
Junger Mann mit Strohhut (Anh Chàng Đội Mũ Rơm) (1912) – Ludwig Meidner – Trong loạt tranh “Apokalyptische Landschaft” (Cảnh Tận Thế)
Nói đến Trần Đình Sơn Cước, tôi nghĩ ngay đến bài thơ “Ngày tục giảng ở Huế” của anh[1]. Mời đọc vài trích đoạn:
ngày tục giảng khởi đầu bằng buổi thượng kỳ
(…)
năm phút mặc niệm những người đã chết
học trò ứa nước mắt không dám nhớ
nơi chỗ đứng này
hai mươi ngày đầu năm
hàng trăm người gục chết
xác ngổn ngang như củi
đàn bà trẻ con ông già bà lão
lính quốc gia cộng sản
lính mỹ đại hàn
chồng sấp chồng ngửa lên nhau
nơi chỗ đứng này
hai mươi ngày đầu năm
công chức mất máu
công chức mất đầu
hai hầm chôn sống gần năm chục
người bỏ vợ bỏ con
người xa cha xa mẹ
người bị giết vì lầm
học trò cúi mặt không dám nhìn
thầy giáo cho nhanh vào lớp
(…)
lớp học còn lại năm bảy đứa
phờ phạc như chim bị bão
như kẻ mất hồn
thầy hỏi những đứa kia đâu hết
học trò ngồi chết cứng nhìn nhau
có những trò đã chết
xác còn chôn trên các vỉa hè
bên mũi cầu trong công viên trong rãnh nước
có những trò đi biệt
chưa biết được ngày về
bỏ sách vở bạn bè thành phố
gởi cuộc đời vui gian nan
có những trò nghỉ học
hoặc đã đi lính cũng nên
bởi cửa nhà cháy rụi
cha mẹ không đủ tiền
nuôi con…
thầy giáo như đã khóc
học trò ngồi nín lặng
lớp học vội vàng tan…
Bài thơ làm từ 58 năm trước (1968), đầy những chi tiết và hình ảnh hiện thực như một bức tranh màu tối, “di chứng” lịch sử sinh động của một thời loạn lạc. Chẳng khác gì mấy với hình ảnh “xác người nằm trôi sông phơi trên ruộng đồng trên nóc nhà thành phố trên những đường quanh co…” trong “Bài ca trên những xác người” của Trịnh Công Sơn, sáng tác cùng thời. “Tục giảng” – trường mở cửa lại – nghe lạ tai, nhưng mang dấu ấn của một biến cố kinh hoàng: trận chiến Mậu Thân (1968) ở Huế. Trường học của nhà thơ có lẽ vẫn là trường cũ, còn trường tôi theo học, Đại Học Văn Khoa, bị hư hại nặng, phải tạm thời dời lên “Phủ Viễn Đệ” (gần cầu Bến Ngự), tục giảng ở đó. Tuy chỉ thu gọn trong khung cảnh của một trường học sau cả tháng trời chìm trong khói lửa hận thù, bài thơ gói gọn một Huế căng thẳng, đau thương và tan tác. Lời thơ hoàn toàn không màu mè, hoa mỹ, không bóng bẩy ẩn dụ; ngược lại, tràn trề hiện thực và nặng nề cảm xúc. Là một người cùng thời với anh (dù có lớn tuổi hơn đôi chút) và sống trọn 26 ngày giữa cuộc chiến trong vùng Thành Nội, tôi đọc bài thơ như đọc lại nỗi niềm của chính mình.
Bối cảnh của ngày tục giảng được Trần Đình Sơn Cước ghi lại như sau:
“Những ngày tết Mậu Thân tôi về quê ăn tết với mẹ và các anh chị tại làng Phụng Chánh, giáp chợ Mỹ Lợi. Nơi đây bình yên trong mấy ngày đầu xuân. Qua đài phát thanh chúng tôi biết Huế đang bị tấn công. Năm ấy, anh trai tôi về quê ăn tết một mình vì chị dâu đang mang thai nên ở lại Huế. Biết tin Huế ngập tràn khói lửa, anh lo lắng ăn ngủ không yên, anh đòi lên Huế liền. Nhưng mọi giao thông về Huế đều bị gián đoạn. (…) Ít ngày sau thông đường tôi theo anh qua Đá Bạc, đón được chuyến xe đò lên Huế. Qua khỏi Phú Bài, Hương Thủy, quang cảnh tan nát bắt đầu hiện ra. Qua lọt cầu An Cựu, anh và tôi xin xuống trước chợ An Cựu để về nhà ngay đầu đường Phát Lát, con đường dẫn về tận cầu ngói Thanh Toàn…
Khi quân đội Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh bắt đầu phản công tái chiếm Huế, anh tôi đã nhờ người đào chiếc hầm nấp bom đạn ngay trong khuôn viên vườn nhà cha mẹ vợ của anh. Mỗi đêm nghe tiếng súng nổ, tiếng đại bác, cả nhà gồm vợ con, cha mẹ vợ anh và tôi ôm ẳm kêu nhau xuống hầm tránh đạn. Anh tôi lúc đó là quân nhân biệt phái. Một đêm anh và tôi vừa xuống hầm thì nghe từ trên miệng hầm tiếng gọi của Khoa. Anh sợ hết hồn. Khoa cùng tuổi tôi, đang học lớp đệ tam trường trung học tư thục Bồ Đề Hữu Ngạn. Nhà Khoa ở gần cầu Ngói Thanh Toàn. Khoa được mẹ vợ anh tôi nhận cho ăn ở trong nhà để giúp thêm việc tưới hoa và những việc lặt vặt. Khoa cùng tôi ngủ ở nhà thờ phía trước. Khoa vui tươi, nhanh nhẹn, tháo vát, trong nhà và cả xóm đầu đường Phát Lát ai cũng thương Khoa. Mấy ngày Tết Khoa về nhà ăn Tết và bị “sung” vào đội “quân giải phóng”. Chẳng biết Khoa được học cầm súng lúc nào trong những ngày vội vàng binh lửa đó. Khoa mang khẩu AK, thò đầu xuống miệng hầm gọi chào anh tôi và tôi. Khoa cười toe rồi nói phải theo đoàn đi ngay. Khoa còn ghé lại ngôi nhà phía trước để tìm thăm cô bạn láng giềng xinh đẹp mà Khoa đem lòng thương yêu. Ôi chiến tranh! Ít tuần sau tin từ nhà Khoa cho biết Khoa đã chết trên đường rút lui cùng “quân giải phóng”!…
Tương tự như trường hợp của Khoa, ba bạn hướng đạo của tôi (…) cũng chết đau thương như vậy. Nhà của các bạn Bích, Lợi và Minh đều ở các làng Ngọc Anh, Dưỡng Mong, những làng xã quanh Huế về phía cửa Thuận An. Những cuộc tiến quân của “quân giải phóng” đều xuất phát từ các làng bao bọc Huế, nên nhiều thanh thiếu niên các vùng đó đều bị “đôn” vào các cánh “quân giải phóng”. Là đoàn sinh hướng đạo, chúng tôi thường nhớ nằm lòng một trong những lời hứa lúc tuyên thệ là trung thành với Tổ Quốc. Nhưng tổ chức hướng đạo như mục đích từ lúc thành lập là “phong trào cho tuổi trẻ”. Quốc tế. Mở rộng cho mọi người. “Là” tự nguyện. Không chính trị. Không thuộc về của chính quyền.” [TĐSC nhấn mạnh] “Hướng đạo là…một phương thức sống. (…) Vì tôn chỉ của phong trào là “không chính trị”, nên đoàn sinh chúng tôi lúc sinh hoạt thường được các Trưởng căn dặn đứng ngoài các hoạt động chính trị, nhất là giai đoạn Huế đầy biến động của những năm sau năm 1963. Cùng tuổi chúng tôi lúc đó, có bạn đã có ý thức chính trị (đã nằm trong các tổ chức “Việt Cộng”) thường chỉ trích hướng đạo sinh chúng tôi là ngây thơ, con nhà giàu; hướng đạo là tổ chức tư bản! (vì vị sáng lập Hướng Đạo thế giới là một vị tướng trong quân đội Anh). Nhắc lại những điều này để xác quyết rằng những người bạn hướng đạo của tôi chết trong Tết Mậu Thân là những thanh niên trong sáng, năng động, chưa hề chọn lựa quốc gia, cộng sản khi phải cầm súng của “cách mạng” và chết oan uổng khi tuổi xuân đang tràn đầy…
… Sau khi thành phố bình yên trở lại, chúng tôi đến trường còn vương nỗi thất thần trên mỗi khuôn mặt thầy cô và bạn bè. Tâm trạng đó tôi đã viết nên bài thơ “Ngày Tục Giảng Ở Huế” được đăng trên tạp chí Văn số đặc biệt về Huế có hình bìa là chiếc cầu Tràng Tiền gãy gục giữa sông Hương. Sau hơn 45 năm đọc lại bài thơ (nhờ công của nhà văn Trần Hoài Thư sưu tầm và đăng vào tuyển tập Thơ Miền Nam Thời Chiến do Thư Ấn Quán xuất bản năm 2007) tôi nhận ra bài thơ đúng là một bức ảnh chụp Huế những ngày tan nát đó.”[2]
Tạp chí Văn số 110 (7/1968) (Tài liệu của Nguyễn Trường Trung Huy)
(Bài “Ngày tục giảng ở Huế” nằm ở trang 79)
Hơi ngoài lề một chút: vào thời đó ở miền Nam, có thơ đăng trên tạp chí “Văn” (Sài Gòn) là một điều quý hiếm đối với nhiều cây bút (trong đó có tôi) nhất là khi Trần Đình Sơn Cước – xin tạm rút gọn là Sơn Cước – chỉ mới vừa lên…18!
*
Trong một thành phố, cổ kính và trầm lặng, lại luôn luôn căng thẳng vì các xu hướng chính trị cực đoan thời trước 1975, qua trích đoạn bút ký trên, rõ Sơn Cước là một người không-có-phe; đúng hơn, chọn làm một công dân bình thường, không muốn làm “quạ” cũng chẳng muốn làm “bồ câu” (bài thơ “Quạ và chim bồ câu),[3] đau xót nhìn tình cảnh những “cục bướu đầu cực đoan” diễn ra chung quanh mình suốt một thời tuổi trẻ. Không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy thơ anh tràn đầy khắc khoải, nỗi niềm. Tâm cảm đó kéo đến tận khi đã nhiều tuổi và khi đã ở ngoài đất nước, với những sáng tác mới, xuất hiện rải rác ở một số tạp chí mạng, trong cũng như ngoài nước: Trần Thị Nguyệt Mai, Trẻ Magazine, Văn Việt, Diễn Đàn Forum, Văn Chương Việt… Mới đây, đầu năm 2026, anh đã chọn lọc và cho phát hành tập thơ “Vẫn sống cùng ngụ ngôn”, cùng in chung với bà xã anh, chị Trần Kiêm Trinh Tiên.
Tập thơ “Vẫn sống cùng ngụ ngôn”
(Focus Digital Publishing 3/2026)
Một trong vài đặc điểm dễ nhận ra trong thơ Sơn Cước: nhiều trong số các sáng tác của anh đều gắn liền với bối cảnh của một sự kiện hay một câu chuyện về một nhân vật nào đó – người mẹ, người thầy, người anh hay người bạn – qua những tình huống và cung bậc khác nhau. Cũng có thể nói, chính các câu chuyện và sự kiện đó vừa là nỗi xúc động vừa là nguồn cảm hứng thi ca, lại vừa chứa đựng những ý nghĩa sâu xa hơn nằm đàng sau các con chữ. Đọc thơ anh, vì thế, luôn gợi cho tôi một nỗi đồng cảm sâu sắc. Chả là, cả hai chúng tôi đều đã sống, đã chứng kiến và đã tham dự (cách này hay cách khác) vào một Huế nhiễu nhương ngày đó. Bài viết này được thành hình trong tâm cảm đó.
Trước hết là câu chuyện về người “Mẹ”. Đây không phải là mẹ chiến sĩ hay mẹ Việt Nam anh hùng được tạc tượng dựng sừng sững tại các công viên (tượng đài Mẹ Nhu ở Đà Nẳng chẳng hạn), mà là một bà mẹ rất bình thường y như những bà mẹ khác, tần tảo, chịu thương chịu khó, chẳng quan tâm đến điều gì khác hơn là thương chồng nuôi con. Ấy thế mà:
Năm xưa nhớ mẹ đi tù
Bầy con thơ dại lù mù tuổi thơ
Trưa hè chị dắt thăm nuôi
Mo cơm bới với cục đường mẹ ơi!
(TĐSC/Mẹ tôi)
Tại sao một người mẹ bình thường lại phải đi tù? Trong phần ghi chú, tác giả viết “Đạo Luật 10/59”. Rõ là, người mẹ nằm trong đối tượng của Đạo Luật 10/1959, được chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành vào năm 1959 với mục đích loại trừ những cán binh cộng sản nằm vùng hay người có cảm tình với Việt Minh thời kháng chiến (1946-1954) và vợ con của họ, đang còn ở lại miền Nam sau năm 1954.
Bị ăn cơm nhà tù thời cộng hòa, tưởng “Mẹ” sẽ được yên thân sau tháng 4/1975, thời cộng sản. Không đơn giản như thế. Chính sách kinh tế của người chiến thắng hoàn toàn khác:
Ruộng quê tôi nhỏ bằng vuông sắn
Người và trâu nắng dãi mưa dầm
“Tháng Tư” về ruộng nương mất trắng
Đêm mẹ ôm “trích lục” làm bằng
(TĐSC/Chứng tích)
Cho nên, không có gì đáng ngạc nhiên khi:
“Tháng Tư” về mẹ nếm đủ đắng cay
Thân gầy. Trắng tay. Mẹ xoay. Mẹ xở
Ngàn nước mắt mẹ xin Trời cứu khổ
(TĐSC/Chiều Sausalito, tiễn mẹ)
Cùng đường, người mẹ đành phải đi đến một chọn lựa sinh tử: “Bước chân liều qua sóng dữ trùng dương”, như hàng triệu người miền Nam khác:
Nhớ xưa mẹ ôm đàn con vượt biển
Đất nước bạc tình mẹ tìm cửa tử
Ba nằm lại nơi trại tù Bắc Việt
Phút lâm chung mơ viên kẹo cầm tay
(TĐSC/Chiều Sausalito, tiễn mẹ)
Đất nước bạc tình”, nghe thật ngậm ngùi!
Ngoài mẹ, khá nhiều những bài thơ của Sơn Cước là câu chuyện về “các anh”.
“Các anh” là ai? Đó là thế hệ những người sinh ra vào những năm cuối thập niên 1930 và đầu thập niên 1940. Trưởng thành trong giai đoạn 1954-1964, đất nước bị chia cắt, nhưng được sống êm ả và tự do trong hòa bình một thời gian ngắn, thế hệ này có cơ hội phát triển tài năng về nhiều mặt, nhất là văn học nghệ thuật. Nhiều trong số đó đã trở thành những khuôn mặt điển hình, góp một phần đáng kể vào nền văn học nghệ thuật miền Nam 1954-1975. Đinh Cường, Ngô Kha hay Trịnh Công Sơn chẳng hạn. Với Sơn Cước (thuộc thế hệ trẻ hơn), “các anh” này có thể là thầy, có thể là bạn vong niên, mà cũng có thể là bạn đồng lứa dù có đôi chút cách biệt về tuổi tác. Cũng như nhiều thanh thiếu niên Huế mới lớn lên thời đó, anh nhìn thế hệ đi trước bằng cái nhìn đầy ngưỡng mộ về tài năng của họ, không dè dặt khi dành cho “các anh” những mỹ từ như “huyền thoại”, “thần tượng”, “tài hoa”, “bầy chim lạ”…
Khi tôi lớn lên
Các anh như huyền thoại
Xao xuyến lòng các cô gái đôi mươi
Những chàng trai ôm giấc mộng đổi dời
Mơ các anh
Như mơ thần tượng
(…)
Dáng tài hoa trong chiều nắng lạ
Môi đắng cà phê, vàng tay thuốc lá
(TĐSC/Kỷ niệm)
Hòa trộn trong hình ảnh lãng đãng thời thượng của “môi đắng cà phê, vàng tay thuốc lá” là những ưu tư khắc khoải không tránh khỏi về thời cuộc trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt và bị chi phối bởi ý thức hệ thời đại. Tất cả góp phần tạo nên một Huế tràn trề nỗi niềm đất nước, nhưng chia rẽ sâu sắc. Điều này là yếu tố thúc đẩy mỗi người, cách này hay cách khác, trực tiếp góp phần tạo ra những biến động vô tiền khoáng hậu tại một thành phố vốn dĩ trầm lặng này: biểu tình, tuyệt thực, hội thảo, tự thiêu, bàn thờ xuống đường, đốt thư viện Mỹ, bãi khóa, bãi thị, đình công, thảm sát Mậu Thân… Chẳng thế mà:
khắc khoải tồn sinh, trầm tư hiện thực
bài thơ tình và tuyên ngôn hành động
(TĐSC/Kỷ niệm)
Hai câu thơ này vẽ nên một Huế điển hình của thập niên 1960: vừa mê triết lý hiện sinh của Jean-Paul Sartre và đọc truyện Françoise Sagan (trông rất “phản-cách-mạng”) lại vừa thảo luận về chủ nghĩa cộng sản và viết tuyên ngôn tranh đấu chống chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (trông rất “cách-mạng”)!
Một nghịch lý Huế!
Nghịch lý này được tìm thấy trong nhiều bài thơ của Sơn Cước, tạo nên nét khá riêng trong thơ anh.
thế hệ chúng tôi
thế hệ chiến tranh
…những đứa con tài hoa của huế
những niềm tin trong sáng
và mù quáng (!) (TĐSC/Lụi tàn)
Những “niềm tin trong sáng và mù quáng”, nghe đến lạ! Nhưng đúng thế. Để nắm bắt được cái nhìn bất ngờ này, không thể không nhắc đến trường hợp Trần Vàng Sao – lớn hơn Sơn Cước cả chục tuổi, người mà tác giả “nhớ đến” ghi ở đầu bài thơ có tựa đề “Lụi tàn” này – như một trong những hình tượng khá tiêu biểu. Trần Vàng Sao, tức Nguyễn Đính, tác giả của bài thơ nổi tiếng “Bài thơ của một người yêu nước mình”[4] (trông rất “yêu” cách mạng) và tập hồi ký “Tôi bị bắt”[5] (trông rất “chống” cách mạng). Là một trong những thanh niên bỏ học hăng hái lên rừng theo cộng sản từ lúc đang còn là học sinh, nhà thơ này được ân huệ mang ra hậu phương lớn miền Bắc để đào tạo, nhưng sớm trở thành người bất đồng chính kiến, bị bắt và bị nhà nước phân biệt đối xử từ trước 1975 cho đến những năm cuối đời ở Huế.
Một bài khác, “Lời nguyện”, với lời đề tặng “Cho một trái tim lành, anh L.K.C”.
“Chúa đã khước từ” ta thời khát vọng
Anh khước từ anh sau “ngày giải phóng”
Anh khước từ anh, cao sang bục giảng
Sa xuống chợ trời gột rửa lương tâm
(TĐSC/Lời nguyện)
L.K.C tức Lê Khắc Cầm. Là nhà trí thức-nghệ sĩ thuộc một gia đình danh gia vọng tộc Huế, người đã dịch tác phẩm “Chúa đã khước từ” (The Martyred của tác giả Richard E. Kim), Cầm “giác ngộ” theo cộng sản, tích cực hoạt động trong giới trí thức Huế. Sau tháng 4/1975, anh được cử giữ một chức vụ khá lớn trong một phân khoa thuộc Đại Học Huế. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, anh từ bỏ tất cả, bỏ Huế, bỏ nghề và bỏ cả chính mình, vào Sài Gòn, ra chợ trời buôn bán kiếm sống qua ngày. “Anh khước từ anh” để “gột rửa lương tâm”. Khó kiếm một cách diễn tả nào mạnh mẽ hơn trong trường hợp phản tỉnh đặc biệt này.
Dịch giả Lê Khắc Cầm
(Hình: chụp qua màn ảnh Youtube)
“Chén đắng” là câu chuyện của “một Lê Khắc Cầm” khác, cũng gây khá nhiều ấn tượng:
Chuyện đã cũ
Có phải chúng ta
“ngây thơ
Hay sách vở dối lừa”
Có phải trái timBốc lửa
Hay cái đầu chúng ta
Chọn lựa?
(TĐSC/Chén đắng)
Bài thơ đề tặng một người (Nguyễn Thanh Văn), nhưng nội dung chính đề cập đến một người khác. Hai câu thơ ngắn: “ngây thơ/hay sách vở dối lừa”, một trong vài ý nòng cốt của bài thơ (không khác mấy với nghịch lý “niềm tin trong sáng và mù quáng” nói trên), theo chú thích của tác giả, được trích từ bài thơ “Tình yêu của tôi” của “Nguyện”,[6] một nhà thơ ít người biết đến. “Nguyện” là bút danh của Hồ Tịnh Tình, một sinh viên “chọn con đường băng qua khu rừng già đầy gai và cỏ sắc” (lên chiến khu), tích cực hoạt động trong tổ chức sinh viên học sinh cộng sản Huế trước 1975. Sau 1975, cũng như Trần Vàng Sao và Lê Khắc Cầm, trong nỗi thất vọng vì đã uống phải “chén đắng” của “cách mạng”, Tình làm thơ để giải tỏa nỗi u uất của mình. Khác với “Tình yêu của tôi” có tính ẩn dụ, “Bài ca đường phố”[7] – bằng một thừ ngôn ngữ cụ thể, không quanh co rào đón – là một bức tranh hiện thực tàn nhẫn của xã hội miền Nam sau ngày “giải phóng”. Mời đọc một vài trích đoạn bài thơ này:
Thế giới của tôi đã bị cắt thành nhiều mảnh
Bị săm soi
Bị đánh số
Bị đặt tên
Bị cho vào hộ khẩu
(…)
Thằng bé chẳng cần biết người đứng cạnh nó đã từng tham dự chiến tranh
Đã bắn
Đã giết
Đã qua tù tội
Không có nghĩa gì cả, thật tình như thế
Vì những căn nhà vẫn mọc lên trên mặt đất
Dù bên dưới là anh hùng liệt sĩ
Là đĩ đượi ma cô
Lịch sử ngoằn ngoèo có bao nhiêu phần trăm sự thật
Cũng chẳng đi về đâu
(…)
Người ta nói sự ngu dốt hoàn chỉnh với trò lừa đảo đã thành một giá trị
(Nguyện/Bài ca đường phố).
Nhà thơ Nguyện (Hồ Tịnh Tình)
(Hình: từ trang Văn Việt)
Quả là chén đắng: ngu dốt hoàn chỉnh + lừa đảo = giá trị!
Một “chén đắng” không kém phần ấn tượng khác là trường hợp của hai nhà tu Công giáo vô cùng nổi tiếng, linh mục Chân Tín và linh mục Nguyễn Ngọc Lan. Trong suốt nhiều năm dài trước tháng 4/1975, cả hai đã đứng ra chống đối chính quyền VNCH và Mỹ một cách quyết liệt, qua một tạp chí bán công khai là “Đối Diện”. Lúc đầu, nó phê phán các chính sách sai trái của nhà cầm quyền như một hình thức “đối diện”, sau chuyển hẳn sang “đứng dậy” (đổi tên tạp chí thành “Đứng Dậy”), trực diện đối đầu với chính quyền VNCH và gián tiếp ủng hộ cộng sản. Với “thành tích” này, sau 4/1975, “Đứng Dậy” được cho sống thêm vài năm nữa để làm màu mè cho chế độ, trước khi bị đình bản hẳn vào năm 1978. Đồng thời, hai vị linh mục cũng bị cho ra rìa vì dám bày tỏ những ý kiến “khác biệt” với nhà cầm quyền cộng sản. Toàn bộ bi kịch này – nếu có thể gọi là bi kịch – được Sơn Cước tóm gọn trong “Chứng ngôn” với lời thơ chắc, gọn và sắc:
Anh đã Đối Diện
(anh đã Đ D)
anh đã Đứng Dậy
trước năm một chín bảy lăm
anh đã Đứng, Đối… thêm một lúc nữa
sau năm một chín bảy lăm
rồi
(tự) (buộc) nằm
im
nhưng không chịu
lặng
(TĐSC/Chứng ngôn)
Đúng thế: “im” nhưng không “lặng”. Một hình thức chơi chữ sắc bén!
Câu chuyện của Hoàng Ngọc Biên có phần hơi khác. Nhà văn này là người đầu tiên và duy nhất giới thiệu, đồng thời sáng tác truyện ngắn theo xu hướng “tân tiểu thuyết” (Nouveau Roman movement) trong Văn Học Miền Nam. Ông là một trong những cây bút chủ lực của “Trình Bày”, một tạp chí có xu hướng tiến bộ và cách tân tại Sài Gòn thời trước 1975. Hoàng Ngọc Biên được Sơn Cước đề cập đến trong hai bài thơ. Một là “Cổ vật” nhắc đến một vài tác phẩm “tân tiểu thuyết” nổi tiếng của Biên như “Chuyến xe”, “Đêm ngủ ở tỉnh”. Và bài kia, “Chân dung người mất trái tim”; tựa đề này dùng lại hình tượng trái tim dựa theo một “truyện cực ngắn” rất đặc sắc của Biên: “Chuyện một người không có trái tim”. Để hiểu hết ý tứ bài thơ này của Sơn Cước, thiển nghĩ nên đọc lại truyện cực ngắn này:
Tôi đứng trên cầu, thơ thẩn nhìn ra phía sông nước cuối dòng. Chân trời nhuộm một màu đỏ chói chang. Mây không tím không hồng.
Tôi bỗng nghe một tiếng động nhỏ sau lưng, tưởng có người bạn loanh quanh đâu đó nhìn thấy mình, tò mò ghé lại tắm. Tôi quay người và nhận một cú đấm long trời lở đất vào ngực, bất thần, ngay trái tim.
Bàn tay xuyên vào bên trong ngực, đẩy trái tim tôi ra khỏi lưng, rơi xuống sông, Trước sau tôi chỉ nghe một tiếng nước bắn tung toé, tiếng nhỏ và ngọt như tiếng một hòn sỏi rơi, từ dưới sâu vọng lên.
Mọi việc tiếp tục như không có gì xảy ra. Bàn tay biến mất. Tôi rảo bước qua bên kia cầu, trong người nhẹ nhõm, vì không còn ôm trái tim trước ngực, để lúc nào cũng phải thấy lòng nặng trĩu.
(Hoàng Ngọc Biên/Chuyện một người không có trái tim)
Tưởng mất trái tim, tức là mất nguồn suối tình cảm, thì hết “thấy lòng nặng trĩu”, nhưng không. Sau 1975, khi đang còn ở trong nước:
Có người mật báo
Ông [Hoàng Ngọc Biên] từng ký
Tuyên Cáo Biển Đông
Kiến nghị trả tự do: người này, người nọ
Ô hô. Ông vẫn còn quặn lo
(TĐSC/Chân dung người mất trái tim)
Nghĩa là, dù trái tim đã bị lấy mất, lòng Biên cứ vẫn “quặn lo” nặng trĩu, chỉ vì không chịu nỗi chuyện bất công. Cũng là một nghịch lý: nghịch lý trái tim!
Vài bài thơ điển hình được trích dẫn ở trên cho thấy Sơn Cước đã chọn một phong cách sáng tác đặc thù: sử dụng sự kiện/nhân vật có thực (hay cả hai) làm bối cảnh cho các tứ thơ của mình. Chúng vừa là hoán dụ (metonymy) vừa là ẩn dụ (metaphor), hay nói cách khác, là những “ẩn-hoán-dụ” (metalepsis)[8] sống động. Hình ảnh Lê Khắc Cầm hay Hồ Tịnh Tình là hoán dụ tượng trưng/thay thế cho giới trí thức-văn nghệ sĩ trẻ tả khuynh miền Nam trước 1975; thái độ phản kháng/từ bỏ vai trò của họ trong chế độ mới ám chỉ/ví von (ẩn dụ) với sự tan vỡ ảo tưởng (disillusion) sau 1975. Đó cũng là tính biện chứng tiềm ẩn trong niềm tin chính trị: trong sáng/mù quáng, ngây thơ/bị dối lừa. Do tính cách quá cô đọng khi diễn tả bằng ngôn ngữ thơ, nên nếu không biết hay không nắm vững chúng, người đọc khó có thể hiểu hết ý nghĩa sâu xa của nỗi khắc khoải tiềm ẩn trong thơ Sơn Cước. Nói về Lê Khắc Cầm hay về Hồ Tịnh Tình không có nghĩa là nói về chính cá nhân mỗi người (nhằm vinh danh hay bôi bác) mà là nói về ý nghĩa, về tính cách, về biểu tượng của một hoàn cảnh/giai đoạn lịch sử.
Một số nhân vật khác cũng đã đi vào thơ anh, mỗi người mang một ý nghĩa khác nhau: Nguyễn Hữu Doãn (Tưởng niệm), Bùi Chánh Thời (Hóa thân), Trần Bá Di, nguyên thiếu tướng trong quân lực VNCH (Tâm hương cho người thua cuộc), Đoàn Thanh Liêm, người đưa ra bản Tuyên Bố 5 Điểm vào tháng 2/1990 tại Sài Gòn, kêu gọi nhà nước cộng sản hãy hòa hợp hòa giải, tôn trọng nhân quyền, tôn trọng tự do tôn giáo (Yên nghỉ), Phan Thị Kim Phúc, “em bé napalm” trong một bức ảnh đoạt giải Pulitzer năm 1973 (Sám hối), Mai Thái Lĩnh, nhà bất đồng chính kiến, người biên soạn tài liệu “Lộ trình xây dựng một hiến pháp dân chủ” (Lời của thác) hay Ngô Kha, người mà Sơn Cước đã sử dụng nội dung tập trường ca “Ngụ ngôn của người đãng trí” của ông (xuất bản trước 1975) như hình tượng lãng mạn và nghịch lý của một bi kịch trí thức thời ly loạn (Vẫn sống cùng ngụ ngôn):
chàng thi sĩ đãng trí
ngủ quên nơi đâu không kịp đón hòa bình
ôi chiến tranh, ôi hòa bình
ôi ước mơ nghịch lý
(TĐSC/Vẫn sống cùng ngụ ngôn)
vân vân…
Ngụ ngôn nhưng không phải ngụ ngôn. Ngụ ngôn mà hiện thực; hiện thực mà vẫn ngụ ngôn.
Có vẻ như tất cả những nghịch lý trên đều có tính cách cá nhân. Hoàn toàn không! Trong thơ của Sơn Cước, đó là những nghịch lý lịch sử, xuất phát từ những trớ trêu không tránh khỏi của một giai đoạn đất nước bị sự chi phối của nhiều xu hướng đối nghịch nhau. Nhưng điều oái oăm là, trong tâm cảm của anh, nghịch lý đó vẫn còn tiếp tục mấy chục năm sau khi đất nước đã hòa bình. Ngụ ngôn vẫn còn đó, vừa là những trăn trở vừa là mơ ước.
Tôi tưởng tôi đã quê
Tuổi trẻ đi qua
Tuổi già đang tới
Bạn bè ơi, ai còn ai mất
Ai kẻ vong thân
Ai người quay mặt
Hỡi Huế – Sài Gòn – Hà Nội
Bao nhiêu năm sao vẫn chờ mong
(TĐSC/Vẫn sống cùng ngụ ngôn)
Đất nước, rốt cuộc, qua nhiều và nhiều thế hệ, người ta vẫn sống ở trong tình trạng “chờ mong”. “Phòng đợi”, một bài thơ đầy ẩn dụ, vạch nên con đường đi từ vô vọng tới hy vọng:
Trong phòng đợi của hôm qua
(thì)*[9] Lịch sử bị vùi chôn
(TĐSC/Phòng đợi)
Còn:
Trong phòng đợi của hôm nay
(thì)* Lịch sử bị dời chỗ
(TĐSC/Phòng đợi)
Nhà thơ nhìn về tương lai với một niềm hy vọng ở thế hệ mới:
Trong phòng đợi của ngày mai
(mong rằng)*
Lịch sử bị khai quật
Bởi em bé mới chào đời.
(TĐSC/Phòng đợi)
Những gì bị “vùi chôn” và “dời chỗ” cần phải được thế hệ sau “khai quật”, theo nhà thơ.
Phải chăng đó mới là lúc:
Ra vườn thấy hoa nở
Đi chợ gặp người đông
Nhìn trời mây gió lộng
Nhìn mình lòng rỗng không
(TĐSC/Tâm)
Bài thơ ngắn nghe có mùi thiền vị.
Tôi chia xẻ cái nhìn bi-lạc-quan này của Trần Đình Sơn Cước.
TDN
7/2026
[1] https://tranhoaithu42.com/2012/06/04/tho-ve-hue-trong-thoi-chien-1/
[2] https://www.diendan.org/sang-tac/buc-anh-tim-thay
[3] https://www.vanchuongviet.org/~vanchuon/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=15483
[4] Xem:
https://vov.vn/van-hoa/tho/bai-tho-cua-mot-nguoi-yeu-nuoc-minh-187592.vov
[5] Xem: Nguyễn Đính, như tôi biết
https://damau.org/49667/tap-ghi-thang-nam-nguyen-dinh-nhu-toi-biet
hay: Trần Vàng Sao, Tôi bị bắt
[6] https://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=15741
[7] https://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=15831
[8] Một hình thái tu từ (figure of speech) sử dụng cả ẩn dụ (metaphor) lẫn hoán dụ (metonymy).
(metalepsis = a figure of speech consisting in the substitution by metonymy of one figurative sense for another). Xem: https://www.merriam-webster.com/dictionary/metalepsis
[9] Lưu ý: Những chữ nằm trong ngoặc đơn với dấu (*) là của tác giả bài viết này (TDN) thêm vào.