( sau khi xem bộ Văn Miền Nam do Thư Ấn Quán xuất bản)
Đã ba mươi năm hơn mà ngọn lửa phần thư của Tần Thủy Hoàng thế kỷ 20 vẫn còn nóng rừng rực. Những ngọn khói mang vị mặn của máu và nước mắt vẫn u uất chưa tan.
Chưa ai tổng kết có bao nhiêu nhà thơ nhà văn, một trong muôn ngàn tinh hoa của dân tộc, bị lôi ra khỏi bàn viết đưa đến những nơi ngục tù không kẽm gai. Cũng không ai biết được có bao nhiêu ngàn tấn sách gọi là “văn hóa độc hại” bị thiêu sống, bị trấn nước, bị ném ra đường cho xe cán, bị xé chùi đít trong những nhà cầu công cộng đầy dòi bọ…
Từ đây, lén lút cất dấu, lén lút đọc những gì viết ra trước 1975 là có tội. Những tủ sách gia đình lép kẹp, đói meo. Những con người khát chữ sống vật vờ. Cả nền văn học Miền Nam tốt tươi xanh muôn ngàn lá` bỗng chốc trở thành hoang mạc. Chỉ có nắng “đỏ” chói chang và sỏi đá ngu ngơ.
Rồi đó, cái đạo quân trang bị tận óc não tư tưởng ngoại lai do một nguyên soái thi ca (được phong hàm nhờ ca tụng nguyên soái bạo tàn) lãnh đạo, đã nhanh chóng chiếm lĩnh trận địa. Từ đây, điếc óc đinh tai những kẻ hô khẩu hiệu ngay cả lúc bước vào giường tân hôn, những kẻ trơ tráo oang oang con nai vàng ngơ ngác nay không còn ngơ ngác nữa vì có đảng lãnh đạo!
Cái hoang mạc kia bỗng ngập tràn hết sức lòe loẹt những cây giả và bông hoa giả.
Khổ thân tôi, sống chung với cái giả tôi cũng biến thành con người giả. Tôi quên mất con người thật của chính mình. Cho đến một hôm trời không đẹp lắm đâu, có người dấm dúi cho tôi xem bộ Văn Miền Nam dài trên một ngàn năm trăm trang, do Thư Ấn Quán góp nhặt xuất bản (1). Dù không có người tình cũ, tôi cũng tưởng như mình đang gặp lại người tình cũ. Nghĩa là sững sờ và run rẩy. Những hơn ba mươi năm sống dưới hàm sư tử, tình xưa vẫn sóng sánh ngọt ngào như mới hôm qua.
Tôi gặp lại Võ Phiến, Bình Nguyên Lộc, gặp Mai Thảo, Doãn Quốc Sỹ, gặp Nguyễn Mạnh Côn, Thế Nguyên…gặp hơn một trăm con người không biêt hô khẩu hiệu, không tiêm chích một thứ ma túy độc dược nào ngoài cái mùi hương kín đáo của những kẻ yêu nhau mới biết quý nhau. Tôi kinh ngạc một cách thích thú khi biết tác giả Âu thị Phục An mới trên 20 tuổi mà đã viết được một cách tinh tế những ngại ngùng bối rối, những xót xa âm thầm khi phải để cho chồng chưa cưới làm chuyện đó trong một cái nhà tắm xệch xạc không mái che (Thăm viếng). Đó mới thật là “nỗi buồn chiến tranh”.
Và, chiến tranh với những mất mát đau thương, những cái chết oan khốc, ngu xuẩn, một cuộc nội chiến mù quáng dại dột được Y Uyên, Chu Trầm Nguyên Minh, Hoài Ziang Duy, Doãn Quốc Sỹ, Đặng Kim Côn…nói tới một cách trung thực không một chút dấu che cái phi lý bạo tàn, cái vô duyên hụt hẫng của những quân cờ trong cuộc chơi súng đạn và ý thức hệ của các cường quốc.
Rồi cái lọc lừa gian dối, cái cõi đời ô trược với những bon chen xu nịnh được Kinh Dương Vương khui mở thối hoắc trong truyện Nhà Cầu và Lê Văn Siêu mỉa mai cay nghiệt trong Con Chó Uất Trì…
Nhưng sững sờ nhất, bàng hoàng nhất là khi đọc truyện Cái Xương Cụt của Chinh Ba. Bằng cảm quan của một con chó sói lạc bầy, tác giả tru lên tiếng kêu lạnh buốt báo trước một cuộc chà đạp phỉ nhổ không thương tiếc những gì dược gọi là văn hóa văn nghệ Miền Nam. Ba lò Heo chính là hình tượng rõ nét nhất của những kẻ ngu dốt, bất tài mà lại dâm ô, được đảng cất nhắc làm những quan ngự sử văn học nghệ thuật. Thật tội nghiệp những đầu óc non tơ của cả nước phải học, phải tụng, phải nhai nuốt những cái trên xương cụt gọi là thơ của hắn.
Nhiều lắm. Một trăm một chục cây bút, già có trẻ có, nam có nữ có, lặng lẽ đâm chồi, lặng lẽ đơm hoa. Viết không vì cơm áo. Không vì chính quyền sai bảo. Không vì xun xoe nịnh bợ. Không vì một chút bổng lộc nào. Viết như là phải thở vì có`phổi, phải thấy vì có mắt, phải nghe vì có tai, phải ngửi vì có mũi, phải nói`vì có miệng…Viết trên hết vì là tự do, một thứ tự do bát ngát. Cho nên những đứa con của họ, những đứa con của Tự Do, đa số dù bị ném trên giàn thiêu, bị banh da xẻ thịt, vẫn còn đó một số đông không kém, được những đồng bào dũng cảm che dấu, ấp ủ.
Có những đứa may mắn sống sót trên những con thuyền vượt biên, những đứa được các thư viện ngoại quốc đem di tản trước 75 (như di tản những trẻ mồ côi), nhưng có đứa phải nằm bẹp dí dưới đáy tủ, trong xó bếp, trong mớ giấy lộn ve chai, hay dãi dầu mưa nắng trên những hè phố bẩn thỉu…Lưu lạc, trốn chui trốn nhủi nhưng vẫn sống và hôm nay gặp nhau rì rào tỉ tê trăm chuyện.
Đừng bảo rằng đây là nghĩa trang mặc dù cuộc ra đi trên biển đã biến Thái Bình Dương thành Nghĩa trang dương. Đây là cuộc tập hợp tuy chưa đông đủ, nhưng bấy nhiêu thôi cũng có thể thấy được một nền văn học chân thực dù chỉ hơn hai mươi năm vẫn sống, vẫn tỏa sáng.
Vẫn sống, vì dù rằng nhiều người trong số họ đã chết và chắc chắn trong khoảng vài mươi năm nữa cũng sẽ chết hết, nhưng cũng hãy còn âm thầm trong đói rét, trong kiềm kẹp, bị chụp mũ, bị bẻ bút..vẫn có nhiều người tiêp tục viết. Viết và viết mãi! Nghĩa là những đứa con của Tự Do vẫn không ngừng hoài thai, không ngừng được sinh ra, không ngừng tìm cách quẫy đạp để đón ánh mặt trời. Bỡi Tự Do là Mẹ Vĩnh Cửu, là Bất Diệt.
Viết đến đây mà không rạp mình tạ ơn những người đã bỏ cả công sức, tiền bạc, vượt qua những hiểm nguy trù dập, để quy tụ những đứa con của Thần Gió về họp mặt trong Thư Ấn Quán là cả một sự bội bạc.
Xin được cảm ơn những kỳ công không cần vinh danh nọ. Việc làm của các anh chị không như muối bỏ biển đâu, cũng không phải là dựng mộ chí mà chính là nhóm lửa cho những ai lạc loài trong tối ám như chàng phi công trong Bay Đêm của St.Exupéry thấy được dưới trời giông bão vẫn còn có ánh đèn.
Nghĩa là thấy lại mặt đất và sẽ tìm được đường về.
10/2009
(1) Người viết bài này chỉ may mắn đọc được 3 tập. Thật ra, nhà xuất bản Thư Ấn Quán mới vừa cho ra đời thêm tập 4. Tổng cọng 2200 trang gồm 158 tác giả.