Tôi chép lại lần nữa bài Trên vỉa hè Sài gòn trước khi chuyển sang bàn về nội dung và tôi sẽ tập trung bàn về tính trí tuệ trong thơ. Tuy nhiên khác với Phần Một, tại Phần Hai này tôi sẽ đánh số thứ tự từng dòng.
Trên vỉa hè Sài gòn
tặng Nguyễn Văn Trị, Nguyễn Đặng Mừng
1 Ba lần ánh mắt gặp nhau
2 Từ bàn bên kia
3 Một lần ngẫu nhiên
4 Một lần dò hỏi
5 Một lần ngạc nhiên
6 Ba lần ánh mắt gặp nhau
7 Ba lần ngã đầu lên
8 Hòn đá trên đường.
Tác giả có vẻ tình cờ gặp một người ở một nơi nào đó, chẳng hạn trong một tiệm ăn; người này không ngồi cùng bàn với tác giả (dòng 1, dòng 2). Và cũng tình cờ tác giả đưa mắt nhìn người ấy (dòng 3). Thấy ngờ ngợ, quen quen (dòng 4). Rồi lấy làm lạ khi nhận ra người cũ (dòng 5). Như vậy là có ba lần nhìn nhau (dòng 6). Và cũng có thêm ba lần nữa, nhưng là ba lần ngã đầu lên hòn đá trên đường (dòng 7, dòng 8).
Trong số những phản hồi liên quan đến bài Trên vỉa hè Sài gòn, có độc giả cho rằng thơ Nguyễn Đức Tùng là thơ trí tuệ. Rất tiếc vị độc giả quá kiệm lời nên không chỉ giúp người khác chất trí tuệ nằm ở đâu, chất trí tuệ như thế nào. Bởi vì đọc một bài thơ trí tuệ rất mất công và tốn sức.
Trong cuốn Thi nhân Việt Nam, hai tác giả Hoài Thanh – Hoài Chân giới thiệu một số thi nhân theo một bố cục trình bày khá thống nhất. Đối với mỗi nhà thơ có phần tiểu sử sơ lược, phần bình luận của nhị vị soạn giả và cuối cùng là phần chọn lựa thi phẩm. Riêng đối với Đoàn Phú Tứ cung cách giới thiệu phá bỏ lệ thường vì sau các phần quen thuộc là tiểu sử, phán xét về thơ và trích tuyển thơ; Hoài Thanh – Hoài Chân đã trình bày thêm một phần Chú và một phần Bình. Hai phần này hiện diện do nhu cầu giải thích tính trí tuệ của bài Hương thời gian. Chưa hết. Đúng nửa thế kỷ sau, tác giả Nguyễn Lương Ngọc cho biết thêm chi tiết về trường hợp cưu mang và sáng tác bài thơ Hương thời gian : “Khi bài thơ này (bài Hương thời gian, TVT chú) được công bố, anh Hoài Thanh, tác giả của quyển Thi nhân Việt Nam có viết thư hỏi anh Đoàn Phú Tứ về ý tứ bài thơ này. Anh Tứ có trả lời. Anh Hoài Thanh đã cho đăng đoạn trả lời này trong tác phẩm của anh. Song vẫn chưa rõ hết ẩn ý của bài “Màu thời gian“. Ngày ấy, tôi có đi học ký xướng âm ở “Nhạc viện“ (cũng ở nhạc viện bây giờ). Tôi cùng học với một thiếu nữ con nhà sang, người mềm mại, mặt đẹp, đặc biệt nàng có đôi mắt bồ câu. Tôi đã nói chuyện với anh Tứ về sự hội ngộ này. Và chúng tôi thường đạp xe lên Hồ Tây nghe nàng dạo đàn. Đuợc ít lâu sau, chúng tôi nghe tin nàng ốm nặng. Anh Tứ bạo dạn xin được vào thăm. Không biết ý tứ ra sao mà nàng khước từ. Anh Tứ liền nghĩ đến điển xưa, có một nàng cung phi đã từ chối không tiếp “quân vương“, có lẽ không muốn để lại trong con mắt của quân vương hình ảnh tàn tạ của mình. Điển cố này đã làm nảy tứ thơ.
Người xưa, làm nghĩ đến người nay,
Người nay, xử sự như người xưa.
Cho nên màu thời gian không xanh màu
xanh bình nhật,mà màu thời gian
tím ngát, bất thường. Cho nên hương
thời gian chỉ thanh thanh thôi,
thoang thoảng, xa vời, trong trắng.”1
Nhờ văn cảnh gián tiếp, chúng ta có thêm dữ kiện bổ túc cho phần Chú và phần Bình trong Thi nhân Việt Nam, giải thích rành mạch hơn tình trạng “Không ai ngờ một cái đầu đề có tính cách triết học như thế lại dùng để nói một câu chuyện tâm tình.” (Thi nhân Việt Nam. trang 112). Thi nhân Việt Nam không quá khó kiếm trên thị trường nên tôi xin miễn ghi thêm các chú thích liên quan đến tính trí tuệ của thi phẩm.
Tính trí tuệ của văn chương nhiều khi tùy thuộc vào ngôn ngữ. Chẳng hạn verset sau đây trích từ Exil (Lưu vong) của Saint John Perse : Au pur vélin rayé d’une amorce divine, vous nous direz, ô Pluies! Quelle langue nouvelle sollicitait pour vous la grande onciale de feu vert. Chữ verset thường dùng để chỉ các tiết trong Thánh kinh. Trong Thế chiến II, Saint John Perse sống lưu vong ở Anh, Mỹ, bị chính phủ Pétain tước quốc tịch, năm 1959 mới trở về Pháp, cho nên có tác phẩm Exil. Tôi chủ trương không cố gắng dịch câu văn này; chỉ xin lưu ý các từ vélin (giấy lụa gió), langue (ngôn ngữ), onciale (đại tự) nhằm mô tả hình tượng bản thảo thi ca; bố trí chéo nhau với hai ý tưởng : (1) xem ngôn từ như có nguồn gốc siêu nhiên : divine (huyền diệu), nouvelle (mới mẻ), feu vert (đèn xanh); và (2) xem cơn mưa giăng mắc (ô Pluies! Pluies viết hoa) như những dòng chữ trải dài…2
Valéry đề cao trí tuệ và lý trí, chủ trương poésie pure hay đúng hơn poésie absolue (thơ thuần túy, thơ tuyệt đối). Mục đích thơ là dùng ngôn ngữ riêng của thơ – un langage dans le langage, một ngôn ngữ trong ngôn ngữ – nhưng không phải để phản ảnh trực tiếp những tình cảm và xúc cảm mà để diễn tả tổng hợp những cái đó và cả tâm hồn, trí tuệ qua những bước đi của tư duy, phân tích diễn biến của tư duy trong sáng tạo. Thơ phải gây phản hưởng để đưa hồn thơ vào vũ trụ thi ca. Cho nên thơ Valéry rất súc tích, sử dụng vần điệu, thể loại, thủ pháp khó nhất, mài giũa từng chữ, tìm âm hưởng rất công phu, hình thức rất cổ điển, tạo cho thơ tác dụng “phù phép” đối với người đọc. Bài Le cimetière marin (Nghĩa địa bên biển cả) tả biển, tả sự biến động của biển và người, tả sống và chết, tả hư vô, tả ánh sáng, tả bóng tối qua những cảm giác và hình tượng khêu gợi mạnh mẽ có đối tượng là bãi tha ma ở Sète, nơi thi nhân đang yên nghỉ cùng thân quyến. Câu mở đầu chẳng hạn Ce toit tranquille, où marchent des colombes (Trên mái lặng đàn bồ câu nhẹ bước) trình bày “mái lặng” là hình tượng biển cả yên sóng, “đàn bồ câu” là các cánh buồm trắng. Colombe lại mang ngữ thái thi vị. Hơn nữa, bài thơ có lời đề từ nguyên văn tiếng Hy lạp mượn của Pindare đẫm chất tư tưởng triết học.
Valéry vốn chịu ảnh hưởng của Mallarmé. Mallarmé chủ trương thơ phải tạo ra một ngôn ngữ cô đọng, có nhạc điệu như một thứ phù chú, gợi được bản thể của đồ vật và hiện tượng. Chết không phải là hết vì thơ kết tinh được bản chất ấy nên còn sống mãi. Do đó nhà thơ phải qua một quá trình trừu tượng hoá, phải trải nghiệm một sự tu luyện khắc khổ của trí tuệ. Kết quả là thơ Mallarmé tối nghĩa, đóng kín (hermétique), chỉ dành cho một thiểu số (accessible aux seuls initiés). Chất trí tuệ trong thơ Mallarmé đạt đỉnh điểm khi thi sĩ bố trí từ ngữ theo ái lực nhạc học của chúng, khi nhà thơ khai thác tài tình khả năng khêu gợi của các âm. Trong sonnet Ses purs ongles très hauts…các vần ix, yx, và ixe góp công tạo thành một bầu khí quyển kỳ lạ. Le sonnet du cygne nổi tiếng vì hoà âm các chữ i. Khúc nhạc của giông tố do sự vận động thông thái của các âm vị a, b, l (A la nue…) ký chú. Kết quả : có nhà lý luận văn học chuyên tâm bình thơ Mallarmé qua chú giải từ khía cạnh trí tuệ (Mme E. Noulet.- Vingt poèmes de Mallarmé. Hai mươi bài thơ của Mallarmé).
Thơ Hàn Mạc Tử cũng “khúc-mắt” (Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam). Cho nên đích thân tác giả phải chú thích cho người đọc hiểu ý thơ. Chẳng hạn câu Ngửa trông cao, cầu nguyện trắng không gian được chính nhà thơ giảng là : ”Ý nói cầu-nguyện rất sốt-sắng cảm-động được màu sắc của không-gian, biến từ sắc xám hay đen ra trắng; hoặc nói cầu-nguyện từ đầu hôm tới sáng bạch.” Chữ chàng trong Chàng ơi! Chàng ơi, sự lạ đêm qua! không phải là chàng của thiếp, mà chàng đây là thi sĩ. Những câu nguyên chú như vậy cung cấp dữ kiện quí giá để giải toả các thắc mắc do ngôn ngữ trí tuệ của thơ gây nên.
Thơ Bùi Giáng có những câu tài hoa diễm lệ :
Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa
có những câu tinh quái ranh mãnh :
Bây giờ em để nơi đâu
Cỏ trên mình mẩy em sầu ra sao?
có những câu kỳ cục ngộ nghĩnh :
Hãy mang tôi tới bất ngờ
Giết tôi ngẫu nhĩ, trong giờ ngẫu nhiên
nhưng cũng có những câu không nên mất công phân tích về khía cạnh mỹ học mà nên chẩn đoán như những tín hiệu bệnh lý vì chúng chẳng trí tuệ mà… điên loạn. Như Mai Thảo trình bày :
Và ở Sài gòn vẫn còn Bùi Giáng
Tối tối về chùa đêm làm thơ
Ngày ca múa khóc cười giữa chợ
Kẻ sĩ điên thế kỷ mù rồi
(Viết văn trở lại)
Ở nhà thơ này, không thể núp sau hai chữ “trí tuệ” để tán dương (!) những dòng thơ sáng tác do động lực bệnh lý tâm thần. Chúng ta gặp nơi thi sĩ nhiều triệu chứng, hợp chứng thác loạn ngôn ngữ (lalopathie) như thất điều ngữ pháp (dysgrammatisme), loạn phối hợp từ (dysphasie), nói lẫn (paralalie), nói ngọng (dystomie) trong ngôn ngữ viết v.v..
Ký thác ngôn ngữ ngọng nghịu :
Âm u ô úc ôn tù niệm
Yếm ố ư uyên uyển tội từ
(Hán hương u hương)
Thất điều ngữ pháp (dùng những chữ vô nghĩa, lạm dụng những cặp chữ nói lái, bố trí từ hỗn loạn, không có liên quan ngữ nghĩa, bất tuân cú pháp, bất chấp văn phạm) :
Một hôm gầu guộc gầm ghì
Hai hôm gần gũi cũng vì ba hôm
Bôm ha? Đạn hả? Bao gồm
Bồm gao gạo đỏ bỏ gồm gạo đen
(Ngẫu hứng)
Những dòng thơ như thế không thể xem là thông thái, càng không phải là trí tuệ3.
Trí tuệ trong thơ có thể là hậu quả tài năng dùng chữ phá cách điêu luyện; xuất qui, thất niêm lắm khi là những thao tác nghệ thuật, giống người đẹp gảy đàn cố tình lạc nhịp khiến khách tri âm phải chú ý như trong thơ Lý Đoan :
Dục đắc Chu lang cố,
Thời thời ngộ phất huyền.
(Lòng mong Chu lang quay đầu lại,
Nên luôn luôn gảy đàn sai nhịp)
(Thính tranh. Nghe đàn tranh)
Dịch bài thơ Phụng hoạ Kinh doãn Nguyễn công thất thập thọ, thứ vận (Kính họa bài thơ thọ bảy mươi tuổi của quan Kinh doãn họ Nguyễn) do Cao Bá Quát làm mừng Nguyễn Công Trứ, Trúc Khê Ngô Văn Triện chuyển hai câu hợp
Văn đạo Hồng phong dục hồi thủ,
Khởi ưng lục thập cửu niên phi!
thành thơ
Nghe nói non Hồng sắp trở lại
Lẽ nào lầm cả những năm qua!
Chữ sắp ở trong câu thơ trước dùng xuất qui (lẽ ra phải bằng nhưng dịch giả lại để trắc) hẳn là vì ngòi bút Trúc Khê cố ý chuyển cho được nội hàm và ngữ khí phủ trùm trên chữ dục, chữ phi trong nguyên tác. Cao Chu Thần chắc phải vỗ đùi đánh đét vì chữ sắp khổ độc này. Thật vậy, Uy Viễn tướng công nhiều lần nói lên tâm trạng chen chúc lợi danh đà chán ngắt nên dịch giả chủ tâm dùng biện pháp khổ độc nhằm tạo cảm giác chán chường, ngao ngán nó là tấc nôi Nguyễn Công Trứ khi bảy mươi tuổi hồi hưu mà nhìn ngoái trở lại quảng đời đã qua bỗng chợt phát hiện là lục thập cửu niên phi (sáu mươi chín năm lầm lẫn).
Tôi không viết thêm về trí tuệ khi dịch thơ các thi phẩm từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác : phải tôn trọng số chữ trong từng câu, phải theo sát thể thơ của toàn bài mặc dầu ngôn ngữ gốc (chữ Hán, chữ Việt) là đơn ngữ trong khi ngôn ngữ đích (tiếng Tây phương) là đa ngữ.
Hôm qua em đi hái chè,
Gặp thằng phải gió nó đè em ra.
Em van nó cũng chẳng tha,
Nó cứ nhất định táng cha nó vào.
Văn chương phải gió thời nào cũng có. Cảnh hoan lạc trong phòng the mang phong vị khác khi không còn ở nơi kín cổng cao tường. Người thiếu nữ nạn nhân có vẻ không trách cứ, không oán hờn cái thằng mắc dịch. Theo pháp y học, bạo hành cưỡng dâm không thể xảy ra nếu nạn nhân nhất định quyết liệt chống cự (trừ phi bị đe doạ bằng vũ lực). Mô tả động tác tính dục nhưng không có chữ nào tục tỉu. Trí tuệ của ca dao nằm ở đấy.
Thiên Nam ngữ lục ít sỗ sàng hơn chút chút. Nó tả cảnh Trần Cảnh thông tình với Lý Chiêu Hoàng :
Xích hồng nên phạm nguyệt cung,
Thấu vào đế toạ mặc lòng khách tinh.
Cầu hồng đỏ phạm vào cung trăng và khách tinh thấu vào đế toạ : nhà thơ vô danh dùng thủ pháp tu từ ẩn dụ quen thuộc, tránh gọi thẳng tên đối tượng biểu đạt (động tác tính giao, cơ quan sinh dục) mà để người thẩm thơ tự tìm đến đối tượng biểu đạt theo các qui luật do văn cảnh, do liên hội, do thói quen thẩm mỹ…
Thi ca Hán Nôm thiện dụng bố trí những điển tích quen thuộc để mô tả đêm chung chăn gối giữa các đôi trai gái và nhiều khi đã thoát khỏi khuôn khổ đạo đức sáng tác kinh điển nhằm mở hết các chiều giác quan giao tiếp cùng thân xác loã thể. Nhờ dụng điển những bức tranh hiện thực loại đó có thanh nhã hơn nhưng vẫn không kém phần nhục cảm.
Văn chương bình dân không phải là không biết gọi thẳng tên những thứ cần gọi thẳng tên. Miền Quảng Trị có bức tranh ôông mụ Đô :
Ôông Đô mần rọọng trên cồn,
Mụ Đô tát nước để l… quạ tha.
Quần chúng nghịch ngợm hình dung ra khung cảnh “ấn tượng” :
L… lông bay bổng lên trời,
Một bày c… lọ mang tơi đi tìm.
Trong văn học, nhiều khi văn chương mang sắc thái nổi đoá, văng tục :
Đéo mẹ nhân tình đã biết rồi,
Nhạt như nước ốc, bạc như vôi.
(Nguyễn Công Trứ. Nhân tình bạc bẽo)
Ba hồi trống giục, đù cha kiếp,
Một nhát gươm đưa, đéo mẹ đời.
(được truyền tụng là của Cao Bá Quát)
Thôi về Tiên Phật cho xong kiếp,
Đù oả trần gian sống mãi chi!
(Phạm Thái. Cảm thán)
Đù cha lũ đi ăn mày,
Cả tớ lẫn thầy ăn đếch cho tao!
(Phạm Công Cúc Hoa)
Ngòi bút có bản lãnh không kiêng sợ từ ngữ thô tục bất nhã. Thô tục nhưng đúng chỗ có sức mạnh riêng của nó, bất nhã mà đắc địa có tính đa năng của nó. Nếu thơ có lúc mang rõ nét những hạt nhân lý tính thì có khi lại đi sâu vào những suy tưởng triết học, thậm chí có bài du ngoạn nơi những mê cung bí hiểm bên cạnh những bài chảy tràn trên dòng cảm xúc.
Kết
Tác giả Trên vỉa hè Sài gòn vừa gặp may vừa không may. Anh gặp may vì chắc chắn anh có những người đồng hội đồng thuyền. Những người này sẵn sàng quây quần họp mặt với anh nhằm chia sẻ cung cách làm thơ riêng. Họ dụng công trí xảo sử dụng nghệ thuật thi ca nhiều khi ngoắt ngoéo. Thông thường họ thiên về tâm tình tâm lý khi sáng tác; đôi khi họ chú ý đến những vấn đề luân lý đạo đức. Thái độ của họ khiến liên tưởng đến những con người khiêu vũ trước một tấm kính. Họ tạo nên một tập thể những initiés, theo cách gọi của Mallarmé; có nghĩa là họ quần tụ thành một cộng đồng những cá nhân đã tự giác chấp nhận pháp lý, chủ động tiếp thu bí quyết. Họ nghĩ trước hết đến cái tôi của họ hoặc họ chỉ nghĩ đến cái tôi của họ mà thôi :
điều anh viết, tôi vẫn thường nghĩ đến
một mùi hương bay, tôi đã gặp đâu rồi.
cái khác nhau giữa nỗi đau ngấm ngầm và nỗi đau biểu hiện
là tôi nghĩ về tôi và anh nghĩ cho đời.
(Nguyễn Đức Tùng. Gởi một nhà văn)4
Không may cho họ, người đọc lại có thiên hướng bảo thủ, ít khi phóng khoáng khiến thành quả trí tuệ của họ dễ gây dị ứng nơi một số người.
Nguyên Đán Canh Dần. 14.02.2010
1 Nguyễn Lương Ngọc.- Đoàn Phú Tứ. trong Văn học Việt Nam sau Cách mạng Tháng tám. Tiểu luận – Phê bình. Nhà Xuất bản Văn học. Hà nội. 1993. trang 318.
2 Phần bình luận này không phải của tôi. Tôi đã đọc và học nó trong tài liệu văn học Pháp ngữ. Nhân đây xin ghi thêm là ý niệm poème sans poésie trong Phần Một bài viết kỳ này là của Georges Pompidou, cố Tổng Thống Pháp, trong cuốn Anthologie de la poésie francaise (Hợp tuyển thi ca Pháp). Classiques de poche. Hachette. Paris. 1961. trang 8. Nguyên văn là poème dénué de poésie.
3 Nét chữ của Bùi Giáng mạnh khoẻ, đẹp đẽ, sắc sảo. Chỉ thỉnh thoảng mới thấy có vài nét mang chứng loạn năng viết (dysgraphie) rất nhẹ; tỷ dụ qua thủ bút của nhà thơ ghi lại bài thơ với hai câu đầu Đi về với Gió Du Côn / Mở giông bão xuống cõi tồn sinh phai đăng trên Văn Học Cali số 46, tháng 12.1989, trang 5.
4 Văn Học Cali số 51, tháng 05.1990, trang 48.
.
“Đọc xong, ta thấy lòng rung động, tình yêu thương ngân vọng trong tim”. Ai là “ta”? Dùng đại từ “ta” ở đây có lẽ hơi lạm dụng. Đọc mấy dòng đó mà Nguyễn Thụy Kha lại có cảm xúc mãnh liệt đến dường ấy, thế mới biết là tình thâm tợ bể “vỉa hè chẻ ba”. Xin bái phục. Làm một bài thơ mà có phải có người “cước chú” cả trang thiên hạ mới hiểu nổi, thế mới đáng gọi là thơ trí tuệ, xin “bottoms up” để chúc mừng.
Lời bình của Nguyễn Thuỵ Kha:
Trên vỉa hè Sài gòn
tặng Nguyễn Văn Trị, Nguyễn Đặng Mừng
Ba lần ánh mắt gặp nhau
Từ bàn bên kia
Một lần ngẫu nhiên
Một lần dò hỏi
Một lần ngạc nhiên
Ba lần ánh mắt gặp nhau
Ba lần ngã đầu lên
Hòn đá trên đường
Không gian thơ chính là tên bài thơ “Trên vỉa hè Sài Gòn”, một không gian mà từ đấy 35 năm trước, vừa diễn ra tủi mừng, vừa diễn ra ly loạn vào những khoảnh khắc ngắn ngủi cuối cùng của cuộc chiến. Bây giờ, vẫn không gian ấy, có nhiều người quan đã xa nhau nhiều năm, giờ tình cờ nhìn thấy nhau qua một không gian hẹp hơn. Khoảng cách giữa hai bàn nhậu. nhưng vì sao họ không thể đến với nhau để bày tỏ cùng nhau những tháng năm xa, sau cái lần nhìn thấy nhau “ngẫu nhiên” lần đầu. Đó là nỗi trắc ẩn sâu kín tận đáy lòng mà chỉ có thơ mới giúp họ giải thoát. Nhìn thấy nhau ngẫu nhiên. Lại chủ động nhìn nhau dò hỏi. Sự xa lạ gỡa hai người quen nhau không biết lý do từ đầu đã tạo ra lần nhìn thứ ba: Lần nhing ngạc nhiên. Làm sao không ngạc nhiên vì sự lạ lùng này. Vì trắc trở nào nhỉ mà hai người quen cũ không thể vồn vã lại với nhau. Không thể nào giải thích được. Bài thơ được viết ra bởi sự không giải thích được ấy. Ba lần nhìn là ba chiều không gian khác nhau, ghép lại thành một kim tự tháp, chứa trong đó bí mật của nỗi đời đã rắn lại như đá. Nỗi đời trên vỉa hè Sài Gòn. Đọc xong, ta thấy lòng rung động, tình yêu thương ngân vọng trong tim Nếu ai không thấy điều đó cũng không sao, vì trải nghiệm mỗi người mỗi khác nhưng bài thơ gợi cho tôi thấy thương cảm nhiều hơn là ý định mổ xẻ, chỉ trích. Xin chia sẻ sự kiệm lời này với Nguyễn Đức Tùng.
Nguyễn Thụy Kha
oops! Tôi có lạc đề đâu ? Ban biên tập hãy đọc lại tên rồi điểm danh cho đúng dùm nhen. Tôi không quen biết ai, không ai quen biết tôi.
Xin ông actionminded bớt thuyết giảng lý thuyết hay đạo đức tổng quát mà nhìn
vào thực tế trước khi “lên lớp” người khác.
FDA.(cơ quan kiểm nghiệm thực phẩm và dược) thu hồi khá nhiều thực phẩm sản
xuất ở VN,trong đó có cà phê Trung Nguyên.Theo họ,TN.đã (1) không ghi thành
phần nguyên liệu tạo ra sản phẩm (2) nhãn hiệu giả mạo hay ghi chú sai lạc v.v.mà
họ ghi TN.đã vi phạm những điểu 403(i) 403(a) 801(e) và 502(a).
Việc TN.pha chế trong đó có quinine thì xin đọc x-cafe trích dẫn báo trong nước.Có
điều nếu TN.giả mạo thì đáng nghi ngờ lắm chứ ! Dĩ nhiên,nói thế cũng không thể tất
cả cà phê TN.đều có quinine mà ta nên dè dặt khi uống cà phê này.
Xin nói tắt về nhiều loại thực phẩm ở VN.để ông actionminded đọc thêm từ báo chí
trong nước như Tuổi Trẻ,Dân Trí,Lao Động,chứ không phải báo…phản động nào cả.
Theo Vietnamnet.vn thì có 8 triệu người bị nhiễm độc thực phẩm/năm (thống kê
năm 2009).Viện vệ sinh y tế công cộng TP.HCM điều tra về nước tương năm 2004
thì thấy hàm lượng 3-MCPD cao gấp mấy lần mức độ cho phép,tỷ lệ 80,5% (33 mẫu
trong 41 mẫu thử).MCPD là sản phẩm phụ do thuỷ phân protêin thực vật bằng HCl
có khả năng gây ung thư rất cao.Tương ớt cũng có chất sudan gây ung thư.
Về nước mắm,theo Sở Y tế TP.HCM,thì có chất urê,có trong 29 mẫu/39.
Về thịt có salbutamol thuộc chất cấm và dexamethazon (giữ nước trong thịt heo cho
nặng ký).
Về bánh phở thì 16/20 mẫu thử có chứa formol,hàn the qúa mức cho phép.Có nơi có
hàm lượng lên đến 6,9mg/ký bánh.
Về sầu riêng,có chất carbendazim thuộc nhóm carbamate gây ung thư,quái thai,được
dùng để báo qủan chống thối.
Về rau,dùng thuốc metamidophos qúa mức độ cho phép,cao gần 3.750 mcg/kg.
Về dừa tươi nõn là do dùng thuốc tẩy trắng của Trung quốc v.v.và v.v.
Xin ông actionminded đừng “Yêu nhau như thế bằng mười phụ nhau” !
Bulubuloa,
Tôi đồng ý với hầu hết các bình luận của bạn tuy nhiên phần cuối bạn phán một câu về cà phê Trung Nguyên khiến tôi vô cùng bất bình. Bạn dựa vào đâu để khẳng định rằng cà phê Trung Nguyên có pha thuốc ký ninh. Cũng chính vì việc này mà tôi bị không ít bạn bè xa lánh. Câu chuyện là như thế này:
Cách đây khoảng 1 năm không biết từ đâu email gửi tới tấp cho rằng tất cả đồ ăn Việt Nam đều có chất độc: melanin, thuốc trừ sâu, ký ninh v.v. Thấy thế tôi lập tức email và gọi điện thoại trực tiếp cho Viện và Cục An Toàn Thực Phẩm liên bang Mỹ (www.fda.gov) và tiểu bang Hoa Kỳ (www.cdfa.ca.gov) để rõ hư thực nhưng đều được trả lời là không có như vậy, ngoại trừ một vài vụ việc riêng lẽ trong đó một số kiện hàng thực phẩm nhập khẩu từ Việt Nam bị nhiễm vi sinh nên bị gửi trả lại hoặc bắt tiêu hủy theo qui định của hải quan Hoa Kỳ – điều hiếm khi xảy ra như thế không chỉ đối với Việt Nam mà nhiều nước khác là chuyện bình thường. Cũng cần nói thêm ở đây là chỉ có Trung Quốc xuất khẩu đồ ăn bị nhiễm độc melanin là chuyện chính thức và có thật đã được báo chí chính thức đăng tải rộng rãi.
Thế là tôi viết email phản hồi và nói lên sự thật thì bị bà con chụp cho một cái mũ cối “thiên tả và thân cộng” to tướng Về nhà thì bà xã, thay vì mua cà phê Trung Nguyên, lại đi mua cà phê sản xuất ở Malaysia nhưng lại dưới tên một công ty Tàu, chắc là không có melanin, nhưng uống không ra mùi vị cà phê Việt Nam nên tôi chê. Thế là bị bà xã giận nhưng, may quá, sau khi được giải thích cặn kẽ có tình có lý thì bả đồng ý với quan điểm khách quan của tôi. Nói một cách vắn tắt:
1. Cái gì cũng phải có bằng chứng rõ ràng, đừng cảm tính, đừng hùa theo đám đông nếu chưa biết chắc.
2. Đừng vơ đũa cả nắm, đừng ghét ai ghét cả tông chi họ hàng. Lên án độc tài, toàn trị, gian tham là đúng nhưng không thể vì thế ghét cả người dân, ghét cả đồ ăn thức uống từng nuôi dưỡng mình. Làm như thế là vô hình chung gián tiếp hại mình (không hưởng được mùi vị quê hương), hại dân tộc mình (kinh tế không đi lên càng lệ thuộc vào Tàu).
3. Cần phải khách quan, cái gì hay thì khen, cái gì tốt thì dùng nhưng mình là người Việt thì nếu có hai thứ tương đương như nhau về chất và về giá thì hãy vì tình xưa nghĩa cũ mà ưu tiên mua và xài hàng của mình, hàng nội địa một chút thì có sao đâu.
Xin lỗi đã đi ra ngoài đề nhưng thiển nghĩ đây là vấn đề quan trọng nên đã lạm bàn. Lời ít ý nhiều mong bà con thấu hiểu mà rộng tay, rộng lòng châm chước!
Xin lưu ý Actionminded & Bulubuloa:
“Lạc đề” như vậy đã đủ, xin trở lại với chủ đề của bài đang thảo luận.
Ý kiến của ông Phan Đức sẽ đóng lại phần Thơ đến từ … thực phẩm này!
BBT Da màu xin cáo lỗi vì đã sơ xuất trong việc thi hành quy định về bình luận.
BBT Da Màu
Thơ, ngắn gọn theo ngu ý của kẻ hậu sinh, là nghệ thuật kết hợp từ ngữ [va ký hiệu] để tạo nên liên tưởng và cảm xúc. Thơ không tạo nỗi liên tưởng và cảm xúc thì chưa nên thơ, tuy liên tưởng hay cảm xúc có thể bị hiểu/cảm sai lệch. Căn cứ vào nghệ thuật đó mà người ta xếp loại bài thơ. Bài thơ nào cũng làm bằng trí tuệ. Thơ trí tuệ phải chăng ý muốn nói là thơ làm cho người đọc phải dụng trí tuệ để hiểu/liên tưởng/cảm ? Nhưng chắc chắn câu thơ không phải là câu đố/câu đố chữ. Đọc thơ mà không liên tưỏng hay cảm xúc được cái gì thì người đọc không nên thơ hoặc là thơ không nên đọc. Phải và chỉ có một trong hai điều đó; ngoài ra, tất cả là ngụy biện ở bên ngoài thơ. Phải chi mà tiên sinh Nguyễn Đức Tùng có chữ nào đó đụng vào âm thanh trong “trên vỉa hè Saigon” hoặc viết “Ba lần ngã đầu lên/ Mồ hôi đá trên đường” thì may ra [may ra thôi nhen] có người dám nghĩ tới tận … Thạch Hãn [vì giỏi hán tự và biết gốc gác Nguyễn thi sĩ], chớ xoàng xoàng như hậu sinh thì chỉ nghĩ quanh quẩn ở hè phố Saigon mà thôi ! Nhưng thôi, nghĩ tới cỡ nào thì chịu nhận tới cỡ đó, chớ ai nỡ nào trách nhà thơ dụng từ… chưa tới bến [Thạch Hãn].
Bài viết của Trần tiên sinh nhẹ về phần trưng ra và phân tích những bài thơ gọi là thơ trí tuệ; tuy nhiên, phần điểm xuyết những bài thơ không phải là thơ trí tuệ thì tiên sinh chứng tỏ có cái dũng của kẻ sĩ. “Những dòng thơ như thế không thể xem là thông thái, càng không phải là trí tuệ3.”(TVT). Nếu như trước đây, hậu sinh đứng chỉ trỏ rằng “cái áo mới của hoàng đế” không mới và không thể gọi là áo vì lủng trước, hở sau, thì chắc chắn thiên hạ sẽ ùa vào rủa xả tơi tả kẻ hậu sinh rằng không có danh phận mà láo lếu, và còn bị đội lên đầu cái nón cối cho xấu trai chơi. Nay, thấy bậc tiền bối dám chỉ ra cái hay/cái dở thì hậu sinh xin ngã mũ phục. Ai ai cũng xúm vào ca tụng thiên tài trung niên thi sĩ BG; nhưng khi gặp những câu thơ quái dị không phải là thơ, không thấy là hay thì không ai dám nói vì sợ mang tiếng dốt, có người còn cẩn thận xưng tụng những câu quái dị đó là “thần chú” nữa chớ. Cũng mừng, vì hàng bậc tiền bối còn có người có sĩ khí mà hậu sinh tưởng đã tuyệt chủng. Ai cũng ồn ào ùa theo khen hay mà có người dám chỉ ra đích xác cái không phải là hay thì thật đáng phục.
Nhìn lên trên thì đã có thơ của tiên sinh NĐT, đành mượn tạm chép lại đây:
“điều anh viết, tôi vẫn thường nghĩ đến
một mùi hương bay, tôi đã gặp đâu rồi.
cái khác nhau giữa nỗi đau ngấm ngầm và nỗi đau biểu hiện
là tôi nghĩ về tôi và anh nghĩ cho đời.
(Nguyễn Đức Tùng. Gởi một nhà văn)4
Có người nói/viết giùm mình và nói/viết hay hơn mình, thì “cũng chẳng là khoái ư (Kim Thánh Thán)”.
Ngay bây giờ phải đi pha ly cà phê Taster’s choice [không phải là cà phê Trung Nguyên Việt Nam có pha thuốc ký ninh cho đắng và hương liệu cho thơm] mua ở No Frils mà thưởng thức thôi. Quá đã !
Kính chào nhị vị bác sĩ Trần Văn Tích và Nguyễn Đức Tùng,
Nhân đọc bài của bác sĩ Trần Văn Tích bàn về thơ của bác sĩ Nguyễn Đức Tùng, tui xin chép lại bài học cách nay gần sáu mươi năm, hồi còn học trung học, nói về “Thơ“, để kính tặng nhị vị đọc chơi. Gần sáu mươi năm trước, học trò tỉnh chúng tôi được dạy về “Thơ” nó đẹp lạ kỳ : ” Le vrai poète est celui qui réveille ces voix.” (Nhà thi sĩ chân chính là người biết gọi những tiếng vang trong đáy lòng ta vậy!)
Kính chúc nhị vị luôn được vui thú trong thơ văn vậy.
Trân trọng,
—————————
La poésie
Le rêve, avec l’espoir qui en est inséparable, est ce qu’il y a de plus doux. C’est un pont entrevu entre l’idéal lointain et le réel trop voisin, entre le ciel et la terre. Et parmi les rêves, le plus beau est la poésie. Elle est comme cette colonne qui semble s’allonger sur la mer, au lever de Sirius, laiteuse trainée de lumière qui se pose immobile sur le frémissement des flots, et qui, à travers l’infini de la mer et des cieux, relie l’étoile à notre globe par un rayon.
C’est le privilège de l’art que de ne rien démontrer, de ne rien prouver, et cependant d’introduire dans nos esprits quelque chose d’irréfutable. C’est que rien ne peut prévaloir contre le sentiment. Vous qui vous croyiez un pur savant, un chercheur désabusé, voilà que vous aimez et que vous avez pleuré comme un enfant; et votre raison proteste, et elle a raison, et elle ne vous empêche pas de pleurer. Le savant aura beau sourire des larmes du poète; même dans l’esprit le plus froid, il y a une multitude d’échos prêts à s’éveiller, à se répondre; une simple idée, venue du hasard, suffit à en appeler une infinité d’autres, qui se lèvent du fond de la conscience. Et toutes ces pensées, jusque-là silencieuses, forment un coeur innombrable dont la voix retentit en vous. C’est ce que vous avez pensé, senti, aimé. Le vrai poète est celui qui réveille ces voix.
J.M.Guyau