Home » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

Cô Đầu Lầu Gió Ngược – Chương 1. Hành trình rời cung khuyết

0 comment ♦ 8.01.2026

Trên chiếc chiếu cói trải giữa gian lầu hát nổi lơ lửng trên sông Vàm Cỏ, cô đầu ngồi lặng như tượng. Ngoài trời, trăng non vẽ một nét cong mảnh như nét mực lạc giữa trang giấy đêm. Một bên, cây đàn kìm khẽ ngẩng như đôi vai thiếu nữ mỏi mong một bàn tay dịu dàng đỡ lấy. Bên kia, chiếc dương cầm gỗ sẫm kê sát vách, lớp sơn đã phai bởi gió mang mùi nước sông cũ và bụi Sài Gòn âm thầm phủ lên như một lớp ký ức lâu ngày không gọi tên.

Người đời bước vào thời Tây thuộc, lòng người phân ly, âm nhạc triều đình dần nhường chỗ cho những khúc Tây Phương, nhưng cô – như một đốm tàn tro cũ – vẫn gảy đàn và hát những bản xưa bằng hơi thở của người mất quê xa xứ. Với cây đàn bầu và giọng hát mỏng như sương, cô hóa thành cây cầu nối hai bờ lịch sử: một bên là triều đại đã tàn, một bên là Miền Nam đang Tây hóa dần, cuốn theo những đổi thay khôn cưỡng.

Phi Vân – cái tên mà khách quen trìu mến gọi cô – đôi khi lại được rù rì là Tôn Nữ Thanh Cầm. Nhưng ở nơi này, chẳng mấy ai để ý tên thật của cô là gì, quê quán ở đâu, đã trải qua bao nhiêu vầng trăng khuyết tròn… Người biết thì không nói, kẻ tò mò cũng chỉ nghe đồn đoán. Như một ảo ảnh trôi dọc dòng sông ký ức, cô là hiện thân của một thời đã qua – thời mà tiếng đàn thay lời nói, rượu là nước mắt vắt cạn từ trái tim, và tình yêu chỉ là món quà xa xỉ dành cho những ai chưa từng lấm bụi đường đời.

Có người kể cô đến từ Huế, đi theo đoàn nhạc quan triều đình xuôi nam sau biến cố kinh thành thất thủ. Ấy là vào năm Ất Dậu 1885.

Cha cô là một nhạc quan cung đình, người suốt đời chỉ quen ngồi bên chiếu nhạc dưới bóng rồng vàng, gảy đàn nguyệt trong các lễ đại triều. Trầm lặng, nghiêm cẩn, ông sống giữa âm luật và khuôn phép, như một bản nhạc cổ chưa từng sai một phách. Mẹ cô, người đàn bà Huế mang vẻ đẹp kín đáo và nụ cười không bao giờ nở trọn, xuất thân là con gái một gia đình làm nghề dệt gấm ở Kim Long. Gặp nhau qua một buổi diễn trong cung, họ lấy nhau không vì mai mối mà vì cùng nghe thấy trong tim nhau một nhịp chậm của lặng thinh.

Cô – đứa con duy nhất – chào đời trong một đêm trăng đầu tháng Bảy, khi tiếng chuông chùa Thiên Mụ vừa dứt. Họ đặt tên cho cô là Tôn Nữ Thanh Cầm, với mong ước cuộc đời con sẽ trong như tiếng đàn, thanh như giọt sương và cầm như giai điệu giữ cho gia tộc còn chút vang vọng trong đời. Từ nhỏ, cô vẫn hay nằm nghe tiếng đàn của cha hoặc thêu khăn bên mẹ dưới ánh nến vàng giữa gian nhà gỗ lợp ngói âm dương khuất nơi góc vườn ngát mùi ngọc lan.

Thế rồi biến cố ập đến. Kinh thành thất thủ. Quân Pháp tràn vào, điện Thái Hòa nhuốm khói, vua Hàm Nghi phải bôn tẩu giữa đêm khuya, mang theo chiếu Cần Vương và nỗi niềm hy vọng đang tàn lụi. Cả triều đình tan tác. Có người bị bắt, có người trốn vào núi, có người bỏ lại áo mũ, lặng lẽ làm dân thường.

Cha cô – vốn là nhạc quan gảy đàn nguyệt trong các lễ đại triều – không đợi bị triệu, cũng không kịp từ quan, ông chỉ gói ghém đàn, dắt vợ con vượt đèo Hải Vân, xuôi vào phương nam mà mắt không dám ngoái lại. Họ nhập vào đoàn người gồm dăm ba gia đình khác: quan chức nhỏ, nhạc công, nghệ sĩ cung đình…, những kẻ mang trong tay không phải gươm giáo, mà là thư tịch, nhạc cụ và những câu hò chưa kịp chép lại.

Gia đình cô đến Gia Định vào những ngày đất còn hoang sơ đầm lầy, người còn nghi kỵ lẫn nhau vì xa lạ. Họ thuê một căn nhà bên bờ rạch Thị Nghè, sống ẩn dật, khắc khoải với tài sản: một vết thương vô hình.

Ban đầu, người dân bản xứ dè chừng: giọng nói khác, cách ăn mặc lạ, thấp thoáng dáng dấp kinh kỳ. Họ thì thầm gọi là “Dân Bôn”, “dân Bắc Kỳ lạc lối”. Những đứa trẻ trong xóm ném sỏi lên mái lá khi đi ngang, còn người lớn thì chỉ gầm đầu lặng lẽ qua. Có người đồn: “Nhà đó thắp nhang cả đêm, chắc thờ vong triều đình”. Người khác bảo: “Ông đó mặc áo dài cũ, không nói chuyện với ai, chắc là người có tội”.

Nhưng rồi, mọi thứ bắt đầu đổi khác. Một buổi chiều nọ, đứa bé con ông chủ vựa gạo bị sốt mê man. Bà mẹ chạy qua từng nhà tìm giúp đỡ, nhưng chỉ có cha cô ra mở cửa. Ông không nói gì, chỉ đốt một nắm ngải, nấu chén nước thuốc, rồi bế đứa nhỏ lên hát khẽ một điệu ru xưa. Đứa bé nín khóc. Bà mẹ cúi đầu lạy ông, nước mắt trào ra lòng biết ơn. Từ đó, người trong xóm bắt đầu gọi ông là “Thầy”, không phải vì ông bắt mạch hay giỏi thuốc, mà vì ông biết cách làm lắng lòng người bằng tiếng đàn.

Vài tháng sau, trước hiên nhà ông đã có một chiếc chiếu trải sẵn, bốn năm đứa nhỏ cởi trần ngồi học ê-a từng chữ Nho đơn giản: “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”. Trẻ con trong xóm học nhận dạng chữ với câu đối trên giấy đỏ, học gảy đàn qua những bài bản xưa. Đứa nào học giỏi được thưởng một cái kẹo vừng, hay một câu chuyện kể về cung đình ngày trước. Mấy ông lão trong làng bắt đầu ghé qua mỗi chiều, giả bộ hỏi chuyện con cháu, nhưng thật ra là để nghe tiếng đàn trầm lặng vọng ra từ mái hiên.

Người ta kháo nhau:”Ông Huế đó… chắc từng là người lớn trong triều. Giờ tha hương, mà vẫn giữ nếp.” Có người lại nói:”Ông ấy buồn lắm. Cái đàn của ông nghe như tiếng người nhớ cố quốc!” Dần dà, người trong xóm không còn gọi họ là “Dân Bôn” nữa, người ta gọi họ là “nhà Thầy”, và khi mẹ cô ra chợ mua cá, người bán bớt giá không cần nói lời nào.

Người Miền Nam là vậy đó: mộc mạc, thẳng lòng, giận không để bụng, tuy sợ cái lạ nhưng cũng dễ thương người. Họ không thích những lời hoa mỹ, cũng chẳng quen lách luật, nhưng chỉ cần thấy ai sống thật, tử tế, là mở cửa. Họ không hỏi cha cô từng là ai, cũng không để ý vết thương lòng ông mang theo. Họ chỉ lặng nghe, rồi gật gù: “Tiếng đàn như vầy… là của người từng sống bên vua chúa.” Và thế là đủ.

Ngược với cách sống khép kín lúc ban đầu, gia đình cô dần thay đổi – chậm rãi nhưng kiên định. Mẹ cô bỏ khăn vấn, mặc áo bà ba nâu sòng thay cho áo tứ thân. Chỉ riêng Cha vẫn áo dài khăn đóng dù vai bạc khuỷu sờn. Gia đình cô bắt đầu ăn cơm chan nước cá kho thay cho mắm ruốc chưng gừng. Lối nói “rứa”, “mô”dần lẫn với “dzậy hả”, “bả hông có nhà”. Những câu chào “dạ thưa”được thay bằng cái gật đầu ngắn gọn thân tình, như một thứ ngôn ngữ không học mà vẫn thấm dần vào máu.

Không ai bảo họ đổi thay. Nhưng đất Nam ôm người như nước – chỉ cần mình chịu trôi. Và khi người hàng xóm cũ lần đầu gọi cha cô là “anh Tía Nhỏ”, mẹ cô là “chị Bảy bên rạch”, cả nhà chỉ mỉm miệng cười. Họ bắt đầu được nhận vào lòng đất mới.

Phi Vân lớn lên trong âm thanh ấy – tiếng đàn nguyệt lặng thầm trong mưa, tiếng mẹ giặt áo sớm mai và tiếng thở dài không thành lời của cha. Từ năm lên bảy, cô đã biết rón rén ngồi sau lưng ông, đưa tay chạm nhẹ vào dây đàn như thể sợ làm đau một điều linh thiêng. Ông dạy cô từng phách, từng cung, nhưng không ép buộc. Với ông, âm nhạc là máu, không phải kỹ xảo. Và cô, như một mạch máu nhỏ nối từ tim cha, tiếp nhận lấy thứ nhịp điệu lặng thầm ấy, không cần lời.

Có buổi trưa, trời oi, cả nhà ngủ say, cô trốn ra sau vườn, mang theo chiếc đàn kìm nhỏ ông tự tay khắc tên cho khi cô lên mười. Dưới một cây mận bóng lớn, cô gảy đi gảy lại một đoạn Lý Mười Thương, chỉ để nghe tiếng ngân của mình tự vọng trong lòng đất mới. Cha cô, đứng lắng nghe từ xa, không nói gì, chỉ khẽ cúi đầu, như nhận ra rằng: đứa con gái ấy sẽ không bao giờ chỉ là một cô gái bình thường. Nó đã chọn sống cùng tiếng đàn.

Giọng hát của cô không học trong trường, mà học từ mẹ – một người đàn bà Huế nói năng nhỏ nhẹ và chưa hề buông thả cười lớn tiếng. Mẹ không nổi tiếng, không bước lên sân khấu nào ngoài hiên nhà, nhưng tiếng hát của bà như sương sớm, nhẹ, trong, và cứ thấm dần vào vách gỗ, vào tấm chiếu trải giữa nhà, vào cả trí nhớ của đứa con gái nhỏ vẫn ngồi im nghe dưới bóng đèn dầu leo lét.

Mỗi buổi chiều, sau khi giặt xong mớ áo lụa còn hắt mùi phèn chua, mẹ ngồi tựa cửa, phe phẩy chiếc quạt nan mà cất tiếng hát một khúc Nam Ai trầm buồn. Giọng bà không cao nhưng mềm mỏng, uyển chuyển như khói. Cô nằm trong lòng mẹ, nghe từng hơi thở đẩy câu hát đi chậm chắc qua ngực, lên cổ, như sóng nhỏ vỗ bờ lặng.

Có khi bà quay sang, nhẹ nhàng đặt tay lên vai con, ôn tồn bảo:

– Hát không phải để khoe giọng, con à. Hát là để gửi đi cái điều không thể nói.

Rồi bà dạy cô từng nhịp, từng luyến, bằng cách hát trước, rồi để con tập lại, không sửa không ép, chỉ cần đúng hơi đúng hồn. Lúc ấy cô không hiểu hết ý mẹ nhưng vẫn tập hát theo, bằng cái bản năng của một đứa trẻ được ủ trong tiếng ru buồn từ thuở lọt lòng.

Dần dần, giọng hát của cô không chỉ là âm thanh, mà là một thứ khí huyết thấm từ mẹ sang. Mỗi lần cất giọng, cô như hát thay cho bà những điều không bao giờ nói ra, về Huế, về thời con gái, và cả những yêu thương không trọn của một người đàn bà đã sống âm thầm, lặng lẽ giữa nhân gian.

Trúc Tiên

 

Articles by Trúc Tiên

Comments


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

@2006-2025 damau.org ♦ Da Màu Magazine
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)