|
The Long Road Home: |
Đường Về Diệu Vợi: |
A thousand years enslaved by China A hundred years trampled by France Twenty years of civil war day by day Our mother’s inheritance: a forest ofdried bones Our mother’s inheritance: a mountain of endless graves (“Mother’s Inheritance,” Trinh Cong Son)
A Call to Conscience
A Clash of Worlds and Worldviews
Cultural Discontinuities
Self-Recognition and Reconstruction
Cultural Convergences A hundred years trampled by France Twenty years of civil war day by day Our mother’s inheritance: a band of lost children Our mother’s inheritance: a party of ingrates Like a child looking for a night of joy The moon lights up the scar in my heart A life forever bright with a longing that never dies (“I Return,” To Thuy Yen) |
Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu
Trong suốt cuộc chiến tranh Việt-Mỹ (Vietnamese-American War), Trịnh Công Sơn có lẽ là người nhạc sĩ có tiếng nói mạnh, hùng hồn, bền bỉ và thành công nhất trong việc lồng vào những bản nhạc của ông những cảm xúc về những thảm kịch không nói lên được giáng xuống đầu người dân Việt, dù họ cư ngụ ở đâu hoặc thuộc thành phần chính trị nào. Việc thắng trận là mục đích của tất cả các phe tham dự. Rất ít người đã ghi nhận, hay được cho phép ghi nhận, ảnh hưởng chiến tranh đến những người nằm trong các giai cấp thấp nhất của xã hội. Nhạc Trịnh đem lại một sức lôi cuốn đặc biệt đến tất cả mọi người, mọi miền, mọi tầng lớp, từ Bắc đến Nam, từ thành thị đến thôn quê, dù giàu hay nghèo. Và cũng chỉ vì cái sức thu hút mãnh liệt của nhạc Trịnh, ông đã bị mọi đảng phái chính trị kết án. Với mục đích kéo dài cuộc chiến – tất cả các chính trị gia đương thời đều có mục đích này – người ta đã phải cúi mặt làm ngơ trước những biến cố xảy đến người dân, đất nước và nền văn hóa. Trịnh Công Sơn đã không làm thế được. Cuộc chiến nào cũng đòi hỏi con người lựa chọn đứng về một bên. Ở miền Nam, Trịnh Công Sơn và một số văn nghệ sĩ khác luôn luôn đi sát viền ranh giới được phép; tuy nhiên, phần lớn các văn nghệ sĩ miền Nam, dù cố ý hay bị nhu cầu cấp bách của hoàn cảnh – đã phải chọn lựa chỗ đứng. Tại miền Bắc, việc các văn nghệ sĩ phải ủng hộ chính phủ và Đảng trong cuộc chiến chống Mỹ, đó là một điều không được nghi ngờ và cũng không được truy vấn. Năm 1975, khi Việt Nam thống nhất, các văn nghệ sĩ miền Nam, những người đã chọn thế đứng chống đối miền Bắc, và còn bị kẹt lại trong nước, đã bị bắt vào những trại “học tập” để “cải tạo tư tưởng”. Chỉ có một số ít văn nghệ sĩ thích nghi được với đời sống mới dưới chế độ cộng sản. Hầu hết những văn nghệ sĩ này đã bỏ nghề viết, sinh sống bằng đủ thứ nghề. Hàng trăm người đã quyết định liều chết tìm cuộc sống lưu vong, đặt số phận vào cơn sóng gió rủi may của biển. Năm 1979 là năm đánh dấu một giai đoạn phát triển mạnh của nền văn học di dân Việt Nam. Với một con số khổng lồ, những “thuyền nhân” đặt chân lên đất nước Mỹ đã thay đổi đường lối tư duy của các văn nghệ sĩ lưu vong đến xứ này trước khoảng thời gian đó. Trước đó, họ phần lớn viết về nội tâm vì cảm thấy bị cắt lìa khỏi quê hương. Tuy nhiên, qua các văn nghệ sĩ mới vượt thoát này, họ bắt đầu hiểu biết đến những tình trạng tệ hại ở quê nhà. Những văn nghệ sĩ đợt-một, với sự thách thức của các câu chuyện đầy hung bạo, đói khổ, và thiếu tự do; những điều kiện đưa đến sự ra đi hàng loạt của những người đi đợt-hai, thả số mạng cho biển cả, sống sót những cuộc tấn công của thủy phỉ, héo hon chờ đợi trong những trại tỵ nạn; họ đã chuyển năng nỗi cô đơn của họ sang một sứ mạng mới. Họ nghĩ rằng họ là những người duy nhất có thể duy trì một quốc gia Việt Nam mà họ từng sống, từng biết, từng yêu mến, dù chỉ còn trong trí nhớ; và có thể bàn giao lại cho những thế hệ kế tiếp. Điều này đánh thức cái ước muốn một nền văn hóa lưu vong – một nền văn hóa có thể bảo trì và bảo vệ nguồn gốc văn hóa chân chính Việt Nam. Một số tạp chí văn học và thảo luận văn chương bắt đầu xuất hiện trong thời đại này, và trở thành nền móng cho nền văn học lưu vong. Mai Thảo, người đàn anh đầu đàn dẫn đường giới văn nghệ sĩ miền Nam Việt Nam, đặt chân đến Mỹ vào năm 1978. Vào tháng 7 năm 1982, ông ra mắt tờ tạp chí văn học có uy tín đầu tiên của người Việt di cư trên đất Mỹ. Những lời nói của ông trong buổi ra mắt tạp chí đã tả rõ cái nhiệt huyết trong giới văn nghệ vào lúc đó: Đối với tôi, tình yêu tổ quốc và lòng thương cảm những tai ương lớn nhất của nước nhà sẽ luôn luôn là ngọn đuốc huy hoàng dẫn đường sáng cho các hoạt động văn nghệ. Và không có kim chỉ nam nào thay thế được chúng. [1] Giữa các năm 1986 và 1989, các hoạt động văn hóa tha hương nở rộng. Nguyễn Mộng Giác gọi thời kỳ này là thời kỳ văn nghệ hoàng kim. Mãnh liệt nhất lúc đó là ý thức rằng các cộng đồng lưu vong sẽ là các trung tâm chống đối chế độ cộng sản, và là công cụ duy nhất đem lại hy vọng đến cho dân chúng còn sống tại Việt Nam, Nhưng đã có một kẽ nứt trong những nhiệt tâm đó. Tháng 12 năm 1986 là tháng đánh dấu sự khởi đầu của chính sách Đổi Mới của chính phủ Việt Nam. Chính sách này với những chủ ích sửa đổi và nới lỏng việc kiểm duyệt đã phân hóa văn giới hải ngoại. Với niềm tin là chính sách trên chỉ là một cái thủ đoạn bịp bợm, những nhóm bảo thủ quá khích, điển hình là nhóm Làng Văn và những tờ báo công chúng địa phương, lên tiếng kêu gọi mọi người tăng gia cảnh giác. Những nhóm ôn hòa thì hoan nghênh những thay đổi đầy hứa hẹn từ chính sách Đổi Mới, và lựa chọn một thế đứng rộng rãi hơn, với một thái độ chờ đợi. Cái nứt rạn đó đột nhiên trở thành một vấn đề trong thập niên 90. Nó mở rộng ra, đào sâu hố chia rẽ, và cho đến ngày nay vẫn chưa có được sự hòa giải trong văn giới . Trong khi nhóm quá khích, với sự ủng hộ của một loạt văn nghệ sĩ mới đến qua diện H.O, tăng gia các hoạt động chống cộng, thì nhóm ôn hòa lại đi ngược chiều, thiên về những hoạt động hòa giải đối thoại. (H.O là chương trình của chính phủ Mỹ cho phép các quân nhân công chức chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cũ được nhập cư sau khi họ được trả về từ các trung tâm học tập cải tạo). Tháng 10 năm 1991, Khánh Trường, một cựu quân nhân nhảy dù, tổ chức tờ Hợp Lưu, và công bố mục đích ấn hành các sáng tác của tất cả các văn nghệ sĩ, bất kỳ là họ còn ở trong nước hay ở hải ngoại. Chỉ tiêu của Hợp Lưu là hủy bỏ đường lối chia rẽ thù hằn, chủ trương “hợp giòng”, phối hợp những đặc thù nhất của văn hoá với ý thích độc giả. Tháng 6 năm 1992, tạp chí Trăm Con, chủ bút là Trần Sa, với chiều hướng hoạt động tương tự , xuất hiện tại Montreal, Gia nã đại. Cả hai tạp chí trên đều bị Làng Văn kết án là những công cụ tuyên truyền cho Hà nội. Những vết thương sâu chưa lành của cuộc chiến tranh tư tưởng kéo dài, theo đó lại khơi mở rộng vì những vị thế đối lập này. Đôí với một số người, Đổi Mới đưa đến một cơ hội để cộng đồng lưu vong duyệt xét lại thế đứng chống cộng chống chính phủ ở quê nhà; đối với một số người khác, thì nó lại trở thành một điều kiện cần tăng cường thế đứng chống cộng của họ. Những người mới nhập cư xứ Mỹ theo dạng H.O nhanh chóng gia nhập các đoàn thể điạ phương và chủ trương đường lối tuyệt đối không liên hệ với Việt Nam: “không du lịch, không gửi quà giúp đỡ, không hợp tác”. Khánh Trường, Nguyễn Mộng Giác, và Nguyễn Xuân Hoàng, ba người chủ bút của ba tạp chí văn học hàng đầu hải ngoại, có lúc đã bị giới báo chí địa phương lên án là thân cộng. Tháng 10 năm 2000, Hoàng Ngọc Hiến, một nhà phê bình có tiếng tăm và được kính trọng tại Viêt Nam, sống ở Mỹ sáu tháng để tham khảo nền văn chương lưu vong. Nguyễn Huệ Chi, một nhà biên khảo nổi tiếng quốc tế về văn hoá cổ điển và đương đại cũng như triết học Việt Nam, cũng nôí gót sang Mỹ vào tháng 3 năm 2001. Cả hai đã du hành khắp các tiểu bang Mỹ và hội thảo với những văn nghệ sĩ lưu vong nổi tiếng sinh sống tại Texas, District of Columbia, và California. Đấy là những lần đâu tiên mà các văn nghệ sĩ trong và ngoài nước có những cuộc đối thoại thẳng thắn và chân thật. Và họ khám phá rằng họ có những điểm tương đồng, đáng kể nhất là áp lực tuân chỉ. Khi những tạp chí văn học hàng đầu ngoài nước như tờ Văn Học, Hợp Lưu và Tạp Chí Thơ đăng tải những bài viết có giá trị của Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi, phe quá khích tố cáo là cả hai đều là “những cán bộ cao cấp cộng sản” và nhiệm vụ của họ là “viết lại những trang sử của người tỵ nạn”. Chuyến đi Mỹ của họ bị ghép nhãn hiệu là một phần của “mưu đồ cộng sản với chủ đích xâm nhập cộng đồng lưu vong”. Sự đối lập này khơi rõ sự phân hóa sâu đậm của cộng đồng người Việt hải ngoại. Và với Việt Nam mỗi ngày càng hội nhập hơn vào cộng đồng thế giới, phái chống cộng quá khích càng cảm thấy bị de dọa. Mỉa mai thay, họ thấy tất cả mọi việc đều có dính líu với chính trị, và gán cho những người đi khác chỉ tiêu hoạt động của họ là kẻ thù – một nhận thức giống hệt như việc họ phán đoán những ngươì đối lập của họ là đã có lối nhìn thiển cận đó. Một số văn nghệ sĩ lưu vong thì châm biếm gọi cuộc tranh chấp tư tưởng này là một hí trường. Để tìm hiểu và giải thích thêm về tiếng gọi lương tâm thiết tha của Mai Thảo, và sự chống đối dữ dội của phe đối lập, ta phải đi ngược giòng thời gian.
Võ Phiến, một trong những tên tuổi hàng đầu của nhóm các nhà văn miền Nam lưu vong, trong tập Hai Mươi Năm Văn Học Miền Nam, 1954-1975: Tổng Quan, đã lưu ý độc giả đến sự vắng bóng của người nông dân trong các tác phẩm văn học miền Nam trong những thập kỷ đó. Ngoại trừ một ít trường hợp, người nông dân, nếu có xuất hiện như là một nhân vật, chỉ là những hình ảnh mờ nhạt, thiếu chiều sâu. Đây là một khám phá đáng giật mình dựa trên sự kiện 80% dân số Nam Việt Nam là nông dân trong giai đoạn này. Chúng ta làm thế nào để giải thích tình trạng dị thường này? Tại làm sao văn chương của miền Nam Việt Nam có thể phản ánh suy tư và quan tâm của chỉ 20% dân số — những người sống an toàn trong đô thị, cách ly những bom những pháo và những đe dọa thường xuyên của lằn đạn réo? Sài gòn và nhiều thành thị khác của miền Nam vào thời điểm đó [trước 1975] giống như những hòn đảo thanh bình và tiện nghi trong một biển lửa mà chúng [những hòn đảo] ngoảnh mặt làm ngơ. Được bảo vệ bởi lực lượng quân sự Hoa Kỳ và nuôi sống bởi viện trợ hào phóng của Mỹ, những thành phố này mang dáng dấp của những tô giới thượng lưu trong vùng đất nghèo khổ của những đất nước kém mở mang. Phần lớn văn giới thành phố chỉ quan tâm đến những vấn đề thích hợp với một xứ sở không chiến tranh, hoặc ít nhất, không phải chiến đấu cho sự sống còn của mình. Không giống như đồng bào của họ ở thôn quê, sinh mạng của những nhà văn nghệ sĩ này chưa bao giờ bị đe dọa. Họ có thể không chấp nhận cộng sản, vì nó như một ám ảnh trừu tượng, và thực sự, chỉ nhấp nhoáng chạm vào đời sống hằng ngày của họ. Trái lại, tham nhũng của quan chức chính quyền và sự suy đồi của những giá trị văn hóa bởi sự hiện diện của lưc lượng quân sự ngoại quốc khổng lồ thì rõ ràng và cấp bách hơn. Trong nhiều phương diện, tác giả thành thị bị sập bẫy bởi một lịch sử không do chính họ lựa chọn: họ không thể toàn tâm ủng hộ những người tuyên bố đang chiến đấu nhân danh họ [chính quyền Sài Gòn] hoặc họ hoàn toàn cách ly với [chính quyền Sài Gòn]. Họ cũng không thể rời bỏ sự an toàn của đô thị để tham gia lực lượng du kích trong rừng, mà cũng không thể thẳng thừng chối bỏ và lên án những người vào bưng chiến đấu bởi vì không một ai có thể phủ nhận được nhiệt tình, cống hiến, và hy sinh của phía bên kia hay sự đồi trụy của phe họ! Đã bất tuân và cứng đầu từ lâu, chính phủ Nam Việt Nam cho phép họ sáng tác theo một cung cách bất tuân chỉ và hoài nghi, một điều đã vắng bóng ở miền Bắc, và tiếp tục vắng bóng sau năm 1975. Tương phản với những xa hoa chỉ thấy được trong xã hội văn minh – tính bất định như trong nhân vật Hamlet, nỗi tự vấn và hoài nghi hiện sinh – là lòng quyết tâm, như để tự khẳng định, của những người vất vả trên những đồng lúa cặm cụi, sống chui rúc trong địa đạo, mỗi ngày lại phải đương đầu với việc có thể bị bắt giữ hay giết hại, mà không có không lực ngoại bang hay quân đội đồng minh nào sẵn sàng nhảy vào cứu viện. Một tướng lãnh hoặc chính trị gia Nam Việt Nam có thể có một đời sống sang trọng trong một biệt thự Tây, hưởng thụ tất cả những tiện nghi của xã hội tân tiến, kể cả nhiều ‘gia nô’ chạy việc cho ông ta. Trái lại, một tướng lãnh hay chính ủy của lực lượng giải phóng sống trong rừng sâu, trong một túp lều hay dưới địa đạo, và có thể chịu đói khát hàng tháng trời cùng với bộ đội của họ. Ông ta không có những vật dụng, biểu tượng của thế giới thượng đẳng: không TV, không xe hơi, không tin tức về đời sống thượng lưu. Trái tim ông cháy bỏng với một ước muốn duy nhất: giữ gìn sinh mạng thuộc cấp, hoặc ít nhất, làm kéo dài sinh mạng của họ càng lâu càng tốt. Ông trải qua nhiều kinh nghiệm đau thương chứng kiến đơn vị của ông đối diện sự hủy diệt của B-52 rải thảm, bom lửa, pháo hạm, và trọng pháo. Ông tin rằng tất cả những thống khổ của ông và của những người dân quê thân thiết của ông là bắt nguồn từ những người miền Nam Việt Nam và những “quan thầy” Mỹ, những người sinh hoạt thoải mái phía sau những vòng đai an ninh bao quanh các thành phố. Bởi vì lực lượng giải phóng có nhân viên tình báo cài đặt ở những cơ quan cao cấp nhất của chính quyền miền Nam, các tướng lãnh sống trong rừng biết được tư thế tay sai của miền Nam theo một khía cạnh mà hầu hết công dân của ‘nó’ không thể biết được. Người nào biết thì không bao giờ công khai thừa nhận – một thí dụ mỉa mai về câu nói của Lão Tử, ‘kẻ biết thì không nói; kẻ nói thì không biết.’ Sau cuộc chiến, trong giai đoạn từ 1975 đến 1986, khi kinh tế đất nước xuống dốc nặng nề, một sự tuột dốc vô cùng thê thảm cho hầu hết dân miền Nam, đặc biệt là những thị dân. Trái lại, đối với những người đã từng trải qua đói khát và thèm muốn ở trong rừng khi còn chiến tranh, cuộc sống thiếu thốn như thế vẫn đáng ưa hơn những gì họ đã từng trải qua. Do đó, cái kết quả cọ xát không chỉ đơn thuần giữa hai ý thức hệ, nhưng còn là giữa hai thế giới sống hoàn toàn khác biệt, trong đó ngay cả ý nghĩa của ngôn ngữ [đời sống] cũng không đồng nhất. Ở một thế giới, chỉ để được sống trong hòa bình, có cơm ăn (bất kể đơn sơ hoặc không ngon miệng), có áo mặc, không phải nằm trong hầm hố đã là những thành tựu, và là niềm tự do ngọt ngào cho kẻ sống sót. Ở một thế giới kia, những người sống trong tiện nghi trước đó, nay lại bận tâm với sự thất trận, sự mất mát của tự do cá nhân đã họ có được trong đời sống của một xã hội đô thị tân tiến. Với tâm trạng lừng khừng (existential ambivalence), các tác giả miền Nam còn lại trong nước sau 1975 bị xem là những kẻ bất tuân chỉ (nonconformist) và do đó có khả năng trở thành mối đe dọa cho viễn cảnh mới của chế độ xã hội chủ nghĩa (the new socialist vision), một chế độ vốn xem sự dễ bảo là một trong những dấu ấn đặc thù. Nhiều tác giả đã không chạy trốn khi Sài Gòn thất thủ, tin rằng thống nhất sẽ mang lại hòa bình, tha thứ, và ước vọng cùng chung sức xây dựng lại một đất nước rách nát. Hy vọng đó nhanh chóng tan vỡ. Những kinh nghiệm trong trại cải tạo, nơi họ bị đối xử không phải như là những cá nhân bị vướng bẫy thời cuộc mà là bọn phản bội hợp tác với đế quốc, đã để lại một vết thương đau đớn khó phai trong họ.Từ cái giếng sâu của ký ức đắng cay trào lên nền văn chương của người Việt hải ngoại hôm nay, vốn, trong nhiều phương diện, là sự tiếp tục và nối dài của văn học Nam Việt Nam trước 1975.
Sự xung đột văn hóa Việt nam có một lịch sử lâu dài hơn nữa. Nó khởi đầu từ thế kỷ 15, với sự chia cách ngấm ngầm trong văn hóa, đến cuối thế kỷ 19 đã lớn lên một cách đáng kể, và tới cuối thế kỷ 20 đã trở nên rất cụ thể. Ngày nay, dù Việt nam đã thống nhất, với dân số hơn 78 triệu trong nước và hơn 2 triệu tha hương ở ngoại quốc; nhưng thực ra, đang có nhiều “nước Việt nam nhỏ” – về văn hóa, tôn giáo và chính trị – được thành hình, nuôi dưỡng và cách biệt trong thế kỷ trước bởi những lực lượng chính trị khác nhau, cả từ trong và ngoài nước. Sự thành lập những “nước Việt nam nhỏ” này, đầy chia rẽ sâu đậm, bắt nguồn qua ba giai đoạn chính trong tiến trình làm đổ vỡ và gián đoạn văn hóa. Trong The Birth of Vietnam, Keith Taylor định rằng nước Việt nam bắt đầu từ thế kỷ 3 trước Tây lịch. Tuy nhiên, Việt nam trở thành một nước mạnh dưới đời Lý Trần, từ thế kỷ 11 tới 15. Ba cuộc chiến oanh liệt xua đuổi xâm lăng từ Mông cổ, sự đoàn kết nền văn hóa địa phương, tập trung quản trị hành chính, và trên hết, khuyến khích văn chương trổ hoa là di sản từ thời đại này. Đóng vai trò chủ yếu trong những sự kiện này là một giảng dạy độc nhất từ Tam Giáo Đồng Nguyên, thống nhất ba niềm tin Phật, Khổng, Lão với phong tục địa phương. Nhiều nhà trị vì, đã không chỉ là những vua chúa mà còn là những Thiền sư, dẫn dắt quốc gia với lòng độ lượng, vị tha và sáng tạo chưa từng thấy trong lịch sử Việt nam. Sự gián đoạn đầu tiên xảy ra vào đầu thế kỷ 15. Theo mô hình quản trị hành chính Trung quốc, để củng cố quyền hành, triều đại nhà Lê đẩy mạnh Khổng giáo trở thành chủ nghĩa chính cho quốc gia. Những nhà sư Phật giáo, vì không còn được trọng đãi trong triều đình, trở về làng thôn tiếp tục truyền thống giảng dạy với giai cấp nông dân. Vua chúa trị vì với giúp đỡ từ giới quan cấp, trong đó các học giả chỉ được bổ nhiệm sau khi đỗ được những kỳ thi dựa trên Tứ Thư Ngũ Kinh của Khổng giáo. Dần dần, tâm tính trí thức trong nước trở nên trọng giáo điều hơn, và bớt dung thứ. Không khí tự do, tính bao gồm, và sự khoan dung – vốn thịnh hành nhờ ảnh hưởng từ Phật giáo – tan dần, dẫn tới cuộc nội chiến nhà Mạc, Trịnh, Nguyễn từ thế kỷ 16 tới 18. Trong bài luận “Văn hóa như Mô hình Phát Triển”, Nguyễn Huệ Chi miêu tả hai mô hình quản trị trong thời đoạn này của lịch sử Việt nam. Mô hình thứ nhất, triều đại Lý Trần, có tính đa nguyên, tự do thoải mái và dung hợp, trong đó Phật, Khổng, Lão giáo cùng sống chung và đua nở. Mô hình thứ nhì, dưới triều Lê Thánh Tông, độc triết (chỉ có Khổng giáo), độc quyền và phi tự nhiên. Ông ta cho rằng mô hình thứ hai – dẫu đã lớn mạnh được, trong một thời gian ngắn – không thích hợp với nền văn hóa tự nhiên của Việt nam. Ông kết luận rằng “văn hóa Việt nam, trong quá khứ cũng như trong hiện tại, dầu có thể cần thời gian nhưng luôn chắc chắn, sẽ âm thầm gạt bỏ vào rác rưởi những hiện tượng đi trái ngược lại luật lệ của nó.” Tuy nhiên, việc tranh giành giữa hai mô hình quản trị này đã tạo nên giai đoạn đầu cho sự gián đoạn văn hóa. Sự gián đoạn văn hóa thứ nhì bắt đầu từ Hòa Ước Patenotre vào năm 1884, đánh dấu Việt nam mất chủ quyền, khởi đầu cho 80 năm thực dân Pháp. Trong giai đoạn này, mọi nổi dậy từ giới trí thức đều thất bại, bị quân đội Pháp và cộng tác Việt đè nát liên tục và tàn nhẫn. Những thất bại này đưa đến và kéo dài sự thiếu tự tin trong nước về giá trị của gia tài văn hóa Việt nam. Cả Phật giáo và Khổng giáo xem như không thể đưa ra được lời giải đáp cho cuộc khủng hoảng quốc gia này. Khi tiếng Pháp trở thành ngôn ngữ chính thức trong chính quyền thực dân và hệ thống giáo dục, một thế hệ mới của người trẻ Việt nam tìm cách khôi phục lại nền độc lập qua những giảng dạy Tây phương; qua đó, họ đã không còn hi vọng vào tài nguyên từ văn hóa cổ truyền, tạo nên một chia cắt giữa cũ và mới. Qua việc củng cố vị thế của Công giáo, xem nó như một cộng viên tín nhiệm để duy trì chính sách thực dân, Pháp đã tạo nên một quốc gia ngay trong một quốc gia, khiến sự phá vỡ văn hóa trở nên tệ hại hơn nữa. Việc này dẫn đến Phong trào Văn Thân, trong đó Công giáo Việt nam và người Việt nổi loạn, dưới sự lãnh đạo từ giới trí thức, giết hại lẫn nhau. Văn hóa Việt cổ truyền, giáo dục Tây phương, và tín ngưỡng Công giáo trở thành ba hòn đảo khác nhau, với mỗi cách nhìn riêng, cách diễn dịch quá khứ riêng, niềm hi vọng khác nhau về tương lai, và ý niệm ái quốc riêng tư. Họ như ba chiếc tàu trôi qua đêm trên vùng biển trước kia gọi là Việt nam thống nhất. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, cộng sản tin rằng chủ điều của họ là mô hình quản trị duy nhất có thể xóa tan được vết nhơ của 80 năm thực dân. Đầy tự tin và lòng tin tưởng thành thực không gì lay chuyển vào tương lai, giới lãnh đạo cộng sản theo đuổi việc làm suy nhược nền tảng văn hóa cũ, xem nó như một cản trở cho cuộc thăng tiến xã hội, và từ đó nuôi dưỡng sự gián đoạn thứ ba trong lịch sử Việt nam. Theo đúng tình trạng liên hệ quốc tế đương thời, Công giáo và cộng sản trở nên hai đối thủ chống nhau quyết liệt nhất. Hơn hai trăm ngàn giáo dân Công giáo rời Bắc vào Nam, tham dự cuộc chiến chống cộng sản “vô thần”. Chưa bao giờ trong lịch sử VN có một chia rẽ chính trị sâu đậm như thế. Trên phương diện văn hóa, đã không còn một nước VN thống nhất. Nước Việt trở thành một vùng chiến thu nhỏ của, theo lời Samuel Huntington, “xung đột giữa những nền văn minh”. Chiến tranh Việt-Mỹ đào sâu thêm sự chia rẽ này tới một mức độ chưa từng thấy, phô rõ hơn những dị biệt giữa nhiều “nước VN nhỏ” khác. Tâm tính dung hòa, tha thứ và lòng chấp nhận ý kiến bất đồng – theo giảng dạy từ Tam Giáo Đồng Nguyên, thịnh hành dưới thời Lý Trần – bị đánh vỡ mãnh liệt, nuôi dưỡng mầm hạt cho những giáo điều tôn giáo, không dung thứ, và sự chuyên chế. Một nền văn hóa, đã nhiều lần được chuyển hóa sâu đậm, bây giờ đang bị đe dọa dưới nguy cơ có thể đánh mất tự tính mềm dẻo và khả năng tìm thấy vị thế tương đồng. Chúng ta vẫn có thể thấy được hậu quả từ những chuyển hóa về lịch sử và văn hóa này, trong nước VN và trong cộng đồng người Việt tha hương, mặc dầu qua những đường hướng liên hợp mới; tác động từ những tiếp xúc gần đây với thế giới bên ngoài; và sự phục hồi tinh thần tôn giáo, đã phần nào đã xây dựng lại được tính khoan dung và sự hòa hợp trong thời đại Lý Trần.
Tự Kiểm và Tái Thiết Một vài sự kiện xảy ra trong thập niên chín mươi đã khiến cho cộng đồng [người Việt] lưu vong phải tái định lại lập trường một cách nghiêm khắc. Đứng đầu trong những sự kiện này là sự xuất hiện của những tác phẩm có tầm vóc thế giới: thí dụ như, những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp (đặc biệt là Không Có Vua, Tướng Về Hưu, Những Bài Học Nông Thôn), Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh, Những Thiên Đường Mù của Dương Thu Hương, Thiên Sứ của Phạm Thị Hoài, Đường Xa của Nguyễn Duy, và gần đây nhất Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn. Rõ ràng là, có một niềm tin của một số người trong cộng đồng lưu vong không thể còn giữ gìn được nữa: là những tác giả từ Việt Nam đều viết mướn cho Cộng Sản, và văn chương của họ không có gì đáng để chú ý, và cộng đồng Việt Nam hải ngoại là hy vọng duy nhất có thể tiếp tục một nền văn chương Việt Nam xác thực – như Mai Thảo đã từng thiết tha tin tưởng. Sự thật là có một số tác phẩm phê bình sâu sắc về mặt trái của xã hội chủ nghĩa viết bởi những người lớn lên và từng sống dưới chế độ đó, không phải từ cộng đồng Việt Nam lưu vong. Để tóm tắt lại một câu nói phổ biến: những người có kinh nghiệm với xã hội chủ nghĩa qua thập niên sau chiến tranh hoặc những trại cải tạo thì chắc là chỉ biết da ngoài của nó, còn những người lớn lên và đúc thân từ nó thì có thể phát biểu về nó từ cốt tuỷ. Sau khi đọc Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, Lam Chương, một tác giả có tiếng của những mẩu truyện miền Nam, một cựu quân nhân chỉ huy biệt động của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, quyết định là anh sẽ không sáng tác về kinh nghiệm của anh ở trại cải tạo nữa. Sự kiện thứ hai đáng lưu ý khiến cho cộng đồng [người Việt] lưu vong phải tái định lại lập trường là sự thành công và ảnh hưởng của một số tạp chí văn học, nhất là tờ Hợp Lưu của Khánh Trường, tờ Văn Học của Nguyễn Mộng Giác, tờ Văn của Nguyễn Xuân Hoàng, và tạp chí Thơ của Khế Iêm. Những tạp chí này không những đăng sáng tác của những cây viết hải ngoại mà còn đăng sáng tác của các ngòi viết trong nước, một đường lối hoạt động mà phe quá khích chính trị lớn tiếng của cộng đồng [người Việt] hải ngoại lên tiếng kết án là “cộng tác với địch” hay tệ hại hơn “cộng sản giật dây”. Những chủ trương xuất bản của những tạp chí này ngày càng phản ảnh một sự đồng quy mềm dẻo về quan điểm – tuy ở đây không có nghĩa là thống nhất quan điểm. Hợp Lưu và Thơ có một số độc giả đáng kể ở Việt Nam, mặc dù cả hai cũng như hai tạp chí kia không được phép lưu hành. Tờ Hợp Lưu có tiếng là có nhiều bài vở sáng tác sắc sảo và đủ thể loại, còn tạp chí Thơ thì có tiếng về những bài dịch đặc sắc về những lý thuyết văn học và thảo luận phương hướng mới Tây phương, mà văn giới tại Việt Nam ít có cơ hội tìm đọc. Sự gia tăng đều đặn của những quan điểm độc lập và toàn bộ [không riêng biệt] từ trong nước Việt Nam, điển hình là đề nghị của Nguyễn Huệ Chi biên soạn một hợp tuyển văn chương Việt Nam, là một khuynh hướng nhằm bắc cầu qua hố thẳm phân ly giữa các cộng đồng. Ông ta nhận định rằng cả nền văn chương trước-năm-1975 tại Nam Việt Nam và nền văn chương Việt Nam hải ngoại đều thuộc vào nền văn chương nước Việt, điều này không thể chối cãi được, và chúng phải được thẩm định, đánh giá nghiêm trọng và có mặt trong những hợp tuyển tương lai. Đây không phải là một lời đề nghị qua loa, vì với chức vụ là Trưởng Ban Văn Học Cổ Cận Đại kiêm Ủy viên Hội đồng Khoa Học Viện Văn Học, Nguyễn Huệ Chi đã có trách nhiệm soạn thảo một số lớn các bộ sách thuộc tập hợp tuyển văn chương này. Sự gia tăng tiếp xúc giữa cộng đồng hải ngoại và quê hương qua những chuyến về thăm nhà, và quan trọng hơn, những chuyến công du trao đổi văn hoá cũng phụ sức phá vỡ những bức tường chia rẽ do những ký ức dai dẳng và kinh nghiệm đấu tranh tạo ra. Trong lúc đó, thế hệ những người viết trẻ tha hương lại càng không muốn nhắc lại cái hố chia rẽ giữa nước nhà và cộng đồng hải ngoại. Những cây viết như Barbara Tran, Christian Langworthy, Le Thi Diem Thuy, Mong-Lan, Le Bi, Thuong Quan, và Khế Iêm quan tâm đến cái cá tính lưỡng đôi [dual identities] tại Hoa Kỳ hơn là những vấn đề liên quan đến sự gẫy đoạn xã hội và chính trị từ quá khứ. Còn những cầm bút như Đinh Linh, Đỗ Kh. và Nguyễn Quý Đức thì đi xa hơn: họ về viếng thăm Viet Nam lần này qua lần khác, đi tìm cái mối dây mảnh mai nối đến một thế giới mà họ chỉ có thể tưởng tượng đến từ bãi ký ức nay thay mai đổi. Còn có một vấn nạn khác cho những người cầm bút lưu vong là con số gia tăng của các cây viết trẻ như trên, và sự hao hụt các cây viết lão làng ủng hộ chiều hướng phân ly cũ. Nếu các độc giả của họ là những người còn sống ở Việt Nam, họ phải thay đổi để thích ứng với làn sóng thay đổi chính trị đang xảy ra [tại nước nhà]. Như một câu cách ngôn: “kẻ làm chính trị chỉ sống một thời, còn người dân thì sống đời đơì”. Như vậy, dù phe bảo thủ quá khích của cộng đồng [ngươì Việt] hải ngoại chống đối tất cả những cuộc du hành về thăm quê – chủ đích của họ là lật đổ chính quyền hiện tại ở Việt Nam – giới thưởng lãm văn học tương lai không có một dấu tích nào, dù chỉ là dấu chấm nhỏ, trên mặt màn ra-đa chính trị dò đường của họ. Và mỗi khi có một sự trao đổi văn hóa hay tiếp xúc với Việt Nam, dù có liên quan đến văn học văn chương hay không, phe bảo thủ quá khích cần phải biểu dương lực lượng chống đối. Điều đó dẫn đến chiến lược “không-bắt-giữ-tù-binh” (“take-no-prisoner”). Trong cuộc tranh chấp nhân tâm và định hướng của cộng đồng tha hương hải ngoại, phe bảo thủ quá khích muốn bám chặt lấy quá khứ và dẫn nó chạy dài đến tương lai. Họ không nắm rõ được tình hình hoạt động văn học của văn giới trong nước, cũng không rõ hoạt động của những người cầm bút theo phe họ. Đó không phải là một vị thế để xây dựng con đường đưa đến tương lai. Phe ôn hoà trong khi đó đã bỏ lại quá khứ đằng sau, đi tìm một tương lai với chiều hướng mở rộng vòng tay và thử nghiệm. Phần lớn những cầm bút hải ngoại xuất sắc nhất thuộc vào phe ôn hòa; họ am tường các hoạt động văn hoá, từ cả văn chương lưu vong đến những trường phái văn hoá tại Việt Nam. Cái bi kịch ở đây là cộng đồng [ngươì Việt] lưu vong, mặc dù đã sống 25 năm tại một quốc gia văn minh dân chủ tiên tiến nhất trên thế giới, vẫn sống như là một miền Nam Việt Nam thu nhỏ, như một miền Nam Việt Nam cũ với các đảng phái cấu xé tranh dành. Đối với một số ngươì, vết thương chiến tranh vẫn còn sâu đậm và vần còn mới. Những vết thương đó sẽ không hàn gắn được nếu sự thù hằn và sự tranh chấp vẫn gia tăng.
Hội tụ văn hóa Một ngàn năm nô lệ giặc Tầu, Trịnh Công Sơn viết nên những tâm sự đó từ nổi thống khổ cực cùng của dân tộc. Chúng ta đã gây hại đến chính mình, đến dân tộc mình ra sao? Chúng ta nhân danh ai để có những hành động đó? Chúng ta thuộc giống nòi nào khi vội vàng quên đi lối sống của mẹ? Chúng ta thuộc loại hậu nhân nào khi nhắm mắt khước từ di sản văn hóa của quá khứ, gia tài quý báu nhất của mẹ? Ca từ không là lời kết án mà là hiện thân của nỗi đau khổ và sự buồn bã. Chúng là tiếng gọi thức tỉnh nhận thức cá nhân, để hiểu rõ những điều chúng ta đã làm, đã cách ly bao nhiêu khoảng cách từ cội nguồn di sản văn hoá của chúng ta. Trên một phương diện nào đó, chúng ta rất may mắn khi có được những dòng chữ này vì chúng đại điện cho nỗi đam mê sâu khắc của nền văn hóa bảo vệ cuộc sống và lòng trắc ẩn – bênh vực cho kẻ yếu. Trận chiến chính trị chắc sẽ phải xảy ra, các nhà tư tưởng sẽ vẫn tranh luận; nhưng ta phải ghi nhận cái giá khủng khiếp phải trả, cái giá kiêu hãnh tự đắc sẽ mất trong cuộc giao tranh. Ca từ của Trịnh Công Sơn mọc lên từ đất, chảy dồn dập như sóng phủ sóng trên những cánh đồng xa, tạo một vùng xúc cảm mãnh liệt lật đổ tất cả những cuộc tranh luận, trừ những cuộc đấu tranh nào khuyến khích việc xoa dịu nỗi đau to tát của chúng ta, một điều cần thiết. Hai mươi lăm năm sau hồi kết thúc chiến tranh Việt-Mỹ, Việt Nam đang có những dấu hiệu hồi sinh văn hóa. Phần lớn những người am tường tình hình chính trị hiểu rằng thuyết xã hội chủ nghĩa đã thất bại, và xã hội chủ nghĩa đã không thể tạo dựng nên cái mới mà con người thiết tha mong đợi. Không phải là đảng viên, mà chính những người đã bỏ xứ ra đi hoặc đứng ngoài cuộc đưa ra những phân tích xã hội sắc bén nhất. Truyền thống can cường không nao núng trước hiện thực được minh họa, khởi đầu bởi các thiền sư cao tuổi và các đấng học giả; tiếp theo bởi các đảng viên cộng sản trong hai cuộc chiến Đông Đương, giờ đây nối tiếp bởi những kẻ từng theo đảng cộng sản và các vị lãnh đạo tôn giáo. Sẵn sàng hy sinh, họ cố gắng sống thật với di sản của đất nước; một nền văn hóa cổ xưa, đậm nét nhân đạo. Họ đã trở thành kẻ bị ruồng bỏ bởi chính đất nước mình. Điều đáng chú ý là trong lúc Việt Nam đang có những bước tiến mạnh về tiêu chuẩn mức sống của người dân, một số vấn đề mà các tác giả miền nam sáng tác trước 1975 quan tâm đến – cái nôi của chủ nghĩa cá nhân, căn nguyên bản thể chính quyền – và những vấn đề tương tự lại tái hiện. Về điểm này, khi trường thiên tiểu thuyết Sông Côn Mùa Lũ của nhà văn Nguyễn Mộng Giác được phép tái xuất bản tại Việt Nam, nhiều người đọc nó bằng sự cảm kích thầm lặng. Tác phẩm Hồ Quý Ly, xuất bản vào năm 2000, cũng đề cập đến những trăn trở tương tự. Cùng vào thời điểm đó, các tác giả Việt Nam lưu vong cũng đã tạo dựng được một chỗ đứng ở quê hương thứ hai. Khi đã ổn định sinh kế căn bản, họ bắt đầu phải đối diện những ưu tư về than phận và mức độ thuần chất của văn hóa có thể đạt đến hoặc có thể chấp nhận được. Một trong những đặc điểm của văn chương miền nam trước 1975, nối dài với văn chương hải ngoại ngày nay, là sự tìm kiếm tâm linh: nỗi bâng khuâng về nhân sinh quan không những chỉ về thế giới này mà còn đi xa hơn nữa. Đặc điểm đó được thể hiện rõ nét qua việc mỗi năm, tác giả hải ngoại đã lần lượt in vài chục tác phẩm khá phổ biến về Phật Giáo, Đạo Giáo, Khổng Giáo, đời sống tâm linh, tu dưỡng bản thân, và thế giới huyền bí tại các nước như Hoa Kỳ, Pháp, và Úc. Trong nền văn học xã hội chủ nghĩa từ 1945 đến 1987, đặc điểm này rõ ràng thiếu vắng, vì tác giả chỉ lưu tâm đến thế giới vật chất; mọi thứ khác đều là những giấc mộng ban ngày vô bổ, nếu không bị thẳng thừng cho là mê tín dị đoan. Nhưng thời nay, chúng ta thấy hàng trăm ngàn tác phẩm triết lý truyền thống được công chúng đón nhận nồng nhiệt đã được xuất bản tại Việt Nam. Tập một của Thơ Văn Lý Trần, một tác phẩm hơn hai ngàn trang, xuất hiện vào năm 1977, đã tiếp phần đóng góp vào sự phục hưng này. Sự quan tâm chú ý đến góc cạnh tâm linh, và hơn thế nữa, vai trò thích đáng của chính phủ, chính trị, cộng đồng, và tư tưởng là những dòng suối, những cơn nước xoáy ngày càng rộng lớn dẫn nhập vào đại đương. Trong bản tuyên ngôn của Hợp Lưu, Khánh Trường đã dự đoán trước đến sự hòa nhập của hai giòng chảy. Đó là sự khởi đầu của một hành trình mới: một mặt là công trình tái xây dựng xã hội và mặt khác là sự thừa nhận bản thân; cả hai đều góp phần tạo nên khái niệm có thật về một tương lai chưa được khai phá. Những người dân nước Việt dù đang sống nơi tha hương hay tại quê nhà, đều mong ước một Việt Nam thanh bình, đoàn kết, dân chủ, và giàu mạnh – điều mà họ xứng đáng được hưởng sau biết bao xung đột của thế kỷ trước. Một nền văn học trọng đại, chân chính và nhiệt thành chỉ có thể nảy sinh từ một tinh thần kiên định không vướng hận thù và ảo tưởng về quá khứ hay tương lai. Ta về như giấc mơ thần bí
Chú thích: [1] Những lời này của nhà văn Mai Thảo được dịch từ bài tiểu luận của ông Nguyễn Bá Chung nên có lẽ không đúng hẳn với lời Mai Thảo phát biểu. Bạn đọc nào có biết được lời phát biểu này ở đâu, xin trích dẫn và cho BBT damau biết. Thành thật cám ơn.
|