[“Lady Lust” của Lê Quảng Hà, năm 2006. Những chân dung chẳng đẹp đẽ gì về các chính trị gia đã khiến cho ông bị nhà cầm quyền khiển trách. Tranh do Thavibu Gallery và Nghệ sĩ cung cấp.]
HÀ NỘI , Việt Nam – Ngày càng nhiều doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam, từ ngân hàng cho đến xưởng đóng tàu, đang được chuyển giao vào tay tư nhân. Truyền hình nhà nước phát những mẫu quảng cáo hàng tiêu dùng cạnh tranh nhau. Đối với một số gia đình ở thành thị, những chuyến đi hàng tuần đến các siêu thương xá và KFC đã trở thành tiêu chuẩn. Trong những quán cà phê hay trên các mạng xã hội, giới trẻ khoe áo quần hàng hiệu, đồ chơi điện tử và hình ảnh của những chuyến đi ra nước ngoài – trong khi trên đường phố những chiếc loa phường vẫn ra rả tin tức về những cuộc họp và nghị định của đảng.
Chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản là hai kẻ đồng sàng dị mộng, nhất là về vấn đề văn hóa. Chính phủ tiếp tục theo dõi triển lãm nghệ thuật và nhạc hội, phim điện ảnh và chương trình truyền hình, sách và CD. Theo truyền thống cộng sản cổ điển, chính phủ vẫn còn chính thức cấm các “hành vi phạm tội chống nhà nước” (một tội hình sự được định nghĩa mù mờ và bao quát), vi phạm thuần phong mỹ tục (như hình nộm không mặc đồ lót) hoặc hành vi mà họ cho là biến thái (như tóc nhuộm tươi rói). Nhưng các cơ quan mới thực thi những hạn chế cũ này đang ngày càng ít được điều khiển bởi sự tinh ròng ý thức hệ hơn là bởi một mớ hẩu lốn gồm tâm thế phải đạo và những mối quan tâm do thị trường chi phối – và điều này có thể đang cản trở sáng tạo nghệ thuật nhiều hơn là sự kiểm duyệt thông thường dưới các chính thể cộng sản cổ điển.
Kể từ khi những người cộng sản lên nắm quyền giữa thập niên 1950 cho đến nhiều năm sau, các lãnh đạo đảng thường nêu rõ những gì được chấp nhận về mặt văn hóa. Não trạng của họ là gia trưởng, độc đoán và đa nghi. Những quan chức trí óc cùn cạn thường bàn luận về mức độ yêu nước nồng nàn của một bài hát hay những sắc đỏ của một bức tranh. Các nghệ sĩ được dự kiến ca tụng quyết tâm của đảng trong cuộc chiến tranh chống Mỹ và miêu tả người dân của nước Việt Nam thống nhất là hòa bình và mãn nguyện.
Trên thực tế, nhiều người Việt Nam đã cực kỳ đau khổ trong những năm sau chiến tranh, phần lớn vì nền kinh tế tập trung được quản lý yếu kém. Vào giữa thập niên 1980, ngay cả Bộ Chính trị cũng đã phải ghi nhận, và họ bắt đầu một chính sách gọi là Đổi Mới. Một số doanh nghiệp tư nhân được cho phép hoạt động. Nông dân có thể tự ấn định sản lượng và giá cả cho các sản phẩm của mình. Đất nước mở cửa cho du lịch. Chính phủ cởi trói về văn hóa: Giờ đây chính phủ thấy có lợi hơn khi để cho nhà văn và họa sĩ miêu tả các vấn đề xã hội mà nhà nước đang tuyên bố là sẽ sửa chữa.
Chính vào thời điểm dễ thở hơn này, năm 1989, lần đầu tiên tôi trở về Việt Nam. (Giống như nhiều người Việt miền Nam, tôi đã ra đi vào cuối cuộc chiến.) Tôi gặp gỡ nhiều nghệ sĩ địa phương, những người háo hức quay lưng lại với chủ nghĩa hiện thực xã hội kiểu Xô-viết. Các họa sĩ ngả theo trừu tượng. Các nhà văn như Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh, và Nguyễn Huy Thiệp không viết tỉ mỉ về những vinh quang của cuộc chiến mà về những kinh hoàng của nó, và về những khó khăn kéo dài trong đời sống của người dân Việt Nam sau chiến tranh.
Tuy nhiên, vào giữa thập niên 1990, một thế hệ lãnh đạo mới quyết định ngưng nghe những chỉ trích, đặc biệt là về những vụ lạm quyền, nạn gia đình trị và tham nhũng. Bộ văn hóa bắt đầu buộc các nghệ sĩ tham dự những “buổi làm việc,” hướng dẫn họ sản xuất ra những hình ảnh tích cực hơn cho Việt Nam. Những kẻ nổi loạn bị trừng phạt.
Một cuộc triển lãm những bức tranh day dứt nhục cảm đồng tính của Trương Tân đã bị dẹp; cũng như tác phẩm sắp đặt của ông về một cái bỉm khổng lồ với các bộ phận hút nước được làm cho giống với những chiếc túi trên đồng phục công an. Lê Quảng Hà và Lê Hồng Thái thực hiện những chân dung chẳng đẹp đẽ gì về các chính trị gia, nhưng ngay cả sau khi họ đã sơn đè lên trên, các hình người mờ nhạt vẫn còn được nhận ra đã khiến cho họ bị nhà cầm quyền khiển trách.
Đến khi tôi chuyển luôn về Việt Nam, năm 2006, nghệ thuật phản kháng xem như đã lụi tàn. Tôi mở một phòng tranh ở Hà Nội tìm kiếm những tác phẩm nghệ thuật ngoài luồng – những tác phẩm nêu nghi vấn về tính đạo đức giả trong những chính sách của đảng, sự đối xử truyền thống đối với phụ nữ, ảnh hưởng ngày càng tăng của đồng tiền. Trong vài năm, công an công khai bám theo tôi ở mọi nơi. Các viên chức hay hỏi tôi về những trí thức mà tôi gặp gỡ; họ hay hỏi các bạn bè nghệ sĩ của tôi về tôi. Tuy nhiên, phòng tranh vẫn được mở cửa, và nó vẫn còn được mở cho đến hôm nay. Đó là bởi nó chỉ phục vụ cho một đối tượng rất nhỏ và không có tham vọng trở thành thương mại.
Việt Nam đã bước vào một thời đại khác nữa trong lịch sử kiểm soát văn hóa của mình. Hãy quên đi những cán bộ đảng tóc chải ngang trán và áo quần đồng bộ nỗ lực bảo vệ cuộc cách mạng chống lại tư tưởng thoái hóa. Những con người bây giờ điều hành các nhà xuất bản của Việt Nam, các liên hoan phim và các chương trình trao đổi văn hóa là những nghệ sĩ – nhiều người trong số họ đã từng bị kiểm duyệt dưới chế độ cộng sản – và họ đã bị cuốn hút bởi những căn hộ liên lập, xe hơi và máy giặt.
Trong thập niên 1990, Đặng Xuân Hòa nổi tiếng nhờ những bức tranh vẽ chậu gốm truyền thống hoặc đồ nội thất bằng gỗ chạm trổ bằng tay đặt lộn ngược hoặc nằm nghiêng ngả; giới phê bình cho rằng tình trạng hỗn loạn trong các tác phẩm ấy đi ngược lại đường lối chuyên tô hồng xã hội của người cộng sản. Hôm nay, bạn bè và đồng nghiệp của ông Hòa thắc mắc về vai trò của ông như là một viên chức của Hội Nghệ sĩ, một cơ quan chuyên kiểm tra các cuộc triển lãm và biểu diễn.
Một nhà văn có những câu chuyện từng bị cấm vì công khai chỉ trích sự thiếu vắng lòng tử tế ở Việt Nam đương đại, nay là một nhà biên tập kịch bản TV và phim trong biên chế nhà nước. Mười năm trước, bà ấy hay phàn nàn về chi phí thực hiện một cuộc gọi di động; giờ đây bà ấy ngồi xe S.U.V. có tài xế lái đi mọi nơi. Những nhà văn khác cho tôi biết bà ấy ký duyệt kịch bản để đổi lấy hối lộ, sử dụng liên hệ của mình với cơ quan nhà nước để vượt qua những hạn chế.
Một chủ phòng tranh kể những quan chức hải quan và những người trung gian viện dẫn những điều cấm kỵ mơ hồ về văn hóa để ngăn cản bà đưa vào trong nước, hoặc gửi ra ngoài, những tác phẩm nghệ thuật không theo quy ước. Tuy nhiên với một món tiền nhất định, họ sẽ cho phép hầu như bất cứ tác phẩm nào đi qua. Trong chế độ cộng sản thời xưa, kỷ luật đảng nghiêm ngặt hạn chế hối lộ. Ngày nay, tham nhũng tràn lan, và kiểm duyệt đã trở thành một cái cớ để tống tiền.
Điều này sinh ra một thói tự kiểm duyệt kỳ lạ. Nghệ sĩ phải chọn hoặc là sản xuất những tác phẩm thương mại, ít gây tranh cãi và chịu chung chi, hoặc cam chịu làm điều mình muốn cho một đối tượng rất nhỏ. Nghệ thuật dòng chính tự làm cho mình ngu đi trong khi những tác phẩm thực sự mang tính thử nghiệm hoặc quan trọng bị đẩy dần ra ngoài lề.
Những nhóm tiên phong hơn – như hãng phim DocLab, nhóm nghệ sĩ Nhà Sàn Studio, trường âm nhạc và nhóm biểu diễn Đom Đóm – bảo vệ hoạt động của mình tránh khỏi sự dòm ngó và vòi vĩnh của các quan chức bằng cách đăng ký như những công ty thiết kế và tổ chức phi lợi nhuận, và làm việc chặt chẽ với các đại sứ quán nước ngoài.
Các nghệ sĩ khác đi nước ngoài. Lại Thị Diệu Hà và Nguyễn Phương Linh, hai nữ họa sĩ trẻ và những nghệ sĩ biểu diễn có tác phẩm tập trung vào quá trình hiện đại hóa, sự chuyển dời và các ẩn ức tình dục, được biết đến ở nước ngoài nhiều hơn ở Việt Nam. Cũng vậy với họa sĩ kiêm nghệ sĩ biểu diễn Trần Lương và họa sĩ kiêm nhạc sĩ thử nghiệm Nguyễn Mạnh Hùng, hai nhà chỉ trích bền bỉ đối với chủ nghĩa cộng sản.
Có một thời, việc đất nước đi theo chủ nghĩa tư bản dường như hứa hẹn nhiều tự do hơn cho sáng tạo nghệ thuật. Nhưng dưới tay những nghệ sĩ kiêm nhà kiểm duyệt mới của Việt Nam, động cơ lợi nhuận đang chứng tỏ còn ngột ngạt hơn cả tuyên truyền chính trị.
Nguồn: Bài “The New Censors of Hanoi” trên trang xã luận của nhật báo The New York Times, 27.04.2014