Căn phòng không còn giống như bảy năm trước, lúc tôi kéo lê chiếc vali nặng qua bậc cửa. Ðúng hơn, nó chỉ khác đi vì cách bày biện. Bộ salon cũ đẩy vào sát vách tường bên trái, hàng ghế sắt sát vách tường bên phải. Ở giữa là chiếc hòm màu đen, trên có ảnh ba tôi. Khung cảnh lờ mờ, không phải vì mắt tôi đang dâng lệ, mà vì khói nhang quá nhiều trong căn phòng chỉ thoát hơi bằng cánh cửa sổ mở hé.
Dì Hạc lướt đến bên tôi, khẽ khàng và nhẹ bổng trong bộ quần áo đen. Hai bàn tay dì run run trợt trên vai tôi xuống cổ tay, như thể dì đang dò dẫm tìm lại cô bé ngày xưa của dì. Khuôn mặt phấn son của tôi chắc hẳn lạ lẫm, cả những bước chân trong đôi guốc cao tự tin đến vênh váo. Tôi đã lớn, đã thành tài, đã độc lập, chưa bao giờ trở lại căn nhà nơi tôi lớn lên bên cạnh dì. Và người đàn ông trong tấm ảnh kia.
Không thắp nhang, không khấn vái, tôi đứng thẳng một tầm với trước tấm ảnh, xem xét, so sánh nó với những hình ảnh tôi có trong trí nhớ. Ðôi mắt linh hoạt hơn, không lừ đừ, đỏ mọng như những buổi sáng ông về từ công việc gác dan đâu đó bên kia thành phố. Ðôi môi như mỉm cười, không xéo vào nhau cay đắng như những lúc ông ngồi một mình bên chai rượu nhìn chăm vào khoảng không trước mặt. Khuôn mặt trong hình trẻ, bình thản, hiền hòa. Nếu ông ta là cha tôi, chắc tôi đã vui vẻ đi học trường đại học gần nhà, chắc tôi đã không hăm hở bước vào hành lang lạnh ngắt của phi cơ như một tên phạm gian bỏ trốn, chắc tôi đã trở về sớm hơn, và cuộc gặp gỡ chắc phải hân hoan hơn bây giờ, khi cả hai chúng tôi cùng im lặng, cùng lạnh nhạt, vô cảm xúc như nhau.
Một vài người đàn bà túm tụm vào nhau phía sau quan tài kéo ra, tò mò nhìn ngắm. Hình như họ hàng, tôi nghĩ. Ba tôi không thích họ hàng, tránh xa họ như sợ bùa phép. Tôi đoán tôi có gặp họ trước kia, tuy không nhớ nổi ở đâu lúc nào. Thấy tôi khẽ gật đầu chào, họ xán đến gần tôi. Bà to béo nhất bọn, cũng hình như mau chuyện nhất, mở lời:
– Con bé lớn quá đi mất. Xinh nữa.
Người đàn bà gầy nhất, cổ đeo ngọc trai, nói bằng giọng khô khốc:
– Giống mẹ như đúc.
Người thứ ba cười đon đả, nụ cười, như cái liếc mắt có đuôi, lợn cợn ẩn ý:
– Chứ làm sao giống ba được?
Tôi quay mặt đi. Họ đến đây để chế nhạo ba tôi một lần cuối? Tôi muốn trả lời một câu cay độc, nhưng tôi không biết đủ về họ và những bóng tối trong đời họ. Vả lại, tôi bênh vực làm gì người tôi đã muốn quên đi? Chút mặc cảm tội lỗi không hâm nóng được những cảm giác chai đá. Họ là những con rắn uốn mình phun nọc, còn tôi là tượng gỗ. Không biết ai bày tỏ nhiều nhân tính hơn?
Bỏ mặc ba người đàn bà cho dì Hạc, tôi vào hành lang, tìm đến căn phòng tôi ngủ chung với dì Hạc trước kia. Chiếc giường hẹp của tôi vẫn còn nguyên, gối chăn ngăn nắp. Tội nghiệp dì Hạc, có lẽ dì vẫn hy vọng tôi trở về. Hay chỉ vì dì vốn dĩ không đoạn tuyệt được với quá khứ, không buông tay được với những điều quen thuộc. Dù sao tôi đã thoát đi, tôi nghĩ. Khỏi khung cửa nhỏ và bờ tường xám căn nhà bên cạnh. Khỏi khu phố nghèo xơ xác, con đường chỉ cần một cơn mưa đã ngập dưới lớp nước vàng bẩn, và đường rầy rỉ sét nằm chờ những toa tàu nâu sạm vuông vức kín bưng đi qua. Tiếng đồng hồ báo thức mỗi sáng là đoàn tàu băng ngang và sàn nhà rung lên chịu đựng. Tôi thường bật dậy ngay sau chuyến tàu sáu giờ sáng. Những giấc mơ, sau đó, sẽ mờ đục và buồn thảm như đám khói toả ra trên toa đầu tiên.
o0o
Tôi lớn lên không có mẹ.
Không ai nói mẹ tôi đi đâu. Những năm còn rất nhỏ, tôi nhớ giọng ba tôi hằn học nói mẹ đã chết. Dì Hạc ôm tôi vào lòng, nước mắt của dì pha lẫn nước mắt tôi. Mười tuổi, tôi biết, nhờ mấy người đàn bà kháo chuyện trong họ hàng, thật ra mẹ tôi bỏ đi. Sau đó ba không thèm giao thiệp với họ nữa, nên họ không có dịp rủ rỉ vào tai tôi những chi tiết ly kỳ trong câu chuyện giữa ba và mẹ. Dì Hạc, mặt trắng nhợt khi tôi hỏi, bảo mẹ tôi là người có lỗi, gây đau khổ cho nhiều người. Rồi dì khóc nức lên, làm tôi ngại không dám hỏi tiếp.
Tôi thương dì Hạc. Dì là người chăm lo, gần gũi tôi nhiều nhất. Ở chung với ba mẹ tôi từ trước, sau khi mẹ tôi bỏ đi dì nấn ná ở lại săn sóc tôi, mới được vài tháng. Dì không lấy chồng, và ở lại mãi. Có người bên họ ba bàn tán cho rằng dì muốn lấy ba tôi, nhưng ba tôi không muốn (chuyện này tôi nghe cùng lúc tôi biết mẹ tôi còn sống). Họ cười cợt thêm không chừng vì ba và dì lẹo tẹo, nên mẹ tôi bực mình bỏ đi, và hai người sợ tai tiếng không dám lấy nhau nữa. Trai đơn gái chiếc, họ thì thầm, tiếng cười hực lên như tiếng gừ của loài thú dữ. Mười tuổi, tôi chưa hiểu hai chữ “lẹo tẹo,” chỉ lờ mờ biết là chuyện không hay. Tôi thương dì Hạc, và muốn tô vẽ một hình ảnh hoàn hảo về cha mẹ mình. Ba tôi đã bắt đầu nghiện rượu, ít khi hỏi han đến tôi, mẹ tôi bỏ tôi đi, nhưng tôi vẫn muốn một hình ảnh đẹp. Ba tôi hiền, ít nói, mẹ tôi mẫu mực, đằm thắm. Có chuyện hiểu lầm, khúc mắc nào đó thôi. Khi tôi lớn, tôi nghĩ, tôi sẽ tìm cách cho họ hòa giải. Và rồi tôi sẽ là đứa con ngoan ngoãn giỏi giang trong bức tranh gia đình đầm ấm. Mọi chuyện sẽ “có hậu” như câu chuyện Sans Famille của Pháp1.
Ðến bây giờ, tôi vẫn tin rằng ba hằng luôn yêu mẹ. Làm sao không yêu được người phụ nữ xinh đẹp như thế? Ba cất kín hình mẹ trong tủ khóa, nhưng không nỡ quăng đi. Từ năm tám tuổi tôi đã biết lén lấy chìa khóa lục lạo lung tung trong nhà. Những tấm hình của mẹ, lồng trong album hay xếp lớp trong bọc nylon, tấm nào cũng đẹp, tươi tắn. Nhất là tấm ba lồng trong chiếc khung gỗ nâu bóng. Mẹ nhìn nghiêng nghiêng, ánh sáng rọi xéo xuống mặt, tô rực rỡ khoé môi cười mỉm và đôi mắt trong veo. Tấm hình đen trắng, gợi cảm và bí mật, trở thành mẫu mực cho những bà tiên nhiều màu sắc tôi tưởng tượng đến. Trong lớp áo tiên nữ, tâm hồn mẹ sáng rỡ như sắc đẹp, tràn trề tình yêu mến cho đứa con gái nhỏ.
Những tấm hình ba cạnh mẹ, ba trông bảnh bao, hào nhoáng. Họ xứng đôi như hoàng tử và công chúa, tôi hay hãnh diện nghĩ thế. Nhưng nếu những tấm hình của mẹ, gìn giữ kỹ trong tủ kín và trong tâm tưởng tôi, không phai màu hay loang lổ với thời gian, hình ảnh ba thay đổi hàng ngày, càng lúc càng rõ dần những vết nứt. Năm mười sáu tuổi, sau những năm dài trong căn nhà cũ âm ẩm mùi mốc này, tôi nghĩ mình đã hiểu tại sao mẹ bỏ đi, tại sao mẹ không yêu ba. Người đàn ông bất tài, không biết tiến thân, sang Mỹ bao nhiêu năm vẫn hoàn chân gác dan. Ðã vậy, còn nghiện rượu, cả ngày ngậm tăm không nói một câu, say thì hoặc ư ử hát một đoạn cải lương, hoặc chúi vào giường hay ghế sofa ngủ, ngáy như sấm. Năm đó, tôi đã quyết chắc mùi nước hoa rẻ tiền đôi khi phảng phất theo ba về nhà là của một cô gái làng chơi nào đó, không chừng là một trong mấy cô lảng vảng góc phố bên kia, chỗ tôi xuống xe bus mỗi lần đi làm thêm về tối.
Người đàn ông luộm thuộm, nặng mùi mồ hôi đã thành xa lạ, chỉ còn gợi lên cho tôi sự ghê tởm mơ hồ, cùng với chút mặc cảm tội lỗi vướng vất như mùi thức ăn bám vào quần áo, không dứt bỏ được. Tôi không biết tôi lãnh đạm với ba trước, hay ba lơ là với tôi trước. Với tôi, ông vẫn ít nói, ít âu yếm từ lúc bé. Khi tôi lớn, ông càng ít nói hơn. Mọi chuyện cần hỏi ông, tôi thông qua dì Hạc. Khi tôi nhìn ông, chắc mắt tôi có chán ghét và sợ sệt. Khi ông nhìn tôi, đôi mắt gân đỏ gườm gườm nhưng không hẳn doạ nạt. Ba tôi dọa được ai đâu? Cái dáng lù khù, mặt gằm xuống trong những bước đi, là dấu hiệu của thất bại hơn là nguy hiểm.
Vật vờ, lặng lẽ như chiếc bóng, dì Hạc hình như là người duy nhất trong ba chúng tôi hiểu rõ về mọi chuyện, hiểu ba và tôi, và quá khứ. Không đẹp như mẹ, không lấy chồng, dì héo hon như bất cứ người đàn bà ế muộn bất đắc dĩ nào khác. Dì không cản tôi nộp đơn đi học trường tiểu bang khác, chỉ nhỏ nhẹ nhắc tôi cảnh đơn chiếc của ba. Tôi cười gằn, không trả lời, nghĩ thầm ba đã có chai rượu làm bạn, đâu cần ai nữa. Tôi đi, chắc chỉ có dì Hạc buồn. Dì là người phụ nữ quen thu dọn, chăm lo cho người khác. Không có tôi, sau khi may thuê quần áo, nấu nướng, thu vén căn nhà, dì sẽ vùi mình trong căn phòng nhỏ, xem phim Tàu, hay những chương trình tivi dì không hiểu hết. Không còn tôi để dì hỏi han, khuyên lơn, hay an ủi.
Tôi bảo dì Hạc tôi sẽ học thành tài, và đi tìm mẹ. Dì Hạc nhìn tôi, những nếp nhăn sớm trên khuôn mặt hằn xuống sâu hơn khi dì khóc. Cau có, tôi nghĩ dì Hạc ích kỷ, không muốn tôi có mẹ. Dù tôi ở bên dì từng ấy năm, tôi vẫn là con của mẹ, tôi vẫn thương mẹ hơn dì chứ. Dì Hạc nắm lấy tay tôi, kể lể. Dì dài dòng mào đầu nào là dì không muốn nói nhiều chuyện cũ, không hay ho gì, nhưng cháu đã lớn, cần phải biết. Tôi ngồi yên, cánh tay đau nhói dưới những ngón tay xương xẩu của dì Hạc, lắng tai nghe.
Mẹ tôi bỏ đi cùng người chồng sắp cưới của dì Hạc. Lúc đó dì sống chung với ba mẹ tôi, nên suốt một năm dì Hạc và người đàn ông ấy tìm hiểu nhau, ông ta đến nhà, gặp gỡ ba mẹ tôi rất thường. Dì Hạc nói không biết mẹ tôi và người đàn ông kia bắt đầu để ý nhau từ khi nào. Mẹ có thai ngày càng lớn, nhưng tươi mát, xinh đẹp, không vàng bủng hay phì xệ như người ta. Sanh tôi xong vài tháng, đang lúc dì Hạc tất bật chuẩn bị đám cưới với người đàn ông ấy, mẹ tôi biến mất. Lá thư mẹ tôi để lại cho dì Hạc vỏn vẹn cho biết bà và người đàn ông ấy sẽ lấy nhau. Không một lời xin lỗi, hối tiếc. Không một chữ nói về ba tôi. Giữa căn nhà lạnh hẳn đi vì thiếu mẹ, tôi đói sữa khóc trong nôi, dì Hạc vơ chiếc áo cưới vừa may xong quăng xuống đất, nhảy đạp lên nó trong cơn giận tủi hổ và mê muội. Còn ba tôi? Ông đứng lặng bên cửa sổ nhìn xuống con đường, như thể ngóng mẹ tôi về. Ông vẫn hy vọng, dì Hạc chép miệng, như than thở. Nỗi hy vọng lụi dần theo năm tháng, chết ngộp trong đáy ly rượu, thành một nỗi cay đắng da diết. Mỗi năm qua, sự phản bội như lưỡi dao ngập sâu hơn vào vết thương nung mủ. Nhưng mẹ cháu không về đâu, dì tiên đoán. Tôi đứng dậy, không muốn nghe dì kể xấu mẹ. Mẹ đâu có lỗi nếu mẹ không muốn sống chung với người đàn ông bạc nhược, nếu mẹ yêu người khác và đi tìm hạnh phúc với người ấy? Dì Hạc phải chịu thiệt thòi, tôi biết, nhưng tình yêu tự nó không công bằng hay hợp lý. Dì giận số mạng, giận bị bỏ rơi, rồi giận lây đến mẹ tôi. Tôi giằng cánh tay ra khỏi tay dì. Cả hai chúng tôi cùng nhìn vết tay dì in dấu đỏ tươi trên tay tôi, như màu máu. Dì Hạc nhìn xuống đất, những giọt nước mắt nối theo nhau rơi xuống nền thảm bạc màu cáu bụi.
Tốt nghiệp trung học, tôi đi đến một tiểu bang khác học đại học, làm việc ở đó. Thỉnh thoảng tôi gọi điện thoại hỏi thăm dì Hạc, lựa giờ không có ba ở nhà. Nếu dì nhận ra tôi không muốn tin dì, và cho rằng dì ghen tỵ với mẹ tôi, dì không có vẻ gì hờn giận. Cuộc sống của ba với dì không thay đổi, không có bao nhiêu thứ để kể, còn cuộc sống của tôi, tôi không biết kể làm sao cho dì hiểu. Những chuyện phe đảng, chính trị nghề nghiệp, chen vai thích cánh giữa chợ đời, tôi làm sao tả lại được cho người đàn bà thu mình trong nhà may thuê, tiếng Anh không thạo, tham vọng lớn nhất của cuộc đời chỉ là lập gia đình nhưng cũng không thành tựu? Dù sao đi nữa, dì là mối dây duy nhất của dĩ vãng, của căn nhà cũ và thành phố nhỏ này tôi còn quyến luyến. Không có dì, không chừng tôi đã không biết tin ba tôi qua đời, hay về kịp dự đám tang.
o0o
Bàn thờ tạm của ba tôi nằm lè tè trên chiếc bàn salon, vài trái cam, táo và ba nén hương. Dì Hạc nói chừng nào dọn sang nhà mới dì sẽ cho đóng bàn thờ tử tế hơn. Tôi ngừng tay thu dọn quần áo, nhìn quanh căn phòng ngổn ngang mọi thứ. Ba mất rồi, căn nhà hai phòng dì Hạc không kham được, nên dì sẽ tìm chỗ khác rẻ hơn. A ha, tôi nghĩ thầm với chút thỏa mãn trẻ con, tôi sẽ hoàn toàn đoạn tuyệt với căn nhà này từ đây. Có thể một ngày nào đó, trần nhà loang màu vôi vàng và màu xám u tối của những buổi sáng mùa đông sẽ biến mất trong những giấc mơ của tôi.
Dì Hạc lại gần, phụ tôi gom những món trang điểm lỉnh kỉnh vào trong chiếc túi nhỏ. Bây giờ dì chỉ còn một mình, cháu phải về thăm dì đôi khi, nghe. Giọng dì có chút van lơn, và tôi nghe hình như có chút trách móc nữa. Tôi có thể “áo gấm về làng” từ lâu rồi, phải không? Tôi nhìn mái tóc bạc của dì cúi nghiêng trên chiếc vali, nhìn tấm ảnh ba tôi đẫm trong ánh nắng đầu ngày. Ba không thương cháu. Tôi nói như trút ra một điều bí mật nặng nề, như người lục xuống đáy rương và chợt thấy tận mặt vật mình thường hình dung đến. Tôi nói như thể tôi chỉ vừa khám phá ra điều tôi phải biết từ bé. Và tôi nhìn dì Hạc, chờ sự đồng ý của dì. Chớp chớp mắt, dì phân vân nhìn tôi, có lẽ đang chống chọi giữa sự gắn bó, trung thành với ba tôi và sự thật. Ba cháu hiểu lầm, dì nói. Rồi im lặng. Rồi hỏi:
– Cháu có thử tìm mẹ cháu chưa?
Tôi lắc đầu. Dì tiếp tục:
– Dì nghe đâu mẹ cháu ở tiểu bang X. Nghe nói cũng khá.
Khá cái gì? Tôi nghĩ. Khá già, khá vui, hay khá mạnh? Bỗng dưng tôi thấy mình mất kiên nhẫn:
– Ba cháu hiểu lầm ra sao?
Tôi chưa bao giờ to giọng với dì Hạc. Bảy năm, tôi lớn lên còn dì Hạc già đi. Trước là chiếc bóng, bây giờ dì vẫn là chiếc bóng, chỉ mờ nhạt hơn. Còn tôi, tôi đã học quen cách gay gắt trong buổi họp, cật vấn và xác quyết trong công việc. Giọng dì Hạc buồn rầu. Dì hình như không còn đủ sức để căm giận, chua cay nữa:
– Mẹ cháu có để lại một lá thư cho ba cháu. Trong thư, mẹ cháu nói ba cháu là người vô dụng, bất tài. Mẹ cháu đã chán ba cháu từ lâu, và cháu là con người khác.
Tôi không biết phản ứng thích đáng lúc này phải như thế nào? Dì Hạc vội vã tiếp:
– Nhưng cháu là con ba cháu thật. Mẹ cháu chỉ muốn bẽ mặt ba cháu. Dì nói mãi nhưng ba cháu không tin. Hồi đó dì ở chung, dì biết chứ. Mẹ cháu chỉ gặp… anh ấy thôi. Ðó là lối thoát duy nhất của mẹ cháu. Cũng tại dì sơ sẩy, không để ý.
– Ba cháu bất tài thật, phải không?
Dì Hạc lắc lắc đầu:
– Mẹ cháu xinh đẹp, nhiều ước muốn, quen chuyện dễ dãi. Ở Việt Nam ba cháu là công tử nhà giàu, hỏi cưới là mẹ cháu bằng lòng ngay. Hạnh phúc, vui vẻ lắm, cho đến khi sang Mỹ. Hết tiền của, không bằng cấp, ba cháu chỉ xin được chân gác dan, vừa làm lo cho gia đình vừa đi học thêm. Mẹ cháu nôn nóng, không muốn đợi. Chồng sắp… bạn của dì hồi đó cũng chỉ là nhân viên trung bình của một hãng nhỏ, nhưng lương khá hơn ba cháu. Sau khi mẹ cháu đi, ba cháu mất hết ý chí…
Nói sao đi nữa, ba cháu vẫn là người vô dụng, tôi nghĩ. Giọng dì Hạc tan vào khoảng không, căn nhà đột nhiên im lặng lạ thường. Trong sự im lặng này, ba chúng tôi đã có, hoặc tạo nên những sự thật và ảo tưởng của riêng mình. Chúng tôi ở bên nhau, nhưng không bao giờ gặp nhau hay hiểu nhau. Mẹ tôi đã mang phần trọng yếu của câu đố đi mất, và chúng tôi tự tìm cách lấp đầy lời giải.
Chuyến tàu mười giờ chạy ngang. Hình ba tôi rung rung, ngã úp xuống mặt bàn. Mắt viền theo mép khung hình đen, tôi nghĩ tôi không còn nhớ nổi mặt ba tôi nữa, người đàn ông trong hình hay người đàn ông tôi chạy trốn. Nhưng trên nền đen của ý tưởng trống rỗng, tôi vẫn thấy nụ cười của mẹ, màu mắt trong ngời sáng đến nhức nhối. Quay lại, tôi nhìn vào mắt dì Hạc, màu mắt bắt đầu đục của người đàn bà quen cam chịu, người duy nhất trong ba chúng tôi có lẽ đến gần với sự thật nhất, cho dù sự thật không có chút nào an ủi hay kèm thêm tha thứ. Tôi nhoài người ôm lấy vai dì Hạc, bờ vai gầy guộc, ấm áp. Tôi không muốn giống ba hoặc giống mẹ, ruồng bỏ đi những yêu thương nắm được trong tay.
9/97-6/98
Hồ Như
(1) Tác giả Hector Malot