V-2 Về hình thức trình bày, cụ thể là lời văn giải nghĩa
Đọc cuốn sách đang có trên tay, ta thấm thía công phu của hai tác giả bỏ vào ròng rã 12 năm. Nhiều mục từ tìm được để bổ sung đã rất quý mà ngôn từ diễn đạt gọn ghẽ, bình dị, lắm khi còn thêm chút dí dỏm. Người soạn không cốt làm văn nhưng câu văn tự đến theo yêu cầu của ngữ nghĩa. Mục từ ăn lỡ, các ông giảng: “ăn giặm thêm giữa các bữa ăn chính (nghỉ tay để ăn lỡ các bác thợ ơi)” (tr.9, cột 1). Mục từ bôi mép, giảng: “nói đùa là được ăn ít quá, không bõ dính mép” (tr.57, cột 1). Mục bắt rễ xâu chuỗi, giảng: “len lỏi vào thành phần bần cố nông (bắt rễ) để tìm thêm nhiều phần tử tích cực khác (xâu chuỗi) phục vụ cho phong trào [CCRĐ]” (tr.33, cột 2). Mục sẩy trôn, giảng: “vô ý đánh rắm mà không nhịn lại kịp” (tr.853, cột 2); …
Tuy là vậy, cũng như phần nội dung trên kia đã nêu, những “tồn tại” ở phần này cũng không phải ít, lại là những thiếu sót trong một chừng mực nào có bắt ta liên tưởng đến quan điểm phương pháp luận của người biên soạn, do chúng tập trung ở các quy tắc bất thành văn mà nhà từ điển ít khi dám coi nhẹ. 64 ví dụ dẫn ra đây (vẫn giới hạn trong vần B, có phụ thêm một số ở vần A) nhóm lại trong 6 quy tắc cốt lõi, chưa được tuân thủ đồng bộ, gây ấn tượng cộm nhất:
V-2-1 Quy tắc trốn chủ ngữ
Hai tác giả rất nhớ và sử dụng hình thức trốn chủ ngữ ở hầu hết các mục từ, nhưng thỉnh thoảng vẫn có khi quên.
– Ví dụ 1, ấy chết: “tht (thán từ) 1. từ dùng để xin lỗi (Ấy chết xin ông thứ lỗi cho sự vô ý của tôi) 2. Trách móc (Ấy chết, việc gì mà ông phải to tiếng thế!)” (tr.14, cột 1). Bỏ chữ “từ”, nếu muốn rõ hơn thì thay bằng “tổ hợp”.
– Ví dụ 2, ấy thế mà: “tht; từ dùng để chỉ điều xảy ra ngược lại một cách ngạc nhiên (tưởng rằng tiệm ăn đó đã đóng cửa vì ế, ấy thế mà nó lại phất như diều gặp gió)” (tr.14, cột 2) Thay chữ “từ” và câu văn cũng nên đảo lại: “tổ hợp đặt ở mệnh đề sau của câu dùng để chỉ sự ngạc nhiên trước điều xảy ra ngược với dự đoán”.
– Ví dụ 3, bác: “dt; … 3. từ để nói về người nào đó đã lớn tuổi (bác tài xế); 4. từ để hai người bạn đã lớn tuổi gọi nhau dưới hình thức thay cho con mình (mời bác qua tôi đánh chén chiều nay nhé!)” (tr.17, cột 2). Nghĩa 3: bỏ “từ để nói về”: “cách gọi người nào đó đã tương đối lớn tuổi”. Nghĩa 4 viết gọn: “cách những người bạn lớn tuổi gọi nhau”.
– Ví dụ 4, bìm bịp: “dt; (động) loài chim giống như quạ, thường sống quanh các bụi cỏ, và phát ra tiếng kêu “bìm bịp”, danh pháp Centropus sinensis Stephen (loại lớn) và C. benghalensis Gmelin (loại nhỏ), cả hai loài đều có thân mình dài, đầu tròn múp, mỏ to nhọn, mắt tròn, đuôi dài hơn cánh, bộ lông bìm bịp có màu đen huyền, trừ hai cánh có màu nâu đỏ” (tr.47, cột 2). Bỏ “bìm bịp có” (trốn hẳn chữ “bìm bịp”).
V-2-2 Quy tắc lời văn không được sai ngữ pháp và rườm, thừa thiếu hoặc lặp chữ.
– Ví dụ 1, bốc bải: “đt; lấy bừa bằng tay cho xong việc mặc dù có đũa hay đồ gắp (ý nói không cầu kỳ, kiểu cách)” (tr.56, cột 2). Phải thêm “thức ăn” vào sau “lấy bừa”.
– Ví dụ 2, bình cũ rượu mới: “thn; (bóng) hình thức cũ, nội dung mới, giới văn học nghệ thuật đương đại dùng các khuôn mẫu có sẵn từ thời xa xưa để lại để trước tác các tác phẩm hay nghệ phẩm của họ, để các tác phẩm hay nghệ phẩm ấy tuy mang tính chất mới, phù hợp với xu hướng đương thời nhưng vẫn không mất đi nền nếp cũ” (tr.48, cột 2). Câu rườm và trùng lặp, vượt ngoài quy tắc viết từ điển. Gợi ý câu chỉnh lý: “hình thức cũ, nội dung mới, ám chỉ một giai đoạn giao thời, hình thức chưa theo kịp nội dung, người làm văn nghệ vẫn sử dụng các khuôn mẫu có sẵn để gửi vào đó nội dung tư tưởng của thời đại mới”.
– Có khi viết ngắn vẫn bị thừa hoặc lặp chữ, nên tuy ngắn mà không thoát rườm. Ví dụ 3, bóng rổ: “dt; môn thể thao dùng tay đánh quả bóng vào rổ của đối phương, bên nào để quả bóng lọt vào lưới của mình nhiều thì bị thua” (tr.53, cột 2). Gọi là bóng rổ nhưng chữ “rổ” soi sáng cho “bóng” chưa giải thích. Một chữ sai (đánh: bóng rổ là ném chứ không đánh), hai chữ gây nhầm lẫn (rổ và lưới), và một chữ thừa (một chữ quả dưới). Nên sửa: “môn thể thao dùng tay ném quả bóng vào rổ đối phương là một vòng đai sắt đường kính gấp đôi quả bóng, có lưới hình ống bao xung quanh; bên nào để bóng lọt vào rổ của mình nhiều hơn thì bị thua”.
– Ví dụ 4, ẩn sĩ: “người trí thức học cao hiểu rộng nhưng không xuất sử làm quan” (tr.13, cột 1). Câu sai ngữ pháp vì dùng sai chữ xuất xử (không phải “xuất sử”). Xuất xử không phải là ra làm quan, mà “lúc ra làm quan lúc về ở ẩn”.
V-2-3 Quy tắc không lặp lại lời giải nghĩa hai lần ở những từ đồng nghĩa.
– Ví dụ 1, hai từ ềnh, ình được coi là từ đồng nghĩa, vì tra “ềnh” có đề: ck (chữ khác) “ình”. Giảng: “tt; tư thế nằm dài ra mà không đẹp mắt (nằm ềnh ra)” (tr.271, cột 2). Đến ình, lẽ ra chỉ cần nhắc: xem ềnh, là xong, nhưng vẫn có lời giảng: “tt (ck ềnh); tư thế nằm dài và đưa bụng ra (nằm ình ra)” (tr.369, cột 2). Thay vào 4 chữ “mà không đẹp mắt”, là 4 chữ khác: “và đưa bụng ra”. Vậy là vừa trùng lặp vừa có thêm bớt.
– Ví dụ 2, hai từ bỏng và phỏng vốn chỉ là một từ, biến âm do cách đọc vùng miền; gặp từ này sách đều chú xem từ kia. Đến bỏng rạ và phỏng rạ cũng là cùng một từ hai cách đọc, nhưng lại có hai lời giảng, đều dài, giảng sau dài hơn giảng trước. Bỏng rạ: “dt; còn gọi là bệnh trái rạ hay thủy đậu, là loại bệnh do vi-rút gây ra khiến da phồng từng bọng nước nhỏ” (tr.53, cột 2). Phỏng rạ: “dt; bệnh lây do nhiễm siêu vi khuẩn varicella zoster, với việc nổi các mọng nước nhỏ trên da, nếu không điều trị kịp thời có thể gây các biến chứng nguy hiểm” (tr.761, cột 2).
– Ví dụ 3, trong sách có 2 mục từ bá láp, đặt cách xa nhau, và cũng kèm 2 lời giải. Bá láp 1: “tt; nhảm nhí tầm phào” (tr.15, cột 2). Bá láp 2: “trt; tầm bậy tầm bạ” (tr.16, cột 1).
Với cả 3 ví dụ vừa kể, nẩy sinh thắc mắc: có phải vì cẩu thả hay lý do gì mà không bỏ bớt một mục từ và dồn hai câu giảng thành một?
V-2-4 Quy tắc giải thích từ cận nghĩa không được làm mờ nghĩa, chồng nghĩa.
– Ví dụ 1, bán thuộc địa và thuộc địa. So sánh nội dung hai câu không thấy khác nhiều lắm: Bán th.đ. (tr.22, cột 1): “dt (chính trị); nước bị ngoại bang thống trị và thâu lợi trong nhiều lĩnh vực quan trọng” / Th.đ. (tr.1007, cột 1): “dt; nước hoặc một phần lãnh thổ của một nước bị nước khác chiếm và cai trị (Anh quốc đã trao trả nền độc lập cho nhiều thuộc địa rất sớm)”. Thậm chí, đem hai mục từ hoán đổi cho nhau, trong tâm trí bạn đọc cũng không gây xáo trộn bao nhiêu. Chứng tỏ quy tắc giải thích từ cận nghĩa áp dụng vào sách còn lỏng lẻo, chưa chú ý đúng mức yêu cầu gia tăng nét nghĩa khu biệt trong từ cận nghĩa, bằng bổ sung ngữ nghĩa và cả phương cách diễn đạt. Giữa hai mục từ đang xét, thuộc địa ít gây hiểu lầm hơn, xin gợi ý viết lại từ bán thuộc địa: “Thể chế cai trị không toàn phần của một nước áp đặt lên toàn bộ hoặc một phần lãnh thổ của nước lệ thuộc, vẫn cho phép giữ nguyên chính quyền bản xứ, nhưng đưa thêm các quan chức cùng cấp bậc của nước cai trị, danh nghĩa là “sứ quan”, đến cùng coi giữ, nhằm gây ảnh hưởng chính trị và thu một phần nguồn lợi kinh tế”.
V-2-5 Quy tắc không dùng phương ngữ trong câu văn giải nghĩa.
Phương ngữ là từ địa phương, phải được giải thích trong từ điển mới thông nghĩa. Nay làm ngược lại, dùng phương ngữ giải nghĩa mục từ. Dẫn 7 ví dụ.
– Ví dụ 1, ba dẻm: “tt; tầm phào, tầm ruồng, chuyện không đâu vào đâu (chuyện ba dẻm)” (tr.15, cột 1) [“tầm ruồng” = hư thân, mất nết, bậy bạ].
– Ví dụ 2, bay bướm: “1. Trông se sua, lạ và đẹp (nét chữ bay bướm)…” (tr.30, cột 1) [“se sua” = làm dáng].
– Ví dụ 3, bợt: “dt; bờ sông (anh ngồi côi bợt câu cá)” (tr.61, cột 1) [“côi bợt” = cô đơn trên bờ].
– Ví dụ 4, bùn sình: “bùn lẫn chất thải rất dơ” (tr.63, cột 1) [“dơ” = bẩn].
– Ví dụ 5, quặc: “đt; máng lên, móc vào (quặc chiếc mũ lên móc)” (tr.782, cột 1) [“máng” = treo, móc]
– Ví dụ 6, làm một mách: “đt; chửi mắng, xài xể một chặp” (tr.429, cột 2) [“xài xể” = rầy la, mắng nhiếc]
– Ví dụ 7, bòn bon: “dt (thực); loài cây cao có lá kép lẻ, quả hình tròn với năm múi, có cơm ngọt, mọc thành chùm trên một cuống dài (trái bòn bon)” (tr.52, cột 2) [“cơm” = cùi thịt]
Câu hỏi chung: một từ điển ngữ nghĩa phổ thông có nên bắt độc giả phải tra tìm nghĩa phương ngữ trước khi tra đến mục từ cần tra cứu?
V-2-6 Quy tắc viết đúng chính tả trong câu văn giải nghĩa.
Trên mục III đã nêu ưu điểm của phần mục từ viết không sai chính tả s – x / d – gi – r / ch – tr, giới hạn ở khảo sát 6 vần S, X, D, GI, R, CH, TR. Đến đây, tiếp tục áp dụng khảo sát chính tả s – x / d – gi – r / ch – tr vào lời văn giải nghĩa dành cho một vần B (có liên hệ đến vần A) thì rất không ngờ, kết quả không lạc quan như trước. Xin dẫn 45 chỗ sai với chính mục từ (m.t.) trong sách (đúng ra 49, nhưng một chỗ đã phân tích ở ví dụ 4, mục V–2–2 nên không nhắc lại, ba chỗ nữa tồn tại cả hai cách viết đúng và sai (“ăn dở” và ăn rở / “bập bừng” và bập bùng / “giầm” (chèo) và dầm chèo), nên loại ra không xét).
– Ví dụ 1, áo nậu: “áo bằng vải đỏ… thường dành cho người cầm cờ hay đánh trống mặc trong các dịp rước sách cổ truyền” (tr.5, cột 2) [m.t. tr.827: rước xách]
– Ví dụ 2, áo xổ gấu: “áo tang để gấu còn xổ sợi vải” (tr.5, cột 2) [m.t. tr.871: sổ gấu; sổ sợi vải]
– Ví dụ 3, ấm sứt vòi: “cái ấm bị gãy mất vòi, ý chế diễu cậu ấm con quan hư hỏng…” (tr.12, cột 1) [m.t. tr.108: chế giễu]
– Ví dụ 4, ẩn lánh: “chạy trốn đến một nơi xa để ở nhằm dấu tung tích” (tr.13, cột 1) [m.t. tr.298: giấu]
– Ví dụ 5, ấp úng: “nói không nên lời vì chưa tìm ra câu trả lời đúng hoặc vì muốn che dấu điều gì” (tr.13, cột 1) [m.t. tr.106: che giấu]
– Ví dụ 6, ba gai: “ngang bướng hay gây gỗ” (tr.15, cột 2) [m.t. tr.280: gây gổ]
– Ví dụ 7, bả lả: “chớt nhã, không nghiêm trang” (tr.17, cột 1) [m.t. tr.126: chớt nhả]
– Ví dụ 8, bãi bồi: “bãi được tạo nên do đất trôi theo giòng sông hay do cát biển tụ lại” (tr.20, cột 1) [m.t. tr.190: dòng chảy]
– Ví dụ 9, bại lộ: “bị lộ, bị phát hiện mặc dù cố giấu diếm” (tr.20, cột 1) [m.t. tr.298: giấu giếm]
– Ví dụ 10, bại sản: “cơ nghiệp tài sản mất cả (tán gia bại sản)” (tr.20, cột 1) [m.t. tr.906: táng gia bại sản]
– Ví dụ 11, bản đồ: “bản vẽ hình thế, đường xá của một địa phương…” (tr.23, cột 1) [m.t. tr.267: đường sá]
– Ví dụ 12, băng, nghĩa 2: “nhóm du thử du thực…” (tr.31, cột 1) [m.t. tr.193: du thủ du thực. Huình Tịnh Của – Tục ngữ cổ ngữ gia ngôn: “du thủ du thực” nghĩa là ăn chơi luông tuồng]
– Ví dụ 13, bánh sơ cua (tr.25, cột 2) [m.t. tr.1255: xơ cua]
– Ví dụ 14, bặm trợn: “thích gây gỗ, thô lỗ cục cằn…” (tr.31, cột 1) [m.t. tr.280: gây gổ]
– Ví dụ 15, bắt, nghĩa 3: “buộc phải làm (bắt dơ tay lên)…” (tr.32, cột 2) [m.t. tr.304: giơ tay]
– Ví dụ 16, bẩn, nghĩa 1: “dơ dáy, nhơ nhớp, dính bụi bậm…” (tr.34, cột 2) [m.t. tr.62: bụi bặm]
– Ví dụ 17, bẫng: “(bước) hụt, không tới (bước bẫng chân xuýt ngã)” (tr.35, cột 1) [m.t. tr.886: suýt ngã]
– Ví dụ 18, bập bùng, nghĩa 2: “(lửa cháy) mạnh và bốc cao lên từng chập” (tr.35, cột 1) [m.t. tr.1151: từng chặp]
– Ví dụ 19, bất trị: “… không còn dậy dỗ được nữa…” (tr.37, cột 1) [m.t. tr.175: dạy dỗ]
– Ví dụ 20, bẽ mặt: “ngượng ngùng, xấu hổ trước mọi người vì bị người khác xỉ nhục hay lật tẩy” (tr.39, cột 1) [m.t. tr.856: sỉ nhục]
– Ví dụ 21, bết, nghĩa 1: “dính quá nhiều (giầy bết bùn)” (tr.42, cột 1) [m.t. tr.295: giày]
– Ví dụ 22, bêu: “bày ra trước mắt mọi người để chế diễu…” (tr.42, cột 2) [m.t. tr.108: chế giễu]
– Ví dụ 23, bí quẫn: “không biểt xoay sở thế nào để thoát ra hoàn cảnh cùng cực hiện nay được” (tr.43, cột 1) [m.t. tr.1250: xoay xở]
– Ví dụ 24, biết tẩy: “biết rõ chuyện hay ý đồ mà người ta cố dấu giếm…” (tr.46, cột 1) [m.t. tr.298: giấu giếm]
– Ví dụ 25, biểu quyết: “đồng ý hay bác bỏ một đề nghị bằng cách dơ tay…” (tr.47, cột 1) [m.t. tr.304: giơ tay]
– Ví dụ 26, bĩnh: “xón phân ra tã…” (tr.49, cột 2) [m.t. tr.865: són cứt/ són đái]
– Ví dụ 27, bó rọ: “bị gò bó, không xoay sở thoải mái được” (tr.50, cột 1) [m.t. tr.1250: xoay xở]
– Ví dụ 28, bóc trần: “lột cởi hết ra, phơi bày hết những điều che dấu…” (tr.51, cột 2) [m.t. tr.106: che giấu]
– Ví dụ 29, bom na-pan: “… bom gây cháy dữ dội bằng săng đặc” (tr.52, cột 1) [m.t. tr.1234: xăng đặc]
– Ví dụ 30, bóp cò: “dùng ngón tay chỏ bấm vào cò súng để bắn” (tr.54, cột 1) [m.t. tr.614: ngón tay trỏ/ngón trỏ]
– Ví dụ 31, bồ sứt cạp: “chê người phụ nữ to béo xồ sề” (tr.55, cột 2) [m.t. tr.871: sồ sề]
– Ví dụ 32, bổ xấp bổ ngửa (tr.56, cột 1) [m.t. tr.56: bổ xấp bổ ngửa/tr.850: sấp ngửa]
– Ví dụ 33, bồn bồn: “… lá có hình dáng giống lá xả…” (tr.58, cột 2) [m.t. tr.831: sả/lá sả]
– Ví dụ 34, bơ sữa bổ từ trên xuống, cuốc sẻng bổ từ dưới lên (tr.59, cột 2) [m.t. tr.1241: xẻng]
– Ví dụ 35, bơ xờ (tr.60, cột 1) [m.t.: không có / viết đúng là bơ sờ]
– Ví dụ 36, bờm, nghĩa 2: “xổ sữa, mập béo” (tr.60, cột 2) [m.t. tr.871: sổ sữa]
– Ví dụ 37, bớn: “rác rưởi (đường xá đầy bùn)” (tr.61, cột 1) [m.t. tr.267: đường sá]
– Ví dụ 38, bụi đời: “lang thang bương chải để tự kiếm sống” (tr.62, cột 2) [m.t. tr.67: bươn chải]
– Ví dụ 39, bủm: “tiếng phát ra do đánh dắm…” (tr.62, cột 2) [m.t. tr.211: đánh rắm]
– Ví dụ 40, buôn nước bọt: “(như buôn hàng xách, nhưng với ý chế diễu)…” (tr.64, cột 1) [m.t. tr.108: chế giễu]
– Ví dụ 41, bưng bít: “bịt kín, giấu diếm kín” (tr.66, cột 2) [m.t. tr.298: giấu giếm]
– Ví dụ 42, bưng kín miệng bình: “giấu diếm một việc gì bằng cách không nói ra cho ai biết” (tr.66, cột 2) [m.t. tr.298: giấu giếm]
– Ví dụ 43, bưng mặt: “úp mặt vào hai bàn tay để che dấu việc khóc lóc” (tr.66, cột 2) [m.t. tr.106: che giấu]
– Ví dụ 44, bưng miệng, nghĩa 2: “đặt một bàn tay lên miệng để che dấu nụ cười chế nhạo” (tr. 66, cột 2) [m.t. tr.106: che giấu]
– Ví dụ 45, bứt đầu bứt tai: “… (bứt đầu bứt tai mãi về chuyện đã để xổng mất món hàng bở)” (tr.67, cột 2) [m.t. tr.874: sổng].
Mới chỉ vần B và một phần nhỏ vần A đã bề bộn đến tưởng như… đụng đâu gặp đấy, nếu đọc cả cuốn sách thì số lượng còn lớn đến thế nào. Thật khó lòng giải thích khi nhìn vào bảng danh mục đối chiếu, cũng vẫn 45 từ ngữ sai chính tả ở lời văn giải nghĩa, ở vị trí mục từ lại tuyệt đối không sai. Sự “tréo ngoe” đập vào mắt ngay giữa hai phần liên quan khăng khít trong cùng một cuốn sách, một bên là nhân một bên là quả không thể tách rời, khiến người đọc sách cơ hồ “mất định hướng”, vừa mừng rỡ bắt gặp được “cái đúng” ở bên này đã phải sững sờ không tin vào mắt mình khi lật sang bên kia lập tức hiện ngay “cái không đúng”. Tôi đã vất vả kiếm tìm một phương án khả dĩ hợp lý giải đáp cho câu hỏi: vì sao lại bất nhất lạ lùng như vậy, đến nay mới tìm ra. Tìm ra mà vẫn nửa yên tâm nửa… cứ còn thấp thỏm. Phải chăng hai nhà biên khảo khởi công soạn cuốn sách với tinh thần “làm khoa học” nghiêm túc, nên từ công đoạn xác lập mục từ, cần giải quyết chính tả cho khối lượng mục từ dễ sai nhất, các ông đã để tâm tham khảo cách viết của các bộ từ điển trước mình, trong đó gần gũi thời điểm chấp bút là Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, xa hơn ít nữa thì Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ(21). Hai ông rất thành ý tiếp thu hai sách đó và nhiều từ điển khác nữa nên tỷ lệ mục từ sai sót hạn chế đến tối thiểu. Nhưng rồi đến công đoạn giải nghĩa mục từ, do phải tranh thủ làm thêm ngoài công việc chuyên môn, các ông bắt tay vào viết soạn bất kể ngày đêm theo thôi thúc của cảm hứng, cứ thế “thả lỏng dây cương” viết theo quán tính viết tiếng Việt hàng ngày, đâm ra chính tả đúng sai chẳng còn cái “thắng/phanh” nào hãm lại… Chỉ hai câu thơ của một trong hai người đặt vào trích dẫn cũng đã mách bảo với chúng ta nguồn gốc “nội tại” của hiện tượng sai chính tả dày đặc nói đây, quyết không phải là do tham khảo những sách từ điển không đáng tin cậy mà dẫn đến hậu quả: “Dẫu cho hai ngả phân ly / Còn duyên còn nợ xá gì tháng năm” (tr.142) [xá gì / sá gì].
***
Kinh nghiệm cho biết, không có cuốn sách từ điển nào biên soạn một lần mà toàn bích cả. Đối với những công trình từ điển ngôn ngữ học của một dân tộc đang mở rộng địa bàn cư trú ra thế giới thì yêu cầu phát triển tự thân của chính đối tượng sẽ sớm vượt lên thành tựu mà những sách đó ghi dấu ở từng thời điểm nhất định. Thành quả của Từ điển Việt ngữ phổ thông, rồi đây qua cọ xát với đông đảo độc giả và giám định của các nhà ngôn ngữ học, sẽ được công luận xếp đúng thứ hạng trên bậc thang giá trị. Còn những sai sót? Một mặt, nghĩ cho cùng vẫn là khó tránh, không thể tránh. Mặt khác, nhìn theo hướng tích cực, cũng là lý do mở một cơ hội mới để cùng hướng đến tương lai. Chính vì còn sai và sót, hai tác giả thế nào cũng sớm bắt tay tra soát, sửa chữa – nói như một phương ngữ miền Nam đang có mặt trong từ điển: “nóng lòng” mà sửa. Sao cho trong vòng dăm bảy năm tới, lại sẽ có tiếp một bản in khác, mãn ý hơn. Những gì còn sai sẽ được loại bỏ, còn sót sẽ đưa vào. Đặc biệt (và điều này mới là đáng ước mơ), những mục từ mới sinh thành trên bước đường người Việt giao lưu khắp năm châu bốn biển trong 50 năm qua, thế nào mà chẳng có, sẽ được lượm lặt, thâu nạp. Mới đầu là phương ngữ của một vùng miền nhỏ hẹp như California, Houston…, trải qua nhiều giao tiếp, sàng lọc, sớm muộn chúng sẽ phổ biến, đến tay các cộng đồng nói tiếng Việt ở khắp mọi phương, từ Mỹ sang Âu Châu, sang Úc Châu, v.v., và quan trọng nữa là từ hải ngoại truyền về hải nội, góp thêm vốn liếng vào kho tiếng Việt chung của người Việt hôm nay và ngày mai. Phải có chúng và dùng chúng như một thứ của ăn của để thường xuyên thì người Việt mới tiếp tục hiện hữu và sinh sôi nẩy nở (“Truyện Kiều còn tiếng ta còn. Tiếng ta còn nước ta còn” – Phạm Quỳnh).
Đó cũng là lời nhắn gửi tha thiết sau cùng của người viết bài này.
(Hull, MA, USA, hoàn thành lần đầu 23.10.2023; chỉnh lý ngày 30-12-2024; hoàn thành trọn vẹn ngày 15-6-2025).
N.H.C.
__________________________________________________
(21) Bộ sách này lấy Từ điển chính tả của Lê Ngọc Trụ làm căn cứ, nhưng thật tình cũng chưa giải quyết chính tả một cách triệt để.