ bảy. Đúng là thứ bảy, phải không? Tôi đang ở trong làng dì tôi. Hè nào tôi cũng đến đây. Tôi là nhà giáo; hay có lẽ không, tôi không phải là nhà giáo. Tôi chẳng biết nữa. Ngôi làng chói chang nắng hè, chan hoà ánh sáng và màu sắc, trong khi các cành cây trĩu nặng những trái. Lòng tôi rung động. Trước nhà dì tôi là một vườn nho, cùng những vườn nho khác trải dài đến tận chân trời, cây nào cũng phủ đầy trái. Lòng tôi rung động – và cả thân xác tôi cũng rung động theo – tôi tưởng như hai chân tôi cùng chạy một lượt. Tôi là một cây nho; hay tôi trở thành một cây nho… Tôi chẳng biết nữa. Vườn nho rên khóc, tôi nghe rõ. Tôi cũng rên khóc. Hết thảy phụ nữ trên thế gian này rên khóc.
– Những chùm nho! Những chùm nho! Thượng Đế ơi, những chùm nho!
Họng tôi khô rát, lưỡi tôi nóng như lửa.
– Nước, nước… Cho tôi chút nước…
Người ta rót nước vào miệng tôi; ai thế? Tôi cũng chẳng biết nữa. Tôi cảm thấy nước mát rượi trong họng; tôi cảm thấy nước chảy xuống ruột.
Khắp làng chằng chịt những mương tưới tiêu nho nhỏ. Nươc dưới ấy đã nhuộm đỏ. Hôm nay là thứ bảy. Tôi ngắm dì tôi vắt sữa con bò cái: khăn bà trùm đầu lấp lánh trong ánh nắng; khăn bà trùm đầu phá lên cười. Tôi thương mến bà, người dì với mái tóc hoa râm và đôi mắt tươi cười, giống hệt cha tôi. Hết thảy đều tươi cười, trong làng này… Kể cả con bò của dì tôi: khi tôi nhìn vào mắt nó, tôi cảm thấy một sợi dây gắn bó chúng tôi, nó với tôi. Khi vuốt ve lớp da nóng hổi của nó, tôi cảm thấy chất lửa lỏng chảy trong huyết quản nó. Nó nghiêng đầu ngó cái tiếng òng ọc màu trắng xuống tới đáy bình thì ngả vàng, rồi đưa mắt nhìn dì tôi một cách hân hoan, đắc thắng. Thế là từ nay cả ba chúng tôi gắn bó với nhau bằng sợi dây ấy, dì tôi, con bò và tôi. Tôi cười; dì tôi cười; con bò cười; và hết thảy phụ nữ trên thế gian này đều cười.
Nếu đã không có những chiếc giày đinh ấy, phải chi đã không có những chiếc giày đinh ấy…
– Giày đinh! Giày đinh đến rồi! Chúng kia kìa! Đừng để chúng đến gần! Chúng sẽ hủy diệt tôi, chúng sẽ hủy diệt hết chúng ta! Chúng đã giết hết các chùm nho rồi!
Một tiếng nói vọng lại từ xa:
– Cô ấy sảng rồi.
Một tiếng nói khác vang lên, cũng từ rất xa:
– Cô ấy còn sốt không?
– Còn, một tiếng nói khác nức nở.
Tiếng nói nức nở ấy, tôi biết nó thuở tôi còn biết tôi. Ai sốt vậy kìa? Tôi ư? Làm sao biết được? Họng tôi khô rát.
– Nước… nước…
Người ta rót nước vào miệng tôi, nước mát lạnh.
***
Tôi ngồi bên dòng suối. Bên bờ đồng nho này róc rách một dòng suối trong vắt. Tôi thọc tay xuống làn nước lạnh ngắt và ngây ngất thấy tay mình buốt giá. Dì tôi gọi:
– Cháu rửa mặt đi!
Ngồi dưới bóng cây, dì tôi lấy thóc trong cái giỏ nhỏ đặt dưới chân ném cho đàn gà. Lũ gà ngắm nghía một lúc rồi bắt đấu mổ. Chúng cười; dì tôi cũng cười; và hết thảy phụ nữ trên thế gian này đều cười… Tôi lại thọc tay xuống nước và vốc lên mặt: huyết quản tôi căng lên vui sướng dưới làn nước nhiệm màu ấy. Nhưng phép màu đâu? Những chiếc giày đinh đến rồi kia. Những chiếc giày đinh… Thượng Đế ơi, hãy ban phép màu đi! Những chiếc giày đinh đẫm máu xéo nát những chùm nho còn xanh quằn xuống vì nặng trĩu. Chúng rên rỉ cũng như cả đồng nho này rên rỉ: suốt đêm tôi nghe thấy những chùm nho rên rỉ và vườn nho than khóc. Nó than khóc cho cái chết của những chùm nho của nó; hết thảy phụ nữ trên thế gian này than khóc, tôi nghe thấy cả.
– Cô ấy bị trúng vào đầu?
– Phải, tiếng nói khác nức nở.
Cái gì đã trúng vào đầu cô ấy? Mà đầu ai? Đầu tôi ư? Cái gì đã trúng vào đầu tôi? Đầu tôi tách rời khỏi thân tôi; từ trước vẫn luôn luôn là như thế. Ngưòi ta đã móc đầu tôi lên tường. Khi nhìn nó, tôi có cảm tưởng cái sọ đang nứt ra. Đầu tôi nhìn tôi và hết thảy kinh hãi trên thế gian này gom vào trong mắt tôi. Môi mím chặt, bị khâu kín nữa, tôi im tiếng như hết thảy phụ nữ trên thế gian này im tiếng. Những giọt lệ nước rất to từ hai mắt tôi chảy dài.
– Nước… nước…
Người ta rót nước vào họng tôi. Trời mưa trong làng. Mưa rửa sạch làng và làm sáng loáng lá cây. Một mùi đất ẩm từ vườn nho bốc lên và lan trong phổi tôi. Nước nhỏ giọt từ các chùm nho. Mưa rửa các chùm nho, mưa cù chúng: tôi nghe thấy chúng cười, những chùm nho và lá cây. Ô! vui thú làm sao khi nghe tiếng cười những chùm nho và lá nho! Mỗi cây nho ôm chặt trong cành các chùm nho. Tôi cảm thấy một sợi dây gắn bó chúng tôi, vườn nho với tôi, và cùng lúc các cây nho trong vườn cười vang, tôi nghe thấy cười vang hết thảy phụ nữ trên thế gian này.
– Cháu hái một chùm đi! dì tôi kêu.
Tôi bèn đến bên vườn nho: trái chưa chín, nhưng tôi choàng lấy những chùm xanh và ôm thật chặt. Tôi đưa bàn tay run run bẻ một chùm; nhưng nó cưỡng lại và tôi không buông. Cứ như là vườn nho run lên: từ đáy lòng tôi, tôi cảm thấy nó run lên cùng tôi, cùng hết thảy phụ nữ trên thế gian này… Thế rồi bàn tay tôi buông rơi, bất động, như là không còn sức sống. Vườn nho đã trùm phủ những chùm xanh của nó, giấu kín trong lòng như thể mẹ giấu con. Tôi không sao hái được chùm nào. Ai mà dám tước giật của vườn nho những chùm còn xanh kia? Và tay tôi trở lại trống không. Dì tôi chỉnh lại băng buộc khăn choàng, e tóc mình lộ ra. Cả đời bà, bà cứ giấu trong khăn choàng mái tóc ngày một bạc.
– Cháu không hái nho ư?
– Không ạ, nho chưa chín.
Bà cười hàm ân và gương mặt lộ hết những vết nhăn chồng chất qua bao năm tháng. Bà càng cười, gương mặt bà càng nhăn thêm.
– Cô ấy bị lúc nào vậy? một tiếng nói cất lên.
– Vào giờ cầu kinh chiều.
Kìa dì tôi cầu kinh, mặt hướng về Makkah, hai tay úp trên trái tim, đầu buộc khăn. Bà tụng kinh, đôi môi hồng mấp máy. Tôi thuộc những câu kinh bà đang đọc. Bà cúi mình, trán chạm đất, rồi ngẩng lên, hai tay trên ngực. Và kìa bà lại cúi xuống, gập mình lại. Trán bà lại chạm đất, lại ngẩng lên, một lần, hai lần, mười lần, trăm lần… tôi không còn đếm được nữa… Bây giờ ngồi trên hai gót chân, hai tay giơ lên trời, bà tụng gì đó, van nài gì đó… tôi chẳng hiểu. Khi sau đó trông thấy đàn gà và con bò, bà hà hơi về phía chúng để Thượng Đế ban phúc cho chúng. Bà cũng hà hơi về phía những hạt luá, vườn nho, khắp mọi hướng, về phương nam, phương đông, phương tây, bà hà hơi, hà hơi…
Bà mỉm cười, đứng lên. Mặt sáng rỡ một niềm xác tín thanh thản.
– Cháu không cầu kinh ư?
– Không ạ…
Bà không nói gì, vục xô xuống suối lấy đầy nước rồi tiến đến bên đàn gà chiêm chiếp khát. Ngay sau đó là những tiếng chiêm chiếp mừng vui vang dội khắp trại, khiến tôi phát cuồng. Đàn gà uống nước, còn tôi thì khát…
– Nước… nước…
Người ta rót nước vào miệng tôi. Trong làng đâu đâu cũng có nước. Dì tôi rửa tay, rửa mặt. Bà mặc vào cái áo thêu hoa, buộc lên đầu một cái băng đẹp hơn và một cái khăn trắng tinh, và sau cùng choàng lên một tấm mạng lớn màu xám mà bà hạ lưới xuống trước mặt: khi bà nói với tôi, tôi có cảm tưởng bà lên tiếng từ sau một bức tường khổng lồ. Bà nhìn chung quanh qua các mắt lưới. Như thể bà nhìn thế giới qua một cửa sổ khiến thế giới đổi màu. Chẳng phải hết thảy phụ nữ trên thế gian này đều nhìn thế giới qua một cửa sổ đó sao? Nhìn bà, tôi cứ tưởng tượng các mắt lưới của tấm mạng lớn dần lên và trở thành các chấn song một phòng giam. Chính là qua các chấn song một phòng giam mà dì tôi lên tiếng với tôi, mà hết thảy phụ nữ khác trên thế gian này lên tiếng, như tôi. Dì tôi, tay xách giỏ trứng, dợm bước đi.
– Dì đi đâu đó?
– Dì đi hỏi thăm Thượng Đế có khoẻ mạnh không…
– Bộ Thượng Đế đau yếu sao?
Bà cuời, chút nào bối rối, rồi kể cho tôi một câu chuyện, như bà vẫn rất thích làm như thế.
– Một hôm, bà cắt nghĩa, có người đến ra mắt Thượng Đế, vì Thượng Đế khiển trách ông ta rất nhiều. “Nhưng vì sao chứ?” ông ta hỏi Thượng Đế. “ Ta đã gõ cửa nhà ngươi, Thượng Đế bảo, nhưng ngươi không cho ta ăn gì. Ta ngã bệnh mà ngươi không đến hỏi thăm.” “Coi kìa, người kia trả lời, Thượng Đế có bao giờ ghé nhà con đâu, và Thượng Đế cũng có ngã bệnh đâu!” “Cho ngươi biết, Thượng Đế đáp, kẻ hành khất gõ cửa nhà ngươi, ấy, là Ta đó. Và người láng giềng tội nghiệp, nghèo khổ, bệnh hoạn của ngươi, đúng thực là Ta đó.”
Thế rồi dì tôi cười và ra khỏi sân nuôi gà, hà hơi cầu khẩn Thượng Đế ban phúc cho các hạt lúa, cho đàn gà, cho con bò – vĩ đại làm sao, nhiệm vụ bà phó cho Thượng Đế! – và, đội giỏ trứng lên đầu, bà đi thăm hỏi tin Thượng Đế…
Đầu tôi đâu nhỉ? Tìm đầu tôi đi! Những chiếc giày đinh đã tách đầu tôi khỏi thân tôi. Có lẽ đầu tôi đã trở về làng… Những chiếc giày đinh! Những chiếc giày đinh! Chớ để chúng lại gần! Những chiếc giày đinh lại gần… Thượng Đế ơi, con van ngài, hãy cho một phép màu! Những chiếc giày đinh lại gần!
– Nhưng vì sao cô ấy bị như thế?
– Chúng oanh kích làng, tiếng nói nức nở trả lời. Đúng cái buổi chiều nó ở đấy.
Đêm xuống. Không, đêm chưa xuống. Ánh sáng ban ngày hòa vào bóng tối ban đêm. Giữa bầu không khí ám khói, trăng sao xuất hiện trên bầu trời âm u. Hương thơm của vườn nho, của nho còn chua và của lá xanh tràn đầy ngôi nhà: ngồi bên cửa sổ, tôi ngây ngất với những hương thơm ấy. Tôi vừa hít vào là hai lá phổi căng phồng của tôi rung lên vì vui sướng. Và bấy giờ tôi cảm thấy tôi hoàn toàn tan vào, lẫn vào với đồng nho ấy, những trái nho chua và những lá xanh ấy. Tôi thành thảo mộc.
Dì tôi ngồi bên tôi, tay cầm ngọn đèn bão. Trong làng không có điện; cũng chẳng ai biết điện là gì nữa kia. Dì tôi lại còn sợ điện là đằng khác. Ngọn đèn bão để căn phòng ám khói chìm trong tranh tối tranh sáng. Trên kệ ngất ngưởng những lộc bình Trung Quốc dì tôi thừa hưởng của tổ tiên đời này qua đời khác. Bà nói hễ nhìn chúng bà lại thấy khuôn mặt người cha; bà rất mực yêu quý chúng, những lộc bình ấy. Ngọn đèn bão dâng đầy căn phòng một sự hiện diện bí ẩn: góc này sáng, góc kia tối – tôi, kẻ hễ ở trong tối là hãi sợ! – và kìa dì tôi trải ra hướng về Makkah tấm thảm cầu kinh của bà, vì đã đến giờ cầu kinh chiều. Bóng bà di động trên tường. Cái bóng quỳ xuống, đứng lên, lại quỳ xuống. Bà giơ hai tay, tụng kinh, cầu khẩn. Sự bình an dịu dàng lan dần trên mặt bà. Bây giờ, sự bình an ấy đâu? Dì tôi cuốn tấm thảm cầu kinh và ra khỏi phòng. Khắp nhà phảng phất mùi hương hoa trắng, nhà nào trong làng cũng có mùi hương ấy. Trên tường treo một tấm gương hình trái tim, một món kỉ niệm từ thành phố mang về. Tôi đứng lên, lấy cái gương và tới ngồi bên ngọn đèn bão để ngó mình thật lâu. Tôi thích cái gương ấy như hết thảy phụ nữ trên thế gian này hẳn sẽ thích nó. Tôi đặt gương về chỗ cũ rồi tôi lắng nghe sự yên lặng trong làng, sự yên lặng khiến mọi vật đều thành nhẹ nhõm. Tôi không cảm thấy sức nặng của tôi nữa. Tôi lấy đà và bay lên. Bay lên êm dịu biết dường nào!
Nhưng sự yên lặng trong làng bỗng rung rung: có những tiếng động vẳng lên từ xa.
– Chuyện gì thế?
Dì tôi, tấm thảm cuốn dưới tay, không nói gì: câu trả lời của bà hằn lên trong đôi mắt lồi ra trên khuôn mặt mới lúc trước tràn đầy bình an. Tiếng động to dần và gần hơn. Những tiếng la càng lúc càng ầm ĩ hơn. Một ai đó gọi người giúp, nhiều tiếng nói kêu cứu. Trong làng là cả nỗi hốt hoảng. Tôi đứng lên; tôi sợ, dì tôi cũng sợ. Bà đi xuống sân và tôi ở lại một mình. Cây đèn bão thôi còn biết sự bình an được hưởng mới đây: ngọn lửa của nó rung lên. Trên tường, cái gương cũng run rẩy cùng những ánh rọi nhảy múa của ngọn đèn. Thế là tôi từ nay một mình trong cõi tranh tối tranh sáng của căn phòng này và tôi linh cảm một âm mưu nép trong bóng tối đe doạ tôi. Những tiếng kêu càng lúc càng dữ dội hơn. Dì tôi ở đầu sân bên kia: tôi có kêu bà cũng không nghe thấy. Tôi ngó mắt tôi trong gương rồi tôi vụt chạy thật nhanh, quên cả đôi giày bên cửa. Nỗi sợ khắp châu thân và hành lang đất ẩm khiến tôi lạnh buốt xương da. Tôi nghe thấy miệng tôi bật ra một tiếng kêu và, hai hàng mi dúm lại, tôi xuống tới sân. Trong vườn rau, hai chân tôi lún xuống lớp đất mềm những mương tưới tiêu. Tôi không còn điều khiển hai chân tôi được nữa… Hai chân tôi…
– Nhớ che kín chân con nhé!
Câu nói ấy, tôi đã nghe cả ngàn lần từ miệng mẹ tôi. Tôi tìm đôi tay gầy của bà, mùi hương thuốc lá thơm của bà.
– Che kín chân con nhé!
Hai chân tôi lún trong đất mềm ẩm các luống rau. Tôi cố tránh bồn hoa, tránh xéo lên các đoá hoa. Cái sân mới rộng làm sao! Sau cùng tôi tới được bên dì tôi và nắm lấy tay bà. Từ khắp nơi vang vọng những tiếng rền rĩ càng lúc càng to hơn, cùng những tiếng kêu kì dị. Mặt đất rung lên. Tôi đứng sát vào dì tôi. Ôi, bà gầy quá! Tôi cảm thấy xương bà run rẩy.
– Rassoul!… Rassoul! bà gọi.
Con trai bà vắng nhà; bà chờ con. Bà toan mở cổng trại đi tìm con, nhưng tôi níu bà lại. Không có bà, tất tôi sợ lắm. Nhưng bà cất bước chạy rồi leo lên mái. Tôi cố theo bà, nhưng tôi ngã lúc leo thang, hai chân tôi rã rời.
– Rassoul đâu? Bà kêu lớn.
Tiếng bà kêu lẫn trong tiếng những người khác khóc than. Tôi ngã nhưng gượng đi tiếp. Cuối cùng tôi lên tới mái. Cả làng sáng rực, nhưng đó là do những ngọn lửa soi sáng: cả làng cháy bùng bùng. Đồng nho tan hoang: những cỗ xe khổng lồ tựa những con quái vật cày nát đồng nho rền rĩ uất hận. Vườn nho khóc than. Và những trái nho! Giữa xích sắt các chiến xa rỉ ra những trái nho dập nát và nước nho thấm vào các kẽ đất khô. Vườn nho khóc than cái chết các chùm nho và những tiếng rền rĩ ấy hoà trong tiếng gầm rú động cơ các chiến xa. Dì tôi kêu khắp hướng:
– Rassou-ou-ou-ou-l…
Đấy là lần đầu tiên tôi nghe thấy bà hét lên như thế. Tiếng hét bùng lên giữa những tiếng kêu khác và toả lan vào chúng. Tôi lại bên bà: hai chân run rẩy, tôi đứng bên mép mái và tôi nghe được chân tôi run rầy. Khói thuóc súng khiến tôi ngộp thở; khắp làng đầy mùi thuốc súng, một mùi tang tóc tôi quá dư biết và lại càng khiến tôi run rẩy hơn, một tai ương gớm ghiếc. Tay chân tôi rã rời, tôi ngộp thở giữa khói thuốc súng và cùng tôi ngộp thở hết thảy phụ nữ trên thế gian này…
***
Dì tôi đã trở xuống sân, bà tới đứng sau cổng và nhìn qua các khe hở cánh cổng… Tôi nghe thấy bà đấm ngực kêu tên Rassoul. Thình lình bà la lớn:
– Giày đinh… giày đinh! Thượng Đế ơi, giày đinh!
Tôi đẩy bà ra và nhìn qua các khe hở cánh cổng: tôi thấy chúng, những chiếc giày đinh, chúng tới gần, mỗi lúc mỗi to hơn. Kinh sợ đến tê liệt, tôi thấy chúng từ phiá bên kia tới, vấy đầy máu và những trái nho dập nát. Đến lượt dì tôi xô tôi ra và nhìn qua khe hở. Tôi chưa hiểu làm thế nào bà nhận ra máu khô trên những chiếc giày đinh là máu Rassoul, bà đã đấm ngực, cào xé ngực:
– Rassoul! Chúng giết Rassoul rồi! Chúng giết nó rồi!
Bà ngã gục và các bản lề cổng rung lên dữ dội: chúng đang phá cổng. Tôi gồng mình chống vào cánh cổng cho nó không đổ. Nó càng rung hơn; rồi thế là hết: đầu gối tôi khuỵu xuống và tôi kinh hoàng nhìn cánh cổng vẫn đóng bật ra khỏi khung gỗ; hai bàn tay tôi thành vô dụng, hai bàn tay vẫn yếu ớt tự bao giờ. Cánh cổng vẫn đóng đổ nhào trong âm thanh kinh khủng, âm thanh hãi hùng tôi tưởng như vang dội khắp làng, khắp xứ, khắp trần gian. Tôi vẫn ở bên cổng và tôi ngồi xệp xuống đất. Có cảnh tượng nào đau lòng như cảnh cánh cổng bị xô đổ? Dì tôi yên ngủ hay có lẽ chết rồi. Tôi cảm thấy trong tôi, trước cánh cổng đổ này, hết mọi tủi hổ, mọi ô nhục của trái đất này. Chúng phá cổng rồi!
Và kia những chiếc giày đinh vấy máu tiến vào trong trại. Cúi gầm đầu, toàn thân run rẩy, tôi ngó những chiếc giày đinh và mặt đất. Máu nhỏ giọt từ những chiếc giày đinh: máu Rassoul, tôi nhận ra rồi; máu tất cả những Rassoul trên thế gian này…
Tôi nhận ra nước những trái nho còn xanh và nhựa lúa. Cho đến tận chân trời chỉ còn là giày đinh với giày đinh, tất cả đều vấy máu và bê bết nước nho. Một sức nặng lạ thường xâm lấn tôi, như thể sức nặng cả trái đất này đè lên hai vai tôi; hai chân tôi hết còn chống đỡ được tôi. Tôi dựa lưng vào tường, đầu óc quay cuồng. Tôi nghĩ tôi ngủ, nhưng tôi không dám chắc. Tôi nhìn ra dì tôi đứng bên con bò trắng của bà; bình sữa dưới tay, bà vuốt ve con bò thản nhiên nhe răng và chìa ra đôi sừng nhọn. Dì tôi đặt bình sữa dười vú con bò, rôi tôi nghe ra cái tiếng quen thuộc sữa ọc ọc xuống tới đáy bình thì ngả vàng.
Thình lình dì tôi vụt đứng dậy, khuôn mặt đầy kinh hãi. Bà đã bỏ bình sữa dưới đất và lấy hai tay tát vào mặt mình. Tôi ngó bình sữa; cái bình đầy máu. Con bò không cho sữa nữa, mà cho máu; vú nó vẫn còn nhỉ máu. Đầu tóc dì tôi rối bù, băng buộc khăn rơi dưới đất, bà lấy tay đấm vào đầu mình. Những người đàn bà trong làng ùa đến bên cổng trại, đồng thanh than khóc. Người nào tóc cũng xám như tro, mặt mày hốc hác phát sợ, và người nào cũng xách một cái bình đầy máu: bò của họ cũng không còn cho sữa nữa. Họ khóc, và thình lình, tôi nhận ra con bò của dì tôi cũng khóc; hết thảy bò đều khóc; cả tôi nữa, và hết thảy phụ nữ trên thế gian này; tôi nghe rõ cả…
– Nó mất máu ở đầu nhiều lắm, tiếng nói nức nở bảo.
Nho cũng thôi còn cho nước, mà cho máu. Đấy không phải là những chùm nho trĩu trên cây nữa, mà là những tay, những chân, những đầu. Và một mùi máu hôi hám đã chiếm chỗ hương thơm các lá xanh. Thế là tôi la lên. Tôi muốn kêu gọi cả thế giới này làm chứng, nhưng tôi cũng chẳng nghe thấy tiếng kêu thoát ra từ cổ họng tôi. Tôi đứng bên cổng, run rẩy. Dì tôi không còn đấy nữa. Tôi thét lên:
– Dì ơi! Dì ơ… ơi!
Không ai trả lời. Cả trại chịu phép những chiếc giày đinh. Các mương tưới tiêu tan hoang và các rễ cây trồi lên khỏi mặt đất. Tôi chạy về nhà. Mọi cửa nẻo đều đã bị xô đổ, phá nát. Mà chúng tìm cái gì mới được chứ, những chiếc giày đinh kia? Chúng tìm ai? Chúng tìm Rassoul chứ gì nữa, tất cả những Rassoul trên thế gian này.
***
Duy tấm gương vẫn còn nguyên chỗ cũ: tôi vội chạy đến, nhưng giữa tấm gương là một đường nứt vỡ. Tôi nhìn tôi: kinh sợ làm sao, trông tôi giống hệt dì tôi cùng tất cả những người đàn bà tôi đã thấy trong lúc tỉnh mà mê vừa rồi. Mặt tôi nhăn nhúm thật hãi hùng. Trong một đêm tôi đã già đi hàng trăm tuổi, với mái tóc bạc và vô số những vết nhăn quanh hai mắt. Da tôi cứ như bao năm đã đem phơi nắng, gió, mưa. Tôi ngắm cảnh ấy hết sức bình thản như một bà già hàng ngàn tuổi. Rồi tôi ném tấm gương ra xa. Những chiếc giày đinh… những chiếc giày đinh…
– Cả Rassoul nữa, chưa ai tìm ra nó, một tiếng nói bảo.
Rassoul… Rassoul… Nhớ đến nó là tôi nức lòng. Chuyện gì đã xảy đến cho dì tôi? Bà đã gọi tên Rassoul rồi từ trần, tôi chắc thế. Rassoul ở đâu? Liên hệ ràng buộc tôi với nó đã đổi thay rồi: dì tôi đã thành chính tôi, và tôi là dì tôi. Nhớ đến Rassoul khiến tôi hoá điên, nhớ đến con tôi… Khuôn mặt rạng rỡ của nó tràn đấy nhân từ. Dì tôi biết có nó mà thôi. Bà xem chỉ tay nó, lẩm bẩm câu thần chú nào đó, hà hơi phúc lành cho nó. Tôi, tôi sẽ đi tìm Rassoul, và tôi sẽ tìm ra nó. Thế là tôi đứng dậy.
– Giữ cô ấy lại! Trói cô ấy lại! Cô ấy giãy giụa kìa.
Tôi đi tìm Thượng Đế. Và tôi sẽ tìm ra Thượng Đế. Buông tôi ra!
– Cô ấy khó thở, một tiếng nói nghiêm trọng bảo
Tôi không thở được. Mùi thuốc súng làm tôi ngạt, mùi máu nữa. Làng đã mất hương thơm lá cây và những chùm nho còn xanh. Vườn nho khóc than. Tôi nghe thấy tiếng khóc không những của cả đồng nho này mà còn của mỗi cây. Những chiếc giày đinh đã xéo nát các chùm nho. Những cây nho còn non và xanh không mang những chùm trái nữa; tôi nghe thấy và tôi hiểu tiếng chúng rền rĩ. Mùi thuốc súng. Thuốc súng. Cái mùi làm tôi ngạt thở ấy chỉ đưa lại chết chóc. Tôi không thở được.
– May là đã đưa được nó ra thành phố! tiếng nói nức nở bảo.
Tôi trốn khỏi làng, tôi ra thành phố. Ngoại trừ hai chân tôi, chẳng còn gì đưa được tôi đi nữa. Nhưng đâu là đường đi? Nó đây, hai bên là những nhà cửa tan hoang. Những đôi dép nhỏ xíu lăn lóc trên mặt đường, và ta nghĩ đến bàn chân nhỏ bé ấy, những em bé ấy. Tôi thèm ôm lấy hết những đôi dép nhỏ ấy, hoá tôi thành con gà mái khổng lồ xoè cánh che chở những em bé ấy. Tôi ngồi xuống giữa những đôi dép nhỏ và bật khóc như một bà già hàng ngàn tuổi. Sau đó tôi đứng lên và đi nhặt các đôi dép cố nhét đầy vạt áo tôi; tôi cảm thấy những dép ấy vẫn nóng hổi…
***
Tôi đã tới trước cổng thành phố, cũng bị xô đổ như mọi cánh cổng khác, và tôi bước qua. Thành phố vắng tanh. Một mùi thuốc súng và máu phủ đấy thành phố, vẫn cái mùi tôi quá dư biết. Một vài nơi xuất hiện dăm ba đứa trẻ: tôi tiến lại toan hỏi dân chúng đâu cả. Nhưng tôi thảng thốt: lũ trẻ cũng mang giày đinh, những chiếc giày đinh khổng lồ vấy máu! Đai lưng chúng đeo dao găm. Mắt chúng là mắt phương bắc, màu lục, màu vàng, màu xanh. Những chiếc giày đinh! Những chiếc giày đinh! Tôi kinh sợ! Thượng Đế ơi! Sững sờ, tôi không sao bước đi được nữa. Ôm chặt mấy đôi dép nhỏ, tôi khóc như mưa. Nước mắt trào ra từ khắp các lỗ chân lông. Đứng cách xa, lũ trẻ chăm chăm ngó tôi một cách nhạo báng. Từ nay chúng chẳng động lòng với mùi máu, mùi thuốc súng.
– Có cứu được mắt nó không? tiếng nói nức nở hỏi. Mắt ai kia? Mắt tôi ư? Khi tôi nhìn những con mắt màu lục, màu vàng, màu xanh của lũ trẻ thành phố, những con mắt vô cảm, chúng hoá thành những hòn bi đá: những con mắt chẳng còn chút gì nhân tính. Lũ trẻ vẫn cay độc nhìn tôi; trong lúc mấy ngón tay nhỏ của chúng vuốt lưỡi dao găm. Tôi không sao rời mắt khỏi những chiếc giày đinh của chúng, những chiếc giày đinh vấy máu, những chiếc giày đinh chỉ đem đến chết chóc, đã cướp đi Rassoul, cướp đi tất cả những Rassoul trên thế gian này. Tôi nhắm mắt lại, kể cho lũ trẻ thành phố chuyện thôn làng, chuyện vườn nho xanh, những chùm trái mới chín, những con bò biết cười, buổi hoàng hôn trên làng, hương thơm hạt luá đầy đồng. Nhưng chúng không nghe chuyện của tôi. Bao nhiêu bức tường ngăn cách những đứa trẻ này vời những chuyện như thế. Chúng chăm chăm ngó tôi một cách nhạo báng, một tay nắm đai lưng, tay kia mó lưỡi dao găm. Không chừng chúng đã nghĩ đến trái tim chúng sẽ cắm ngập lưỡi dao vào… Trong lúc chúng hãnh diện giậm những chiếc giày đinh lớn, quá lớn, của chúng.
– Nó sợ, tiếng nói nức nở bảo; không biết nó sợ cái gì.
Tôi sợ. Phải, tôi sợ. Tôi sợ những đứa trẻ mang những chiếc giày đinh quá lớn, vấy đầy máu, cọ sát vào nhau khi chúng bước đi. Tôi sợ những đứa trẻ đã thành những khí cụ chiến tranh; vì tham vọng mê hoặc, tim chúng đã biến thành đá, và khói, máu và hận thù không để tim chúng mở ra. Tôi sợ những tim ấy vỡ tung và tôi sợ những giọt nước mắt dao găm.
– Chúng cũng đã đem về nhiều xác khác, tiếng nói nức nở bảo.
Những xác nào? Xác tôi ư?
Lũ trẻ thành phố, mang những chiếc giày đinh quá lớn và những lưỡi dao găm sắc nhọn, thình thịch giậm bườc đến những nơi quàn xác. Giữa tiếng cầu hồn, chúng nhảy một điệu muá kinh khiếp, bệnh hoạn. Những chiếc giày đinh… Những chiếc giày đinh… Những chiếc giày đinh sẽ huỷ diệt chúng ta.
– Nó sảng rồi, tiếng nói nức nở của dì tôi; nó sảng lâu rồi. Còn hi vọng không? Thượng Đế ơi! Còn hi vọng không? Thượng Đế ơi, xin ngài ban phép màu, con van ngài!