Home » Biên Khảo, Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 22, Translations, , To Vietnamese Email bài này

Cái giá xứng đáng để bõ công – Ayaan Hirsi Ali

0 comment ♦ 20.01.2007

Nguyễn đức Nguyên chuyển ngữ


“Tôi phải trả cái giá của sự sợ hãi. Nhưng giá ấy đã rất đáng bõ công” – Ayaan Hirsi Ali*

Vào một buổi sáng tháng 11 năm 2004, một buổi sáng mát lạnh, như lệ thường, Theo Van Gogh cỡi chiếc xe đạp dọc theo con đường Linnaeusstratt ở thành phố Amsterdam. Ông không biết là có một thanh niên người Morroco tên là Muhammad Bouyeri, núp sẵn bên đường, thủ một khẩu súng và hai con dao đồ tể. Khi thấy ông đạp xe qua, gã lẳng lặng móc súng, bước xuống đường, bắn vào người Van Gogh. Ngã xuống đất, Van Gogh nhìn lên và nói với Bouyeri khi thấy gã bước đến gần: “Có thể nào mình nói chuyện được không?”

Không. Bouyeri bắn thêm bốn phát súng, rồi lấy một con dao đồ tể mang sẵn đâm vào cuống họng Van Gogh. Ngừng lại một chút, với con dao thứ hai, gã đâm thẳng vào ngực, cùng lúc gắn vào ngực ông một lá thư dài 5 trang giấy.

Lá thư ấy có tên người nhận là Ayaan Hirsi Ali.

Hai tháng trước đó, Van Gogh và Hirsi Ali, một người di dân gốc Somali, cùng nhau thực hiện mộc cuốn phim truyền hình phúng dụ mang tựa đề, Submission (Phục Tòng), mà đề tài chính là những nỗi bất hạnh của người phụ hữ Hồi. Trong cuốn phim đó, cả hai đã dùng chính thân thể của họ làm trang giấy để ghi chép lại những lời trong cuốn kinh Koran. Một số người Hồi không chịu được hành động khiêu khích này; đây lại không phải là lần đầu tiên; trước đó Hirsi Ali đã có những hành động tương tự. Đó là một điều phạm giới. Cả hai phải chết.

Các biến cố ngày Van Gogh bị giết công khai, và cuộc xử án theo sau, đã gây rúng động trong và ngoài xứ Hà Lan. Một năm trước, Hirsi Ali, bấy giờ là một dân biểu quốc hội, là trọng tâm một cuộc tranh cãi làm gẫy đổ chính quyền Hà Lan đương nhiệm. Cô bị tước quyền công dân, lý do là đã ghi tên giả và ngày sinh giả trong tờ đơn nộp xin nhập quốc tịch. Cô ta bị trục xuất gia cư, và phải sống dưới sự bảo vệ an ninh của cảnh sát 24 giờ một ngày. Và sau một cuộc tranh luận trên truyền hình, với hàng triệu khán giả theo dõi, dân chúng đã mất lòng tin vào chính phủ Hà Lan đương nhiệm.

Đến lúc ấy, Hirsi Ali đã rời khỏi Hà Lan. Trong một cuộc phỏng vấn viễn liên tới thành phố mới mà cô đang cư ngụ, Washington DC, tôi hỏi chứ cô có còn sống trong vòng bảo vệ của cảnh sát hay không?

“Vẫn còn chứ”.

Còn án lệnh tử hình fatwa, cô có còn bị đe dọa bởi án lệnh đó không?

“Tôi nghĩ rằng rất có nhiều nguời Hồi Giáo cấp khích tin rằng, nếu giết được một người bội giáo như tôi, đó sẽ là một giấy vé đưa họ đến thiên đàng”

Như vậy thì cô đã phải trả một giá quá đắt cho niềm tin của cô?

“Phải. Cái giá sợ hãi (the price of fear) là cái giá tôi phải trả. Tôi còn trả một giá nữa là phải sống dưới sự bảo vệ an ninh của cảnh sát. Nhưng điều tôi làm vẫn đáng làm, đáng bõ công”.

Văn sĩ và ký giả nổi danh Ian Buruma, một cư dân nói thạo tiếng Hà Lan, trong cuốn sách Murder in Amsterdam (Giết Người Ở Amsterdam), có lời mô tả người phụ nữ trọng tâm trong cuộc tranh cãi này như sau: “Không một ai đã thấy hay đã nghe Ayaan Hirsi Ali lại có thể lãnh đạm dửng dưng với cô ta”. Tuy nhiên, không hẳn là tất cả những lời Kuruma mô tả cô hoàn toàn là những lời đẹp. Với một giọng không bằng lòng, cô nói: “Ông ta mô tả tôi như là một người tôn-giáo-chính-thống-thấy-đường-sáng (enlightenment fundamentalist).

Hirsi Ali là một người phụ nữ đẹp xinh xắn, nhưng không toàn hảo. Trong cuốn hồi ký Infidel (Người Dị Giáo), cô đã không ngần ngừ khi kể lại những chi tiết việc cô bị cắt cắt âm vật để “tinh khiết” hơn.*

Vài năm sau đó, sau khi người em gái của cô, Haweya, cũng chịu chung số phận, cô viết “Haweya sau đó không còn như xưa. Em trở nên bệnh hoạn …ngủ không yên giấc vì mơ thấy nhiều ác mộng. Người em gái nhỏ bé trẻ trung vui tươi của tôi đã biến đổi hẳn.”

Ayaan Hirsi Magan (cô đổi tên họ thành Ali) sinh ngày 13 tháng 11, năm 1969 tại Mogadishu, Somalia. Cha cô là Hirsi Magan, một người tương đối có học trong một thị tộc ưu tú. Chínhông coi cái thủ tục cắt cắt âm vật là một việc man rợ, nhưng ông đang ở tù lúc chuyện đó xảy ra. Trong suốt diễn trình rối loạn chính trị không ngừng của Somalia, ông thường bị giam hoặc bị buộc xa quê hương.

Khi cô lên tám tuổi, gia đình cô dọn sang sinh sống tại Saudi Arabia, một xứ cô rất ghét. “Xã hội nơi đó như bị đóng khuôn từ thời Trung cổ… Một số phụ nữ Saudi sống trong khu xóm tôi ở, bị chồng họ đánh đập thường trực … Dân ở đây cho rằng bất kỳ điều gì không tốt đều là do người Do Thái gây nên … Chúng tôi chỉ được học tiếng Ả Rập, toán và kinh Koran. Chỉ chuyện học kinh Koran là đã chiếm đến bốn phần năm các giờ học… Ngay cả người thầy dạy học tôi cũng gọi tôi là ‘Aswad Abda’ – ‘đứa bé gái nô lệ da đen’. Tôi ghét cái xứ Á Rập Saudi đó.”

Sau khi cha cô bị tống xuất khỏi nước sang Kenya, một xứ mà phần lớn dân chúng theo Thiên Chúa Giáo, nơi mà hầu hết mọi tôn giáo đều được thảnh thơi truyền bá, cô học thêm Anh ngữ. Tại đây, cô cũng thông tri những nghi vấn về nội dung của kinh Koran. Tại sao người phụ nữ phải luôn luôn phục tòng người chổng. Tại sao người đàn bà chỉ có giá trị bằng nửa người đàn ông. Tại sao phải chủ trương giết người dị giáo?

Khi cô lên 21 tuổi, và còn sống tại Somalia, cô phải lòng thương một thanh niên đẹp trai sùng bái đạo Hồi: “Câu chuyện thật giản dị. Cái ham muốn anh ta ngự trị tôi. Chỉ có vậy thôi, một cơn bão hoóc-môn. Tôi đồng ý lấy anh ấy để chúng tôi có thể ngủ với nhau. Cái chuyện bị cắt thiến đâu có thể làm giảm được cái ham muốn tình dục của con người hay cái khả năng làm tình để có lạc thú.… Lúc ấy tôi hoàn toàn không chuẩn bị để đối phó với cái sức mạnh thúc đẩy lòng ham muốn Mahmud của tôi.”

Họ làm đám cưới. Chuyện chăn gối của hai người rất thử thách vì những vết thẹo lần cắt bỏ âm vật. Sự phục tòng do đó trở nên khó khăn; cuộc hôn nhân thất bại, đưa đến cuộc ly dị.

Cái việc xảy đến sau đó còn tệ hơn nữa. Cha cô dàn xếp để cô cưới một người Somali đã định cư ở Canada, một xứ được coi như là một nơi giải thoát và biểu tượng cho sự thành công. Cô nói về khúc đời này như sau: “Người tôi lấy lúc đó là một người ngu. Anh ta đần độn, cổ hủ, mù quáng, một người cuồng-tín Hồi giáo đúng nghĩa … Tôi trở nên lạnh nhạt hoàn toàn … Mẹ tôi còn chửi tôi nào là một đứa con gái bẩn thỉu, nào là một con người đạo đức giả, nào là tôi phá hoại danh dự của gia đình.”

Dùng chiếu khán du ngoạn, Hirsi Ali bỏ sang Đức sống với một người bạn. Ngày thứ Sáu, 24 tháng 7, năm 1992, một ngày trọng đại trong đời, Ali lấy tàu hỏa sang Hà Lan, nơi mà luật tỵ nạn tương đối lỏng lẻo. Lúc ấy cô mới 23 tuổi. Âu châu lúc đó đã tạo trong lòng cô một ấn tượng lớn: “[Tôi thấy] Phụ nữ để da trần – hầu như lõa thể. Chân họ, nguyên cánh tay, mặt mũi, tóc tai, đôi vai hầu như hoàn toàn để lộ, không có gì che phủ… Đàn ông, đàn bà ngồi nói chuyện với nhau một cách thân mật, như thể là họ bình đẳng … Dường như không có một sự khống chế xã hội nào. Những đôi mắt, chúng không có tia nhìn im lặng chỉ trích rằng tôi là một con điếm bẩn thỉu…. Tôi chợt nhận thức là một đời sống như thế không ngoài tầm tay với.”

Hirsi Ali, tuy nhiên, nhận thấy là hầu hết những người Somali di cư đến đây đã mang theo cái nếp sống cũ của họ. “Họ không cố gắng hội nhập vào xã hội Hà Lan … Phản ứng tự nhiên của họ là tạo nên một giả tưởng là họ giỏi hơn, nhìn xa biết rộng hơn về mọi thứ, hơn hẳn những tên da trắng thấp kém … Rồi họ lại luôn luôn biện luận rằng họ không tiến triển được chỉ vì cái gọi là sự kỳ thị chủng tộc … Đi trên đường, còn các thanh niên Somali liên tục ngỏ lời khiếm nhã như là họ có nắm một quyền sở hữu con người tôi. Họ dùng những cử chỉ tục tĩu; dưới con mắt họ, tôi rõ ràng là một người không đạo đức, dễ dãi trong chuyện dục tình.”

Rất thông minh và với một ý chí mạnh, cô gắng học để thoát khỏi nơi tạm trú cho người di dân. Cô đi học đại học, có việc làm là một thông dịch viên, một công việc giúp cho cô thấy rõ cái bề trái hung bạo của cộng đồng người Hồi di dân. Cái bề trái này đưa đến cho cô một kết luận là chính sách đa văn hóa của chính phủ Hà Lan đã đem lại một số hậu quả đầy bất công, không lường trước. “ Cái chính sách đó đã tước bỏ nhiều phụ nừ và trẻ em rất nhiều quyền lợi. Chính phủ Hà Lan đã cố gắng khoan dung để đạt đến sự nhất trí hòa giải, nhưng cái hòa giải đạt được không có bề sâu… Có rất nhiều người Hồi không thèm học tiếng Hà Lan, họ thẳng tay phác bỏ những giá trị căn bản con người xứ này là sự rộng lượng và quyền tự do cá nhân. Họ chỉ lập gia đình với những người quen biết thân thuộc từ những làng mạc quê hương cũ của họ và sống quây quần với nhau, ngay tại nước Hà Lan, trong những bong bóng xã hội nhỏ như ở Marocco hay Mogadishu.”

Sau đó, Hirsi Ali tốt nghiệp đại học Leiden, một trường đại học có tiếng tại Hà Lan. Cô có một người bạn trai người Hà tên Marco, gia nhập đảng Lao Động, và từ bỏ cái tôn giáo từ ngày bẩm sinh. Cô nói: “Tôi cảm thấy mình làm đúng, không có gì là đau đớn cả”.

Tháng ba, năm 2002, Pim Fortuyn, một nhà chính trị vô danh, thắng cử lớn trong một cuộc bầu cử địa phương tại thành phố Rotterdam, một hải cảng Hà Lan, một thành phố đang trên đà biến thể thành một thành phố Hồi. Cuộc vận động của ông về sự thất bại của chính sách đa văn hóa Hà Lan và vấn đề hội nhập người Hồi đã khiến ông ta trở thành một chính trị gia được quần chúng ái mộ nhất nước. Hai năm sau, khi đảng phái ông đang thắng thế trong một cuộc bầu cử quốc hội, một người da trắng Hà Lan, một người cuồng tín về vấn đề bảo vệ quyền lợi thú vật, ám sát ông. Tuy bị mất người lãnh đạo, đảng của ông thắng cử lớn, đánh bại chính phủ Lao Động đương thời.

Trên những làn sóng chính trị đầy sôi nổi đó, Hirsi Ali trở nên nổi tiếng vì cô chịu khó xuất hiện trên truyền hình chỉ trích những người theo đạo Hồi và cả chính đạo Hồi. Một đảng chính trị bảo thủ mang tên People’s Party for Freedom and Democracy (Đảng Nhân Dân cho Tự Do và Dân Chủ) mời cô gia nhập đảng và ra ứng cử quốc hội cho đảng. Về chuyện này, Ian Buruma viết là người ta hân hoan chào đón cô ngày gia nhập đảng “như là một Nữ Thần Tự Do còn sống biết đi”.

Trong cuộc bầu cử quốc hội năm 2004, cô thắng cử. Chẳng bao lâu sau, cô thẳng thắng tố cáo những vụ “sát nhân vì danh dự gia đình” (honour killings) tại Hà Lan, số lượng có thể lên đến hàng trăm vụ. Cô nổi danh và trở thành một nguồn tin giật gân cho giới thông tin báo chí. Khi cuốn phim Phục Tòng được trình chiếu, cô phải thoát chạy, phải nhờ cảnh sát bảo vệ, họ chuyển cô từ nhà này sang nhà khác; cuối cùng cô cư ngụ tại một căn cứ không quân.

Tháng 5 năm 2006, cô bị tước quyền công dân và bị tống xuất khỏi căn hộ gia cư tại the Hague, sau khi bị làng xóm truy tố rằng sự an ninh của họ bị hăm dọa chỉ vì sự có mặt của cô. Khi được the American Enterprise Institute, mời sang làm việc, cô từ chức khỏi quốc hội Hà Lan vào cuối năm và khởi sự viết cuốn sách đời cô.

Kết quả là cuốn Người Dị Giáo. Trong lời đề bạt in trên bìa sau cuốn sách, văn sĩ Salman Rushdie, một người có lẽ biết nhiều về án lệnh Hồi fatwa hơn ai hết, viết những lời như sau: “Cuốn sách này là một cuốn sách rất quan trọng vô lường … Cuốn sách cần được đọc bởi đọc giả mọi tầng lớp, vì nó nói lên sự thật – một sự thật bực bội, không dễ chịu, không đóng vẹc ni…”

* Nguyên bản: Paul Shehan, ‘I pay a price of fear. But it has been worth all’, Sydney Morning Herald (Úc) ngày 3-4 tháng 2, 2007. Nguyễn đức Nguyên chuyển ngữ. 

Comments


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

@2006-2025 damau.org ♦ Da Màu Magazine
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)