Home » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

NGUYÊN MẪU

0 comment ♦ 24.02.2015

Một đàn chó từ đâu đến thè lưỡi dài nhiễu nhạo nước bọt. Đôi mắt đỏ lừ, chạy lăng quăng giữa trưa nắng. Cuối cùng thì ngày tận số của hắn cũng đến, người ta nói về ông nội tôi như thế. Lại có người nói, lão ra đi nhẹ nhàng quá. Thanh thản như trẻ nhỏ.

Ông bác nhìn tôi, bảo đi chậm lại. Không hiểu sao mọi người lại cử tôi ôm di ảnh ông mà đi trước. Những ngôi mộ thưa thớt vươn lên khỏi đám cây rậm rì. Xe tang dừng lại- một người nào đó nói lớn. Họ tranh thủ bàn luận về mảnh đất an nghỉ của người chết. Gần chục người đàn ông đậm người khệnh khạng khiêng quan tài, ruỗi theo con đường mòn, bước một dè dặt. Bọn trẻ khoái chí rượt đuổi nhau, vẻ như đứa nào tới huyệt sớm nhất là một công trạng.

Tôi đi rất chậm, nhưng họ vẫn ở xa mình, nên tôi đứng lại một lát.

Bầu trời trong veo. Những khuôn mặt tỏ vẻ phàn nàn vì cái nóng của mặt trời thiêu đốt. Những người đàn bà phẩy tay hòng chống lại cơn nóng. Họ lẩm nhẩm một đoạn kinh. Bà nội tôi dò dẫm bước, áo tang rũ rượi, vừa khóc vừa kể lể những chuyện về ông, về tình nghĩa gắn bó của hai ông bà. Bố tôi mắng một câu gì đấy không rõ, cũng chỉ trấn an bà, rồi dìu bà vào bụi cây tránh nắng.

Nhìn bãi đất hoang ngập trong màu tím bầm của cây trinh nữ mà lòng trĩu nặng. Hình bóng hắn, loáng thoáng hiện lên. Nụ cười mang chút ngạo mạn- lúc này mà tôi còn nghĩ đến hắn được sao. Giả sử hắn chết, tôi có khóc không nhỉ, đột nhiên tôi thốt lên thành tiếng, không bao giờ. Người đi bên cạnh rướn vai nhìn tôi tò mò. Hắn không đến thắp cho ông nội tôi một cây nhang, vậy mà hôm nào cứ mở miệng ra là ông nội, bà nội. Tôi phải quên. Nụ cười. Mái tóc. Và cả ánh nhìn mơn trớn chiếm đoạt của hắn.

Một người đàn ông to lớn đuổi theo con chó chạy trước mặt, làm tôi giật mình. Lão chạy hớt hải như sợ ai nhận ra mình. Khuôn mặt nhìn kĩ, sần sùi và góc cạnh, quai hàm bạnh ra, khó ưa, lão dạng chân, đứng lại nhếch mép nhìn tôi tích tắc rồi lại kiên nhẫn đuổi theo con chó. Lão cúi xuống nhặt một khúc cây khô phi thẳng vào đầu nó, nhưng chỉ tội khiến nó chạy nhanh hơn; giận quá, lão văng một tiếng tục. Mọi đôi mắt đổ dồn về lão, khinh miệt vô cớ. Con chó ăng ẳng như buộc tội lão vậy.

Chuẩn bị hạ huyệt. Hàng cây ủ rủ đổ bóng trong ráng chiều màu mỡ gà. Đám đàn ông thì tụm lại với nhau, chừng bảy người người một, dông dài, thuốc lá.

Tiếng nhạc nhạc đưa tang, kèn trống, khóc lóc từ máy hát tắt phụt, nhường lại cho tiếng người khóc của những đứa cháu và bà nội, tỉ tê lẫn tiếng chó sủa vọng lại sau vách núi. Giọng một người đàn ông ồ ồ cất lên qua mi- cro, một… hai… ba… bốn… một… hai… ba… bốn… một… hai… ba… bốn… một… hai… ba… bốn… thừa thãi.

Hạ huyệt xong, mỗi người vãi một nắm đất xuống. Chúng tôi thực hiện nhanh gọn, như di chúc của ông. Ông ra đi tôi buồn lắm, vậy mà hai mắt cứ ráo hoảnh. Họ nhìn tôi và nói nhỏ với nhau, sao con này vô tâm thế, ông nó chết mà nó tỉnh như không. Biết làm sao, không lẽ tôi lại lấy dầu gió bôi vào mắt rồi nằm vật ra mà khóc. Ông bác cả của tôi từ đâu lù lù đến, hỏi trước khi chết, ông nội có dặn gì tôi không. Tôi trả lời không. Nghe vậy nên bác không hỏi nữa. Dầu sao bây giờ ông cũng là trưởng tộc. Việc gì cũng đổ lên đầu ông. Cứ nghĩ bố tôi sẽ giúp ông bác một tay, ai ngờ ông chẳng những không mặn mà, lại còn hay bài bác cạnh khóe… Cũng vì thế mà hai vị này gặp mặt nhau là đối đầu. Những buổi họp họ tộc, chẳng thấy mặt mũi bố đâu, ông biện cả trăm lý do mà vắng mặt cho bằng được.

Mọi người thư thả về. Họ bảo với nhau, hẳn ông tổ chúng tôi đã khai khẩn mảnh đất này. Có lẽ vì thế mà họ đưa tang ông nội tôi đông như thế. Lại còn bảo lẽ ra ông ấy phải được tôn lên làm thành hoàng làng chứ không phải cái ông chết bờ chết bụi kia. Phong gì mà phong, tổ tiên chúng tôi chẳng dại khai khẩn cái mảnh đất đầy tai ương và tật ách này làm gì. Mất công mang tiếng. Sống ở làng này chán chết đi được.

***

Tôi đã gặp hắn ở bảo tàng. Nhưng cũng may hắn không thấy tôi. Một lần khác, hắn quắc mắc dữ tợn hỏi tên tôi. Tôi đã bịa ra một cái tên. Nghe xong, hắn chẳng tỏ ra nghi ngờ gì, kể từ hôm ấy, hắn gọi tôi là Thoa.

Chị xé vé xe buýt đã hỏi tôi đến chục lần, đến bảo tàng làm gì. Mười lần, tôi trả lời mười mục đích khác nhau. Đến bây giờ chị ta không thèm hỏi nữa. Thấy tôi leo lên xe, chị ta đưa cho tôi tấm vé suốt tuyến. Nhưng quả thật lý do để ngày nào cũng đến đây tham quan, tôi cũng chẳng biết. Nó chẳng có gì đặc biệt, laị nằm gần một ngã tư lớn, ồn ào mà cách âm thì kém. Tầng trệt để xe, nhìn vậy mà còn quá rộng vì khách tham quan chỉ có mấy mống quen thuộc. Tầng bốn không mở cửa. Tầng hai, tầng ba trưng bày bấy nhiêu hiện vật, đã vậy người ta chẳng biết xếp đặt. Không biết xếp nó vào loại bảo tàng gì, lịch sử, văn hóa, mỹ thuật, chiến tranh, … mỗi thứ có một chút. Hơn một năm nay, nó vẫn thế, chẳng có thêm hiện vật nào, dăm ba thứ đồ cổ phục chế, dăm ba đồ giả cổ, rồi cả những thứ không phân biệt được là cổ hay giả cổ. Mọi thứ yên vị với dòng chữ cấm sờ vào hiện vật. Có thời gian người ta còn cắt giảm nhân viên vì chẳng thu được tiền từ khách. Bụi bám lên chúng từng lớp càng tăng thêm vẻ già nua và cũ kỹ đúng như ý nghĩa của nó. Với ngần ấy năm phát triển thành phố, với ngần ấy con người, nên họ bảo nó đang thu hẹp lại cũng phải. Họ khoe với tôi rằng chính nơi này đã truyền cảm hứng cho một nhà văn ăn khách viết tiểu thuyết. Cuốn sách bán chạy lắm. Tôi vẫn thấy cuốn sách đó phơi bày tràng giang trên vỉa hè nhưng chưa muốn mua bao giờ. Nghe đâu, bán hết rồi, chỉ chờ tái bản mà thôi. Cô nhân viên bảo tàng chỉ tay vào con thuyền cũ mèm, bảo chính nó đấy. Có lẽ hôm nay cô này được dịp nói, chứ khách đến đây ai cũng tự mình đi xem, chẳng nhờ đến sự thuyết minh của cô. Từng khúc gỗ rời rạc vì lớp nhựa kết dính đã hết tác dụng, khi nhà văn ăn khách xuất hiện, nó được đặt vào một làng quê thưa vắng, heo hút, chết chóc liên miên. Những hình ảnh này làm tôi liên tưởng đến ngôi làng của mình, một dòng sông quanh năm cạn trơ đá và cát, chỉ đến khi mùa lũ về, nó mới dở chứng, chảy xiết, hung hãn như quái vật. Những cánh đồng ven sông thì cằn cỗi, lại thiếu vắng bàn tay chăm sóc của con người nên mỗi ngày nó mỗi cằn cỗi hơn, mùa màng thất bát. Mọi chi tiết như bê nguyên, chẳng cần hư cấu làm gì. Những con người, cô nhân viên này miêu tả cũng chẳng khác gì những con người ở làng tôi là bao, tuy nhiên nhà văn ăn khách đã hơi cường điệu. Ông ta miêu tả họ phần đông con người là xấu xa, mặt mũi cau có, lầm lì và luôn rắp tâm làm điều ác. Người lớn nuôi thù hận cho trẻ con ngay từ khi nó lọt lòng. Mà những chuyện hận thù nó chẳng đáng gì mà kể cả. Những dòng họ mấy đời cạch mặt nhau, như chạm mặt là ném đá vào mặt được. Họ đa nghi nhưng sốt sắng với ma chay, cúng quảy; phong tục rườm rà, dài dòng và cổ hủ. Cô hồn trong tiểu thuyết cũng thế, lúc nhúc đầy mặt đất, chúng vây quanh người sống yêu sách đòi hỏi. Người sống chỉ biết nghe theo mà chẳng phản kháng. Tiếng quát tháo từ anh nhân viên mặt béo bệu cắt ngang cuộc nói chuyện giữa tôi với một độc giả của nhà văn ăn khách. Đã đến giờ đóng cửa ra về, ông bà anh chị đi nhanh cho. Muộn rồi. Người gì chậm như rùa. Hóa ra những người đến đây đều là những con rùa chậm chạp ư? Tôi thấy hơi tự ái. Lão béo bệu không mắng tôi cũng chẳng hối thúc, mà chỉ mắng mấy ông bà già kia. Khổ thân, nét mặt ông già không che giấu được vẻ lo sợ. Cứ thế, ông vin tay vào tay vịn cầu thang cố gắng đi thật nhanh. Một ông cụ khác cũng vin tay và đi như thế. Tới được tầng trệt, sắc mặt hai ông khoan khái hẳn, bước đi nhẹ nhàng. Ông cụ này hơi gầy, nhưng đôi mắt có vẻ còn tinh anh lắm. Tôi im lặng, đi nhanh hơn dù chẳng ma nào quát mắng. Chỉ năm mươi cây số thôi, giờ thấy nó xa lắc. Tôi chẳng muốn đặt chân đi trên những con đường quanh co, bụi mù mịt với những hình ảnh chết chóc như trong tiểu thuyết cô kia đã kể. Đâu chừng một bầy người ở đâu ùa đến, rỉa rói, cau có, vây bắt tôi.

Một ông già khác, trông đáng thương, đôi mắt mục đục ngầu, miệng mấp mé như trẻ con chống gậy đi. Hẳn ông đang muốn nói chuyện với tôi. Lưỡng lự chán, ông hỏi tôi ngày mai có đến nữa không. Tôi cười, tất nhiên là có rồi. Ông cụ đáp lại bằng một nụ cười, khiến tôi thấy nhẹ đi rất nhiều.

Trạm chờ xe buýt những ngày giáp tết vắng hoe. Mưa lất phất. Mùi nước tiểu hôi hám. Không còn những giờ tan ca tắc đường, nhưng những chiếc xe máy vẫn lao qua vùn vụt, vừa đi vừa la lối. Tôi và ông già đáng thương kiên nhẫn đứng đợi xe buýt, hai mươi phút. Hôm nay xe đến trễ quá. Leo lên xe được thì mưa bắt đầu nặng hạt. Tiếng mưa rào rào bên cửa sổ. Anh bán vé không hỏi tôi đi đâu mà đưa hẳn cho tôi tấm vé suốt tuyến.

Tiếng loa mặc định cất lên những điểm dừng chân. Đếm đi đếm lại, cũng chỉ có chín hành khách (tôi đã quên đếm mình), ngớ ra, tôi tủm tỉm cười một mình. Được chừng bảy chặng thì ba đứa học trò đồng loạt xuống và bì bõm lội nước mưa. Ba đứa này cứ liên thuyên cả buổi nên xuống một cái, thì cứ như trên xe chẳng còn một người nào nữa.

Một chuyến xe buýt, để khỏi sốt ruột, tôi lôi sách ra đọc nhưng chỉ được mười mấy trang thì ngủ mất. Lôi cuốn sách đang đọc dở, cố nuốt hết chương cuối, nhưng hai mắt cứ đờ ra. Buồn ngủ. Hôm nọ, đến là bực mình, chẳng quen thân gì, con bé ấy mới ngó qua cái bìa cuốn sách đã bĩu môi. Nó bảo sách tôi đọc sến, nhìn mà chán, chưa đọc được nửa cuốn thì đã biết kết thúc rồi.

“Hắn mệt nhoài chui ra khỏi tấm chăn, Mặt hắn ướt đẫm mồ hôi. Hắn đi lại phía cửa sổ, ….”

Tôi gọi tên hắn là K., chữ cái đầu của cuốn sách. Hơn nữa, đọc mãi chẳng thấy tên hắn là gì.

Nhân vật chính của tôi đang gặp nạn, tôi chẳng muốn đọc nữa.

Đêm qua tôi nằm mơ thấy hắn. Cuộc đời hắn hiện lên trong giấc mơ của tôi chẳng ăn nhập gì với những gì tôi đọc được từ cuốn sách này. Thân hình hắn gầy như một bóng ma. Hắn cứ nhai đi nhai lại nhưng câu dạy đời, sách vở, đạo đức giả. Tôi bảo hắn là kẻ nịnh nọt, hắn im lặng rồi biến khỏi giấc mơ của tôi lúc nào chẳng hay. Tỉnh dậy, tôi phát bực đi. Giờ đầu tôi đau như ai dằn vậy.

Tôi vội vàng bấm chuông xuống giữa đường, để tránh mặt hắn nhưng chẳng có điểm dừng chân nào cả.

Hắn đi rồi. Trên xe có sáu hành khách tất cả. Tôi gấp sách lại.

***

Đợi mãi, cũng đến giỗ đầu ông nội. Chắc thằng cháu nội yêu quý, nó mừng phải biết. Dầu gì nó cũng phải cưới vợ mà sinh con chứ. Đừng nói là không ai ưa vợ nó thì nó không được cưới hỏi tử tế. Với cái bụng chửa sáu tháng to kềnh như thế, ai đành lòng cấm cản. Lấy vợ cho hắn chứ có lấy cho họ đâu mà họ can thiệp, đàn ông, đàn bà, dâu rể nói ra nói vào nghe nhức đầu thêm. Bố tôi nói thằng Tú vô phúc mới sinh phải con với thứ sập mả, tức thì hắn văng những câu tục tĩu mà chửi đông đổng. Đúng là thằng điên, đôi co chán, hai bác cháu vật đánh nhau giữa đường. Kết quả là, mặt mũi ông bác sưng húp, phải vào trạm xá. Công an xã gọi lên, răn đe một trận, làm bản tường trình, cam kết đủ thứ, hắn ra về với cái mặt xanh như đít nhái. Hắn nói ngày đám cưới cóc cần ông đến dự. Gặp bố tôi ngoài đường, cọn vợ sắp cưới của hắn im re, không dám ngẩng mặt chào. Không biết tới đây, hai đứa sẽ ăn ở với nhau thế nào nữa, kể cũng tội. Từ nhà này đến nhà khác, tụm tùm nhau lại để chê bai, bài bác con dâu. Nào là đầu óc bã đậu, nào là ngu như con lợn. Cả bà bác ruột cũng thế. Ngoa ngoắt. Nói câu nào câu nấy như xát ớt vào mặt. Đi xem bói, thầy bà phán sao nghe vậy, về tâu lại, con ấy sát chồng, phá sản. Được cái mê tín, các bác thi nhau bơm vào- như quả bong bóng căng hơi. Rồi chuyện mâm quả để cưới thôi, họ cũng xem là đề tài lớn, cả dòng họ can thiệp. Hai tuần sau, nghe siêu âm sinh quý tử, họ cũng chịu nhượng bộ. Lắng xuống dần dần, nhìn cái bụng bầu vẻ nể phục.

Nó nhờ tôi viết thiệp đám cưới, cũng đến ba trăm cái. Cả buổi nó nói suốt một câu, em cậy nhờ chị. Tôi cũng chỉ cười tủm tỉm chứ biết nói gì bây giờ. Nhưng nhìn chung, con em dâu của tôi cũng đâu đến nỗi. Lý lịch thì sáng choang, lại con gái một, cũng có bằng cấp và xinh xắn. Nó bảo đang làm việc tại nhà xác bệnh viện nhưng không bảo khoa nào. Nó hỏi sao tôi không lấy chồng đi, tôi bảo không có ai lấy cả. Nó lại nói thì phải mở lòng ra mà yêu chứ, tôi bảo không ai yêu. Khi tôi gằn giọng, nó mới thôi không nói về chuyện này nữa.

Chuyện cưới hỏi của thằng Tú rục rịch cả năm nay chứ ít gì. Bây giờ thì chắc chắn rồi. Những tấm thiệp đỏ choét được phát đi, cái mặt hắn phởn như trúng số. Gặp ai hắn cũng khoe vợ sắp cưới của mình sinh quý tử. Hôm đám cưới, hắn cười toe cười toét từ đầu đến cuối. Vợ hắn thì hơi bẽn lẽn, ăn nói dè chừng. Nó phết son phết phấn vào, nhìn chẳng cân xứng với thằng Tú chút nào. Thằng này thì bé như cái kẹo, răng lại hô nữa chứ. Bọn thanh niên bảo được hũ vàng, làm Tú cười tít cả mắt. Nhưng nói cho cùng thì chẳng ai vĩ đại cho bằng bố tôi. Nghĩ thằng cháu mất dạy như vậy thì thôi cho rồi, đây ông lại diện một bộ vest mới cóng đến, cười nói chúc tụng nhiệt tình.

Có điều, hôm đấy, bà nội tôi cũng quá đáng. Cả buổi càu nhàu ông mới mất sao bọn mày làm đám cưới rình ràng quá, thiên hạ nó cười cho. Rồi còn khóc tu tu trong bàn tiệc. Khóc chán lại ho, những muốn cho cuống phổi sắp đứt không bằng. Bọn trẻ đùa, chúng phải kiếm cho bà một ông, rồi sang năm làm đám cưới, hoành tráng hơn cả đám thằng Tú. Bà bảo, bọn mất dạy, bằng tuổi này mà lấy chồng, tao chỉ có ông mày thôi. Cứ thế, những câu chuyện về ông cụ tuôn ra ào ào chẳng đầu chẳng đuôi. Chả bù cho bọn trẻ, chúng chẳng nhắc đến ông cụ bao giờ. Người chết thì cũng chết rồi. Mà, nếu có nhắc thì biết nói chuyện gì ngoài chuyện cúng quảy ma chay mồ mả.

***

Hắn lại đến, K. mặc áo xanh lam. Sự xuất hiện của hắn làm tôi vui quá.

K. hỏi tôi muốn đi đâu. Tôi ví von một chút cho hắn cười, bảo muốn được hắn dẫn đi, như kẻ mù được người sáng đưa dẫn vậy. Hắn nhếch mép cười. Nụ cười hắn mang cả vị chua chát.

Hắn bảo, vậy thì nhắm lại. Khi nào hắn yêu cầu mở mắt ra mới được mở.

Tôi chấp nhận. Giờ này hắn có nói gì tôi cũng nghe.

Hắn nhướn người lên rút ba que nhang, khúm núm và thành kính, chụm vào ngọn lửa đèn dầu, chắp tay cúi người vái lạy tổ tiên của tôi. Đúng như tôi phán đoán, cái mặt hắn bệnh hoạn, chỉ giỏi đạo đức giả. Tôi không ngạc nhiên lắm, nhường bước cho hắn đi trước. Hắn đưa mắt nhìn chằm chằm vào những pho tượng đỏ chót. Một đám khói ở lư hương bốc cao, tôi định bỏ chạy thì hắn kéo giật lại, ôm vào lòng. Hắn nắm chặt tay tôi, bảo nhắm mắt lại, đừng suy nghĩ điều gì cả, kể cả sự tức giận hay nghi ngờ.

Hắn sẽ giúp tôi tìm lại ký ức, hắn nói như thế.

Những hình ảnh về một trận hỏa hoạn nào đó, chắc chắn đã xảy ra, mới hôm nào thôi, tại nơi này, ngôi làng này. Từng đốm lửa li ti chụm vào nhau, nổ lách tác, dâng lên thành cột lửa cuồn cuộn cuồn cuộn. Tôi nhớ. Mang máng. Buổi chiều tôi thường một mình ngồi trên bậc của nhìn ra ngoài. Bầu trời thâm u, những đám mây vần vũ. Dòng sông cạn khô, trơ trọi cát và đá. Những ngôi nhà ven sông xập xệ, nhỏ xíu và tạm bợ. Người chủ của nó có vóc dáng nhỏ bé. Mái tranh màu nâu xẩm, lơ xơ, tưởng như chỉ cần một que diêm thì tất cả chìm trong biển lửa. Rồi có lúc, không biết vào tháng mấy, ngôi nhà của họ không có một bóng dáng một người đàn ông nào. Làng tôi vốn hoang tàn, lại hoang tàn thêm. Bốn, năm năm sau, những người đàn ông trở về, tay dắt những đứa bé tóc cắt lởm chởm, bụng phưỡn ra, còn tay chân thì loèo khoèo. Nhìn bọn trẻ này, ai cũng bảo lớn lên chúng ác phải biết, ai cũng ghét. Không biết lớn lên chúng đã đi đâu mà mất hút như thế.

Có lúc tôi bị những người đàn ông mắng nhiếc, lườm nguýt, trừng mắt, chỉ toàn tròng trắng. Những lúc đó- không hiểu sao bây giờ tôi mới nhớ, đàn ông, cứ như đàn ông làng này là phải thô bạo vậy. Họ ăn nói với đàn bà, thậm chí là người vợ của mình lúc nào cũng cao giọng, hất cằm, đĩ thõa và khinh miệt. Những người đàn bà thì khác, có thể nói là ngu. Lúc nào cũng im lặng, hỏi gì thì trả lời nấy. Quần áo họ xộc xệch, quanh năm mặc áo màu tối, nâu, xám, ngực thì lép kẹp chẳng chút sức sống.

Họ đẻ ra những đứa trẻ quái thai kia, chúng chơi vật vạ dưới đất. Đôi mắt đen láy, nhìn xa xăm. Chúng không nói năng, không chào hỏi người qua lại cũng chẳng mỉm cười, chẳng sốt ruột, chẳng nôn nóng. Có đứa, đôi mắt bất động, không chớp như pho tượng. Chúng đen nhẻm, môi thì thâm đen và dày. Chắc bây giờ chúng cũng dậy thì, cũng yêu đương, cũng khao khát, cũng ước mơ, như tôi?

Mùi rơm rạ khét lẹt, đám khói đen đặc. Không có một tiếng người rục rịch. Tiếng khóc từ một đứa trẻ phát ra. Hắn vẫn điềm nhiên. Hắn nói tôi cứ nhắm mắt lại, nhắm mắt lại. Đến lúc mở mắt ra, tôi chẳng thấy hắn đâu nữa. Tôi như người say đi trong chiều chập choạng.

Cụ già đứng lại, bảo này bé con sao con không mang dép. Nghe vậy, tôi nhìn xuống chân mình, miệng tôi mếu mếu, bấy lâu có đi chân đất hay không cũng chẳng ai hỏi han gì. Đám cây mọc gai tủa tủa làm chân tôi giộp lên, sưng tấy.

Tôi đi vào một ngôi nhà lạ. Những pho tượng di chuyển, lên xuống, ngang dọc, trước mặt sau lưng. Những pho tượng sần sùi, chẳng sơn bóng, ươn ướt, tanh tanh mùi bùn. Hắn lại xuất hiện, tôi bảo, sao hắn lại bắt tôi chơi một trò chơi quái gở như thế. Hắn cười. Giọng cười của hắn làm tôi bực mình. Rồi hắn bảo, thế thì tôi cứ về, men theo con đường này. Về thẳng một mạch.

Mặt trời lặn sau lũy tre. Lũy tre này có cả trăm năm nay rồi, chỉ có điều, người bảo nó tự dưng mọc lên, người bảo do tổ tiên tôi trồng.

Tôi đưa mắt nhìn bãi đất hoang vu nứt nẻ tìm hắn. Cả những đám đất được cày xới bằng những đường cày bạo liệt. Những lưỡi cày bật tung mọi thứ, gộc rễ, đất đá. Hắn đã cho tôi nhớ về tuổi thơ, mà từ lâu tôi nghĩ mình là người không có ký ức. Con đường này, thỉnh thoảng hai ông cháu tôi vẫn rảo bộ. Chỉ lúc ông tôi còn sống, chứ sau này tôi chẳng đi qua con đường này làm gì. Hai ông cháu, một già một trẻ. Ông nha nhẩn về những chuyện không có gì tẻ nhạt cho bằng. Đó là nỗi lòng của ông dành cho con cháu (với lũ con cháu– bất hiếu như chúng tôi thì nó thật vô nghĩa) . Cũng có lần, ông ngân nga những khúc hát, những bài vịnh tả cảnh hay bài thơ hoài cổ.

***

Họ còn trao cho chúng tôi một giấy chứng nhận. Mọi người trong họ vui vẻ đón nhận. Chẳng bù cho gia đình tôi. Từ lúc mất đứa con trai duy nhất, ông bố cứ lầm lầm lì lì. Khổ, đẻ được thì mẹ tôi cũng để cho chục đứa, tha hồ mà bồng bế. Mọi người châu đầu vào ca ngợi công sức của ông nội. Họ bảo, trước đấy sáu, bảy đời chẳng ai làm nổi việc gì, phải đến lượt ông nhúng tay vào. Mọi thứ hoàn mỹ. Ông bác cả nhấn nhá từng chữ, ông nội là con người của sự hoàn mỹ. Đang xôn xao, bố tôi vùng vằng bỏ về.

Bên ngoài, cát, gạch, đá, vôi vữa từng xe trút xuống, ầm ầm, kéo theo bao nhiêu cơ man nào là bụi. Chúng tôi, chỉ việc hoàn thành bức tường rào và một cánh cổng thật vững chắc nữa, mà thôi. Một bác lại còn nghĩ xa, bảo biết đâu nhờ nó mà cả ngôi làng mình trở thành một địa danh văn hóa văn hoét gì đấy, … biết đâu, biết đâu. Điều này đã được công nhận rồi, ai đó nhắc lại, ông điềm tĩnh nói tiếp về việc xây dựng bức tường rào. Hôm qua có hai, ba nhà báo đến đưa tin, bằng một mẫu tin ngắn ở góc báo sáng nay. Có cả ảnh bác cả, vị trưởng tộc nghiêm nghị trên mặt báo. Những lời máu thịt của ông nội tôi in nghiêng để trong ngoặc kép. Mọi người chuyền tay nhau tờ báo. Hài lòng.

Tôi đi theo ông.

Bóng ông khuất dần trên đỉnh dốc.

Trời nhá nhem, lũ thiêu thân bám vào cột lửa rồi mất hút.

Lũ bò gầy tong teo về chuồng, những cậu bé theo sau chúng cũng gầy không kém. Một đàn chim sẻ ùa đến, đậu trên những gốc rạ đen trụi, đậu chán lại bay đi. Hễ thấy con nào bay ngang qua, bọn trẻ lại vung đá lên ném cho bằng được, dù biết sẽ không thể nào xua được hết lũ chim đi. Chắc không có lũ chim thì ngôi làng này sẽ còn buồn hơn nữa. Một đàn chim khác bay đến, chưa kịp đậu xuống thì bọn trẻ đã vác đá ném. Lũ chim tội nghiệp vội vã vỗ cánh bay, để lại trên đôi mắt bọn trẻ con một sự tiếc nuối, buồn giận không nguyên cớ. Cảm giác đó không quá lớn, chỉ cần một đôi cánh chim khác bay ngang trời hay một cơn gió mát cũng đủ làm chúng quên đi. Đành vậy, tuổi thơ chúng chưa bao giờ có ý định rủ nhau làm những cái súng đá để bắn chim như những truyện thiếu nhi mà chúng ta vẫn đọc. Thậm chí hình ảnh những chú chim sẻ bị hạ gục và đem lên ngọn lửa cũng là một tội ác ghê gớm.

Chắc lũ chim cũng biết được người ta sắp đuổi chúng đi. Tôi muốn gọi tên hắn, nhưng hắn chẳng có tên. Một người bước ra từ trong sách ư?

Những chiếc xe máy ủi sẽ san bằng những bờ ruộng, những con đường vốn thân thuộc qúa đỗi. Chỉ sau một đêm, làng tôi đã hoàn toàn đổi khác. Những người già phàn nàn, họ chửi chung chung, nửa quê nửa tỉnh, ma túy, điếm đàng, vô học, …

Người ta cho mở một con đường nhựa vào thẳng tới nhà thờ tổ của chúng tôi. Nếu ông nội còn sống, ông vui lắm.

 

 

Sài Gòn 2012

K.N

Articles by Khiêm Nhu

Comments


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

@2006-2025 damau.org ♦ Da Màu Magazine
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)