Home » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

Khi Ta Thanh Xuân

0 comment ♦ 19.08.2025

1.

… Con tàu…. bay trên nước xanh pha sắc vàng, chòi đạp lên sóng. Tiếng máy tàu giòn đó, chợt khựng lại, nhỏ đi… “Tới rồi.” Ý nghĩ như sét đánh nẩy ra cùng lúc loa trên tàu phát ra những lời tạm biệt của thuyền trưởng. Trong lòng tàu, những gương mặt người trước đó mơ ngủ, lờ đờ; những câu chuyện nói vừa đủ nghe (sợ làm phiền người khác), thoát rùng chuyển động, trở nên sinh khí khi mọi người chuẩn bị rời tàu…

… Bên phải thân tàu, những chiếc tàu cá thả neo nhấp nhô, giăng mắc; kế tiếp là dãy bê tông trắng đục của cảng biển trồi lên trên mặt nước xanh, lố nhố người đi lại, đứng ngồi…, tất cả đều hướng mắt về con tàu sắt, đang cập cảng. Sau tất cả, là màu xanh pha sắc vàng của cây cối vào thu, những ngôi nhà trắng, nâu… lúp xúp chạy dần lên đỉnh một ngọn đồi thấp nằm bên ngoài tường rào cảng. Huyện đảo Phú Sơn đón tôi như thế, lạ lẫm mà thân quen. “Nguyện còn ở nơi cũ?” Tôi nghĩ thầm, xao xuyến và bồi hồi. Một nỗi bồi hồi ngân rung có chút hồi hộp, lo lắng, lẫn ngại ngùng bởi sợ nỗi trách cứ từ Nguyện. Tôi nghĩ, những ngày tới đây, chuyện lưu lại đảo dài ngắn tuỳ thuộc việc tìm ra Nguyện hay không?

“Chà, lâu nghe!’- một giọng khàn, nhưng vang giữa bao thanh âm ồn ào. Tôi quay ngang, nhận ra gương mặt tròn, râu quai nón xanh rì của Thạnh khi đặt chân lên cảng. Thạnh giơ tay cao làm hiệu, tiến đến gần. “Đón ai, hay quay vào?” Tôi nhìn sửng Thạnh, hỏi. “Đón ông, chứ đón ai. Hôm nay mỗi chuyến ra. Ông không đi chuyến này thì chuyến nào!?” Tay Thạnh choàng vai tôi, giải thích. Chúng tôi quen biết nhau đã 5 năm. Thạnh từ nước ngoài về, định mở nhà hàng, khách sạn tại đảo, đã vấp bao rào cản, thủ tục. Tôi nhờ người quen giúp Thạnh rồi trở thành bạn nhau. Đêm trước ngày ra đảo, tôi gọi Thạnh, nhưng không nói giờ xuống tàu. “Thay đổi nhiều quá. Bây giờ đưa được cả ô tô ra đảo,” tôi nói khi ngồi trên chiếc xe du lịch sang trọng đậu bên ngoài, về nơi ở là khách sạn Thạnh xây sau ngày trở lại đảo. “Lên mặt trăng, người ta còn làm được, nếu có nhiều tiền. Ô tô ra đảo là chuyện ‘nhỏ như con thỏ’ khi người ta tính chuyện đón đầu Phú Sơn trở thành trung tâm du lịch quốc gia.” Năm năm trước, Thạnh cân nhắc trong lời nói, bây giờ cũng con người ấy nhưng cách nói là của con người tự tin vào tài lực mình. Thạnh dừng xe trước sảnh khách sạn bốn tầng hướng ra biển, liền dãy với những homestay. Tất cả đều mới, như thế đồng xây dựng gần đây. “Tôi bố trí ông cái phòng view biển, tha hồ rửa mắt khi các em tây mặc bikini, ngồi thuyền dạo quanh đảo về chiều.” Thạnh nháy mắt. Lúc này có người đặt phòng. Cô trực khách sạn nói giá khá cao, chứng tỏ sức hút lớn của hòn đảo. Thạnh cho hay: buổi chiều có tiệc BBQ và Dancing do nhóm nhạc Philippines biểu diễn, tôi nên dự. Tôi nói từ chiều đến tối có chút việc, ắt không dự được nhưng không nói rõ việc gì.

2.

Trưởng phòng Thủy Sản khá đứng tuổi. Tuổi thanh niên ông gởi lại chiến trường. Hòa bình, người ta giao ông một công việc mà ông không được học hành. Ông chỉ còn dựa vào cánh trẻ – những đứa gọi ông là chú, là bố. “Tụi con gái không quen sóng gió. Chú cần mày đi đảo lần này,” trưởng phòng nói khi tôi vừa chường mặt tới. Công việc của tôi là nghiên cứu, khảo sát nơi nào trên đảo nuôi được thủy sản?. Cả nước sốt chuyện nuôi thủy sản vì nhu cầu xuất đi nước ngoài. Trước đây, con mú, con hồng con tôm hùm…, đa phần tiêu thụ nội địa, nay người ta xuất khẩu. Muốn xuất khẩu nhiều, dollar xanh nhiều phải nghĩ tới việc nuôi chúng số lượng lớn. Trưởng phòng tin rằng tôi giúp ông có câu trả lời với cấp trên. Cãi lệnh là chuyện chẳng nên. Tôi đành bỏ thời gian, tìm hiểu nơi mình sắp tới. Đó là huyện đảo mà dân cư đa phần gốc gác vùng ngoài, rất giỏi biển. Trai, gái trên đảo thích nhau dẫn nhau về nhà, hàng xóm khắc biết vợ chồng. Cần chi cưới hỏi mấy bà, mấy ông? Không cưới, con sinh ra vẫn đi biển giỏi đó thôi! Dân đảo đêm ngủ không cần khóa cửa vì kẻ gian lấy cái gì đó cũng chẳng biết tiêu thụ ở đâu. Xe đạp- phương tiện đi lại để trên đường, cả năm không mất. Bởi vậy, một gã vừa rời quân ngũ như tôi, ra đảo chỉ cần chiếc xe đạp, một số đồ dùng cá nhân, phòng khi cơ nhỡ thôi.

Ngày đầu tiên, tôi đạp xe theo con đường cát ven biển đến cái xã xa nhất, làm công việc điều tra, nghiên cứu. Sau một giờ đạp xe, mồ hôi nhễ nhại, cổ họng khô rát thì thấy trên đường xuất hiện lối rẽ chạy thẳng ra bãi cát sát nước, nơi có mấy người ngồi, lưng quay về phía tôi. Trên lối rẽ có cái quán nhỏ. Trước cửa quán, một phụ nữ áo bà ba, quần đen, tóc buộc thun, ngồi xổm, tay cầm liềm cắt rau muống biển bò ngổn ngang trên đất, xem chừng lấy lối đi ra ngoài. “Quán bán gì vậy, em?” Tôi hỏi. Người phụ nữ dừng tay. Một cái nhìn thoáng nhanh, nhẹ nhàng: “Dạ, có nước ngọt đóng chai. Nước trắng cũng có.” Lúc này tôi quan sát kỹ hơn. Quán toàn thưng lá. Một chiếc kệ dài, trên sắp một số chai nước ngọt, một thùng mì tôm và vài thứ khác. Nó thật sự cần cho người cần cái gì bỏ vào bụng đói, thay vì chờ về nhà. Người phụ nữ nhẹ nhàng: “Anh muốn uống nước ngọt, em lấy? Nước trắng thì hơi khó uống vì chỉ mỗi cái giếng gần đây.” Từ quán nhìn xéo qua bên kia con đường cát, có cây cọc gỗ cắm xuống đất, trên đầu cọc, một chiếc gáo úp ngược. Tôi đoán giếng nước ở đó. Giếng gần biển, nước cứng là phải rồi. Ly nước trắng sau đó làm tôi thêm cảm tình với chủ quán, chừng ngoài ba mươi tuổi. Tôi nói lí do và phần việc phải làm những ngày tới. Gương mặt dài bầu, đôi mắt to sáng lộ vẻ ngạc nhiên: “Nuôi thuỷ sản là nuôi gì?” “Nuôi các loại cá biển được ưa chuộng hiện nay,” tôi đáp. Đến lượt tôi thắc mắc vì sao có mỗi quán trên đoạn bờ biển dài vắng nhà cửa. “Đây là bến cá thôn. Hai chị ngồi ngoài kia bên cạnh mấy chiếc thùng, anh thấy đó, họ đang chờ mua cá. Thuyền đánh bắt ưa ghé chỗ này. Em bán nước cũng như mua cá, bán lại.” Chúng tôi nói chuyện một đỗi nữa rồi rời đi. “Khát, anh quay lại. Nước lúc nào cũng sẵn,” chủ quán dặn theo.

Tôi theo bờ biển đi dần lên. Một đoạn bờ sau đó có những vỉa đá lõm sâu vào đất thịt, tạo thành những chiếc phễu tự nhiên, nước biển vô ra được. Tôi dành thời gian còn lại theo dõi sự chênh lệch giữa triều lên và triều xuống trong các phễu tự nhiên, cho tới khi nắng chiều vàng rực trên biển, báo một ngày sắp hết,… Trước mắt phải quay về quán, rồi theo đường ban sáng về trung tâm huyện đảo. Lúc này, tôi nhận ra việc đi lại con đường ven đảo lúc chiều tà quả không dễ dàng gì. Con đường đó lắm cát, dứa dại mọc tràn lối đi, chực cào xước da tay. Khi chưa quen đường, đi đêm, không khỏi nguy hiểm. Tôi trách mình không dừng việc sớm hơn. Nhưng liền đó, lại nhủ: “Hôm nay ráng một chút, mai mốt bớt cực nhọc. Còn bao nhiêu việc phải làm trong những ngày tới như tìm hiểu chỗ bờ lõm vô, chất đất thế nào? Nhiều bùn hay nhiều đá? Trong túi xách có mấy gói mì, gạo sấy, đèn pin, võng, tôi ngần ngừ một đỗi, quyết định ngủ lại quán. Tôi thiếp đi vì nỗi mệt mỏi, cho tới khi tiếng người lao xao, tiếng máy thuyền lịch bịch, đánh thức. Tôi đoán những người mua cá đang ở ngoài bãi. Họ đang chuyện trò. Không rõ bao nhiêu người mà xao xác thế? Thay vì ngồi lên, tôi nằm thêm một lúc cho tới khi võng bị xô, cùng tiếng phụ nữ hoảng hốt: “Gì vậy trời?” Không khó để nhận ra chủ quán. Tôi kể vắn tắt lý do mình ngủ lại quán. Chủ quán nói ra quán sớm để mua mực ống, người xã bên dặn hôm qua. Thêm mấy câu trò chuyện nữa, tôi trở lại chỗ nghiên cứu. Buổi trưa ngày thứ hai vì đã có lời mời, tôi ghé lại quán lúc Nguyện đang ngồi nhìn ra. Lại vẫn câu trao đổi. Giọng Nguyện tôi nghe ra không phải dân đảo. “Em theo chồng ra đây mấy năm trước,” Nguyện kể. Chồng Nguyện, dân đảo nòi. Khi vùng biển xảy ra một số biến cố, gia đình chồng buộc phải chuyển vùng sinh sống. Dân biển lên bờ thường làm không đủ sống. Một năm sau khi gặp nhau, vợ chồng bí mật về đảo. Làm dân đánh cá bất hợp pháp. “Mỗi chuyến, chồng em kiếm kha khá, nhờ vậy mua được vườn. Đi biển về, ảnh ở suốt trong vườn.” Chủ quán đột nhiên dàu nét mặt. “Anh còn nhớ trận bão lớn mấy năm trước? Đài khí tượng Duyên Hải ra rả cả ngày về phòng, chống bão; buộc thuyền quay về. Chồng em cố gắng chạy vô, nhưng đường xa quá. Biển giữ anh lại.” Chủ quán nhìn xuống đất. Khoảng lặng bão lòng người phụ nữ lan sang tôi. Tôi hình dung con thuyền sắp chìm. Những con người ngụp lặn trong sóng dữ, cố bám mảnh ván thuyền, một chiếc can đựng nước, may ra sống sót. Nhưng rồi đợt sóng xanh đen từ sau trùm lên, nhấn họ xuống sâu. Trong phút giây tuyệt vọng, người chồng còn kêu: “Nguyện ơi, con ơi…” “ Vì sao Nguyện không về lại đất liền?” “Em không về vì thương ảnh. Em buôn bán qua ngày ở đây kỳ thực muốn gần ảnh. Em tin ảnh vẫn theo em và con. Phần nữa, ảnh đi rồi khu vườn trở thành kỷ niệm. Rời xa một kỷ niệm yêu thương chẳng dễ dàng gì.” Mắt chủ quán rướm đỏ. Trước khi đi làm, tôi hỏi Nguyện về thằng bé. Nguyện nói thằng bé sáu tuổi. Đi học trường thôn gần nhà. Mỗi sáng, Nguyện dậy sớm lo cơm nước cho con, trước khi ra quán. Tôi cay mắt. Tôi hình dung mẹ tôi. Bốn mươi tuổi, mẹ gầy gò, mắt lúc nào cũng riu ríu như mây chiều kéo ngang. Thời gian đó, cha theo người đàn bà khác. Rồi mẹ gởi tôi cho dì, đi làm xa. Tôi đi học trên đường quê, hẹp lối, quanh co, thỉnh thoảng thấy bắp chân xuất hiện vết bầm đỏ, cuống lên khóc vì…. bị “chó ma cắn!?.” Hạnh sống của người theo đạo Phật là biết sẻ chia. Tôi nghĩ trước khi rời đảo sẽ tặng Nguyện chiếc đèn pin, cho thằng bé cây bút bi còn đầy mực…

Khoảng hơn năm giờ chiều của ngày thứ hai, tôi quay về quán. Vẫn ý định về trung tâm đảo. Trên chiếc bàn nhỏ gần cửa ra vào, có mấy trái chuối và mảnh giấy nhỏ. “Anh ăn cho khoẻ. Đừng ở lại quán ban đêm, gió to nguy hiểm. Một chị trong xóm cho biết, thằng bé bị sốt, em về sớm.” Tôi hình dung, thằng bé thay vì đón mẹ, nằm trong gian phòng sơ sài đồ vật, mắt nhắm nghiền. Cô ấy nói đúng. Bất đắc dĩ mới ngủ lại quán. Tôi thu dọn những thứ mang theo, dắt xe ra đường. Từ đây đạp về trung tâm đảo hơn một tiếng. Nhưng liền một ý nghĩ lại đến: có vô tình lắm không khi chưa biết thằng bé thế nào? Theo Nguyện, nó là đứa trẻ đáng yêu. Chỉ cần ghé qua nhà, hỏi thăm rồi về hẳn kịp. Không ai buộc tôi sáng mai quay lại đây sớm, nếu mệt. Nguyện cho biết nhà cách trường thôn không xa. Cứ theo đường đi, dò hỏi. Nhưng rồi, cho tới sẩm tối, tôi mới đứng trước vườn nhà Nguyện. Người dân ở đây không muốn người lạ biết chỗ ở hai mẹ con nên việc tìm kiếm kéo dài. Trăng giữa tháng treo lưng trời, nhưng khu vườn có lúc tối thẫm vì trời đầy mây và dày cây. Trong lúc tìm nhà Nguyện, tôi chú ý đến kiểu vườn trên đảo. Mỗi khu vườn là thế giới bí mật. Vườn trồng nhiều cây xen nhau, nhiều tầng lá, cung cấp các loại trái cho nhu cầu tự cung tự cấp. Kiểu vườn mà giữa vườn này với vườn kia là những hàng rào gai cao quá đầu người, dày sít làm ranh giới; chống được gió biển, cát xâm nhập và rất khó cho người lạ bước vào nếu chủ nhân không mở cánh cửa đóng bằng các thanh gỗ chắc chắn. Nhưng cửa vườn của Nguyện rõ là đơn sơ. Chỉ là cành cây khô buộc vào nhau. Chỉ cần đẩy nhẹ cánh cửa ấy đi vào, nhưng tôi ngại làm kinh động đến Nguyện. Mẹ con Nguyện có đầy nỗi lo ở ngoài đời và cả khi về đến nhà. Nguyện sẽ không tránh khỏi trạng thái cô độc khi một mình một bóng đi lại trong vườn, tôi nghĩ. Sự rậm rạp bóng lá, tầng cây và nỗi lẻ loi làm nên hiu hắt. Mỗi khu vườn cần đến hai người, một nam, một nữ để có tiếng cười. Chờ một lúc, tôi quyết định gọi lớn. Đến lần thứ ba, từ trong nhà, ánh đèn chậm chạp tiến ra. Khi cách tôi hai mươi mét, ánh đèn dừng lại. Đó là cây đèn bão, bốn mặt kính, che được gió. “Anh… nghiên cứu hả? Chưa về sao? Nguyện chưa biết tên tôi. “Tôi thăm cháu rồi về nhanh.” Một khoảng yên lặng trôi đi. Ánh đèn tiến đến gần hơn. Nguyện, áo bà ba đen, nói nhanh: “Anh vô rồi về liền nghe. Đi đêm nguy hiểm.” Thằng bé nằm trên chiếc giường gỗ, mắt nhắm nghiền, chiếc khăn lông xếp nhỏ đặt trên trán, từ đó bay ra mùi rượu. Nguyện giải thích: “Em dùng rượu giải nhiệt, xem chừng có giảm chút ít.” “Đêm dài không biết đâu lường, nếu tiếp tục sốt cao”- tôi lo lắng. Nguyện đưa tay sờ má con, thẫn thờ. Dưới ngọn đèn bão lúc này đặt trên nóc tủ gỗ, mặt Nguyện nhợt nhạt. Tôi chủ động: “Từ đây đến bệnh viện bao xa?.” “ Mươi cây số đường vòng. Gần nhất là ông bác sĩ làm ở bệnh viện, nhưng cũng cách đây bảy cây số.” “Hãy đưa cháu đến đó. Xong việc tôi về, không sao” tôi nói như ra lệnh. Nguyện thảng thốt: “Đi như vậy sao đặng?” Tôi gật đầu. Chỉ cách đó mới đáp lại tấm lòng của Nguyện đối với tôi hai ngày qua. “Đừng chậm trễ nữa,” tôi giục. Tôi chở hai mẹ con trên chiếc xe đạp. Đường nhấp nhô. Mồ hôi ra ướt đầm lưng áo, tay tôi tê điếng khi xe sa xuống hố. Một giờ trôi qua, khi tôi mệt lử là lúc Nguyện khẽ khàng: “Căn nhà bên trái nghe, anh.”

3.

Sau khi từ chối tham dự buổi biểu diễn của ban nhạc Phillipines, tôi tạt ngang qua chỗ tiếp tân mượn chiếc xe đạp. Lần này, cũng như trước đây, tôi đạp xe trên con đường ven đảo dẫn đến nơi nghiên cứu. Đường, nay mở rộng, nhựa phẳng lì. Rất nhiều căn nhà hộp, mái hiên rộng chìa ra đường. Đi xa trung tâm chừng cây số là những căn nhà bên ngoài mắc các dây đèn xanh, đỏ. Ban ngày điện tắt, nhưng vẫn có các cô gái áo hai dây, má đỏ, môi son bóng, váy ngắn cũn cỡn, ngồi trên những chiếc ghế nhựa đủ màu sắc, nhìn ra. Thấy tôi, một cô nói lớn: “Tẩy trần, anh ơi! … Massage body.” Một cô khác hét lên: “Em nè anh ơi… chỉ có em mới đưa anh lên thiên đường thôi… híc híc.” Mọi thứ thay đổi ở hòn đảo này. Không trách được khi đảo chọn lựa phát triển kinh tế qua con đường du lịch. Con đường có hoa hồng và ít nhiều rác rưởi không tránh khỏi. Quy luật xã hội là thế. Anh nghĩ một nhưng thế giới nghĩ mười rồi, phải chấp nhận thôi. Trên dòng sông đời, nước vẫn xanh đó và vẫn có rác đó. Con người phải chấp nhận sống với những điều không mong muốn trong một chừng mực nào đó. Nghĩ thế, tôi đạp nhanh để không còn bị chèo kéo. Tôi chỉ mong gặp Nguyện lúc này. Và rồi, tôi cũng đứng trước khu vườn từng lui tới. Một người đàn ông đứng tuổi nói ông ta mua lại khu vườn. Vườn qua mấy đời chủ và ông không biết người tôi hỏi là ai. Tôi quay về khách sạn, dự định hôm sau dành một ngày hỏi thăm về Nguyện, may ra ai đó biết. Ban nhạc Phillipines đang chơi những bản nhạc thời danh của thế giới. Khách da trắng, mắt xanh, tóc vàng sợi nhỏ và khách Việt, nhún nhẩy theo nhạc rạo rực. Lấy chìa khóa lên phòng, chạy trốn những âm thanh, hình ảnh đó thì gặp Thạnh ở tầng một, trong chiếc ghế bành rộng, tay chống cằm, đăm chiêu. Tiếng giày của tôi làm Thạnh ra khỏi những suy nghĩ. Anh ngạc nhiên về tôi cũng nên? Không khí rộn ràng đêm nhạc cùng những cô váy ngắn chân trần, áo mỏng, nịt ngực chỉ nửa bàn tay, phô bày tuyết lê căng tròn, quyến rũ, lẽ nào không làm tôi để mắt? Đàn bà nhan sắc hấp dẫn, thân hình khêu gợi, trẻ trung, hừng hực sức sống, luôn hút đàn ông dù ngày mai thằng đàn ông ấy xuống lỗ! Soi trong lịch sử, mấy vua sống qua tuổi sáu mươi khi đêm đêm mỹ nữ lúc nào cũng sẵn. Thạnh điềm nhiên: “Ra đảo lần này, anh thấy mọi cái đổi thay phải không?. Đảo không còn là một nơi quê kiểng như trước. Nó có mọi cái của một huyện đảo du lịch theo nghĩa rộng. Ở đây, người ta chơi khuya lắm. Một hai giờ sáng vẫn còn người đi lại, hàng quán vẫn mở. Tây ra đảo rất đông, nhất là các em.” Đột nhiên, ánh mắt Thạnh toát lên tia ranh mãnh : “Ông mệt muốn ngủ sớm thì cứ ngủ. Nhưng mà này, ông thích một em Tây bốc lửa, tâm sự tối nay không? Nếu hợp “tình cho không biếu không.” Tôi lắc đầu. Tự dưng tôi muốn kể với Thạnh về Nguyện. Lý do tôi tìm Nguyện. Nhưng sẽ không kể những gì xảy ra trong đêm tôi chở hai mẹ con. Tôi muốn giữ những điều riêng tư.

… Tôi xộc thẳng xe vào nhà khi người đàn ông có cái nhìn thân thiện, chuẩn bị đóng cửa. Nguyện nói với tôi đó là bác sĩ, rồi dìu thằng bé vào trong. Nghe kể sơ qua, ông bác sĩ thân tình: “May cho hai anh chị, đêm nay tôi lại không trực. Mà cũng có chút chuyện nhà nên đóng cửa muộn hơn. Ở đảo này, mấy ai đưa con khám đêm.” Nguyện đưa mắt nhìn tôi thay giải thích. Bác sĩ lấy ống nghe đặt vào ngực, soi đèn pin vào miệng thằng bé một lúc, chắc nịch: “Viêm A-mi- đan cấp đây mà. Nó làm sốt và ho. Hai anh chị cho con uống đủ liều thuốc tối nay nghe.” Dưới ánh đèn, mặt Nguyện đỏ hồng. Nguyện dạ lí nhí. Mọi việc xuôi chèo sau đó. Ra khỏi nhà ông bác sĩ gần mười giờ đêm. Trăng vẫn bị mây bắt chẹt. Chúng tôi về tới nhà Nguyện hơn mười giờ. Thằng bé thôi sốt. “Khuya lắm rồi. Anh ở lại đi.” Nguyện nói, nhìn tôi đăm đắm. Cái nhìn nồng nàn lửa, quả quyết. Tôi cảm thấy được khích lệ ở lại vì về trung tâm đảo giữa khuya quả ngại. Một chiếc phản kê sát cánh cửa sổ mở ra vườn, cách xa chỗ thằng bé nằm, dành cho tôi. Nguyện mang tới chiếc mền hoa, dặn: “Đêm lạnh. Anh đừng mở cửa sổ.” Trước khi quay đi, Nguyện thắp mấy que hương trên bàn thờ chồng. Mỗi lần cúi người trước bàn thờ, vai Nguyện hằn lên tròn phẳng, một phần chiếc cổ tròn trắng lộ ra sau làn tóc đen nhưng nhức, khỏe khoắn của người đàn bà chưa qua hết xuân thì. Tôi quay mặt về phía cửa sổ, nghĩ ngợi một lúc rồi thiếp đi. Nửa khuya, ánh trăng len qua khe cửa gỗ, rải những dải sáng lên đỉnh màn, một phần góc phản. Khuya lắm rồi cũng nên. Một làn hơi lạnh buộc tôi trở người, kéo chiếc mền lên đắp và bất ngờ chạm phải làn da ấm áp của Nguyện nằm bên tôi lúc nào. Nguyện đã thay vì bộ áo đen lúc sẩm tối bằng bộ đồ trắng. Dưới ánh trăng khuya lọt qua cửa sổ, mọi đường nét thân thể Nguyện hiện lên sau làn vải trắng mỏng. Thung lũng, đồi núi, gương mặt phúc hậu… mùi hương tóc… bỗng chốc tràn ngập chiếm ngự tôi. Tôi… giữ im lặng. Nguyện biết tôi thức và cũng im lặng. Lúc sau tôi nghiêng người, mặt quay về phía Nguyện một cách rón rén, khó nhọc. Tôi sợ Nguyện phật ý. Cùng lúc ấy, tiếng nói âm thầm cất lên: “Không được. Trái tim mi chưa dành cho người ta. Cánh hoa một lần phong ba vùi dập rồi. Đừng gây thêm nỗi buồn, nỗi đau.” Tôi thở dài nặng nhọc. Tôi dịch vào trong. Lần này, Nguyện thở dài, rồi thút thít. Một chút bạo dạn, tôi chạm tay vào má Nguyện. Má ướt và ấm. Tôi lần lên môi, cổ Nguyện. Nguyện áp mặt vào ngực tôi, thổn thức: “Đừng khinh em….” Đến khi ấy, tôi chồm lên ôm ghì lấy Nguyện, trong tiếng kêu nho nhỏ của em. Đêm ấy, thiên đường mở cửa với tôi. Nguyện lúc mềm yếu, lúc như gió giật, cuồng si. Chúng tôi quên gió lùa, quên lo âu, ngại ngần,… tan biến vào nhau. Mỗi lần tan biến, mồ hôi rịn đầy vai ngực, thở hổn hển và Nguyện cắn vai tôi thay vì bật tiếng kêu… Tôi trở nên quen thuộc căn nhà và khu vườn. Những đêm sau, chờ thằng bé ngủ, chúng tôi ra vườn. Vườn đêm hoang hoải mùi hương các loại. Cuối vườn, hương ngọc lan nồng nàn, mê đắm. Nguyện trải chiếu trên khoảnh đất trống bằng phẳng và chúng tôi tắm mình trong trăng, trong hương. Không khí lạnh lành bọc lấy hai chúng tôi. Sau những giây phút lắng nghe cảm xúc của nhau, tôi nói với Nguyện tôi lo những ngày tới phải về lại đất liền. Nguyện thở dài, rồi đôi mắt to đen ấy nhìn chằm chằm tôi một lúc. Nguyện bảo tôi nhắm mắt lại, rồi khi tôi mở mắt ra, Nguyện đã một tòa thiên nhiên nằm bên. Trăng xanh biếc trên đôi gò bồng đảo, trăng nhỏ từng giọt óng ánh vào vùng cửa thiêng sâu thẳm và huyền bí. Đôi bờ lau sậy dậy lên từ ánh trăng giải. Nguyện ơi, sao vậy? “Đừng nói. Em muốn chúng mình có kỷ niệm đẹp. Đời người sướng khổ biết đâu lần. Đêm nay em thuộc về anh hoàn toàn,” Nguyên thầm thì. Và tôi cứ thế say trăng, mê mải Khu vườn trở thành nơi chúng tôi ghi dấu kỷ niệm. Tất cả trôi đi một cách êm ái cho tới ngày kết thúc nghiên cứu. Buổi sáng ở cái quán lần đầu biết nhau, Nguyện cầm chiếc khăn mùi xoa đưa lên mắt, giọng ngạt đi: “Nếu tới đây, mình có con, em không làm khó anh đâu. Anh gắng công tác tốt.” Tôi nói sẽ sớm trở lại. Tôi chưa có gia đình. Không ai cấm tôi đến với Nguyện, trái táo đầy hương ở một góc huyện đảo.

4.

Thạnh hỏi: “Ông có lần nào gặp lại?” Tôi thuật lại với Thạnh: Về tới cơ quan ít lâu, đang tìm cái cớ để quay lại đảo, tôi nhận quyết định đi học chính trị. Học ở Sài Gòn thôi. Tôi nhận quyết định đi học vì như Trưởng phòng nói nó liên quan tới tương lai tôi, song chưa thôi ý định quay trở lại đảo. Tôi nhờ người quen chuyển cho Nguyện bài thơ:

Yêu em bao nhiêu cho vừa,
Khi đời ta đang thanh xuân
Dù trời mưa phùn lầy lội,
Dù đêm gió bấc ngại ngùng.
Tặng em chùm hoa hồng dại.
Thơm sâu trong những ngày mưa.
Tặng em một chiều dâng nắng.
Hàng cây ôm kín bóng người…” ( 1)

Mọi chuyện trở nên khó khăn hơn khi kết thúc khóa học. Tôi là một trong số ít người được giữ lại trường, theo tiếp một chương trình nâng cao diện học rút ngắn. Thay vì nghỉ hè, học luôn học kỳ hè. Thời gian này, tôi không nhận được thư Nguyện. Tôi muốn về đảo một lần nhưng ông trưởng phòng khuyên: “Cậu trong diện quy hoạch. Học tốt đi.” Thời gian sau đó, tôi vẫn nghĩ về Nguyện, tìm cách hỏi thăm tin tức. Năm trước, gặp lại người nhờ chuyển thư tại Sài Gòn, anh nầy nói: “Một dạo, người ta tìm bắt dân lậu, dân đi kinh tế mới lộn về đảo nên khó mà gặp chị ấy. Vài lần tui ra quán nước, cũng không thấy ai.” Kể xong những điều đó, tôi nói với Thạnh: “Trước khi chia tay về lại đất liền, tôi có hứa với Nguyện: thu xếp đưa thằng bé vào học ở chỗ tôi. Khi không biết tin nhau, Nguyện dễ hiểu lầm tôi. Tôi nuôi ý định tìm Nguyện vì thế và thật lòng tôi nhớ khu vườn và hai mẹ con.” Thạnh cười, rồi nghiêm giọng: “Làm du lịch ở đây mấy năm, tôi biết cô ấy. Một thời gian sau khi ông kết thúc đợt nghiên cứu, Phú Sơn quản lý con người rất chặt, trước khi phát triển du lịch. Từ ngày mở cửa, mọi chuyện dễ dàng hơn. Người đất liền ra đảo làm ăn ngày một nhiều. Một ông đất liền ra thuê phần vườn Nguyện mở quán bán bia ôm. Chủ quán ngỏ lời Nguyện làm quản lý, nhưng cô ấy từ chối. Cô ấy sống bằng tiền thuê đất. Nhiều đêm, cô treo ngọn đèn bão trên lối vào vườn, cũng như trải chiếu ngồi dưới trăng một mình đến khuya. Lão chủ quán bia gạ gẫm đủ điều. Lão bảo cô để thằng bé qua trung tâm đảo, học. Đó là cách giữ gìn con. Nguyện đồng tình. Ít lâu sau, chủ quán sang bên trung tâm trả tiền ăn ở cho thằng bé. Thời gian sau nữa, Nguyện thuận tình làm quản lý quán. Cô ấy cắt tóc ngắn, váy hoa, hương nước hoa đắt tiền thoang thoảng. Năm kia, quán vườn Nguyện xảy ra trận đánh ghen lớn, chủ quán vì chuyện gì đó bị giải xuống tàu về đất liền. Nguyện và thằng bé cũng rời đảo.” Thạnh chấm dứt câu chuyện. Tất cả vượt quá hình dung của tôi.

Ngày mai tôi về và khó đi lại Phú Sơn. Nguyện đang ở chân trời nào? Tôi không trách mà thương!…

 

Hà Thanh Tú

(1) Thơ Đỗ Quang Nghĩa trong tập “Như Những Mùa Thu,” Nhà xuất bản Hội Nhà Văn.

Comments


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

@2006-2025 damau.org ♦ Da Màu Magazine
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)