Ðó là hoàn cảnh chung cho các nhà văn Âu Châu và Pháp nói riêng trong thời kỳ chiến tranh và hậu chiến vừa rồi. Ðó cũng là hoàn cảnh của một số nhà văn bay giờ ở Việt Nam. Họ là những người đã sinh ra và lớn lên trong chiến tranh – chiến tranh bắt đầu từ 1939 và cho đến bây giờ vẫn chưa thấy một viễn ảnh chấm dứt – cho nên không được diễm phúc như những bậc đàn anh có một thời thanh niên ngây thơ, mơ mộng. Những khó khăn cuộc sống đã bóp chết cái tuổi đẹp nhất của cuộc đời và ném họ vào suy tư, phản tỉnh, và hơn nữa, không phải một suy tư về những vấn đề phiếm diện: tổ chức cuộc đời, tình cảm v.v… như thể bao hàm một niềm tin có cuộc đời, có trật tự, có hạnh phúc, có chân lý…, nhưng là suy tư về chính những thực tại nền tảng đó. Họ trưởng thành về nhận thức ngay ở cái tuổi còn được phép vô tư: Những kinh nghiệm sống của một hoàn cảnh đặc biệt đã lay động và gây dựng ý thức chính trị, ý thức xã hội của họ và làm cho họ sáng suốt trước những lừa bịp của những hứa hẹn, hay những danh từ tốt đẹp. Sự hoài nghi đó đòi hỏi họ phải đặt lại vấn đề tất cả niềm tin chỉ là truyền thống, tập tục, qui ước, để tìm hiểu và khám phá ra một hướng đi, một con đường cho chính mình. Tiểu thuyết biểu lộ sự băn khoăn về số phận con người ở đời và thái độ hoài nghi tra hỏi đó. Nhiều khi họ không đề nghị được một giải pháp nào và tiểu thuyết của họ chỉ trình bày một cuộc thành hình, một cuộc đi tìm, một tra hỏi.
Người ta có thể tìm thấy ý hướng đó trong một số những người trẻ đang sáng tác bay giờ như Thanh Tâm Tuyền, Duy Thanh, Dương Nghiễm Mậu, Thảo Trường, Sao Trên Rừng… Tiểu thuyết của họ xuất hiện như một đối thoại của tác giả với chính họ trong một công trình tra hỏi, tìm hiểu ý nghĩa những biến cố, hình ảnh cuộc đời mà họ bắt gặp trên đường đi. Ðã hẳn chưa có những tác phẩm lớn nói lên được một cách phong phú ý hướng trên, nhưng ở những truyện ngắn của họ, phải nhận là có manh nha một ý hướng mô tả trên.
(…)
Trong những truyện ngắn của số nhà văn trẻ trên, như những truyện của những nhà văn Pháp xếp trong quan niệm này, người ta nhận thấy một sự khác biệt hẳn về xây dựng nhân vật. Nhân vật trong quan niệm thứ nhất là một nhân vật sống, cảm, nghĩ, làm, như nhân vật, mà không biết mình là nhân vật; trái lại nhân vật trong quan niệm thứ hai, là một nhân vật biết mình là nhân vật, nghĩa là ý thức, phản tỉnh được những cảm nghĩ, việc làm của mình và tra hỏi về ý nghĩa sâu xa của nó. Do đó trọng tâm của quan niệm 1 là mô tả những hành động cử chỉ của nhân vật như thể nhân vật đồng hóa với hành động của mình; trái lại trọng tâm của quan niệm 2 là nhấn mạnh vào ý thức, như một đối thoại của nhân vật với chính mình trong một cuộc hành trình nhận thức, và vì thế, những sự kiện, biến cố bên ngoài không được mô tả lên như một gía trị tự tại, nhưng chỉ như là những dịp gây thức tỉnh, đưa ý thức vào con đường nhận định mà thôi.
Như truyện “Cái Hố” mô tả cuộc hành trình nhận thức về ý nghĩa cuộc đời cuả một người phế binh.
Lại (tên người phế binh) quen với Hồng, người con gái, từ thuở nhỏ khi hai đứa cùng học một trường, cùng ở một nhà, Lại ở trọ nhà Hồng để đi học; bố mẹ nó bỏ nhau vì một trong hai ngoại tình. Lại là một đứa con trai ham chơi, nhưng cũng có nhiều thắc mắc về tất cả những chuyện xảy ra chung quanh ngay từ khi còn bé; và nó tìm hiểu không phải bằng suy nghĩ trừu tượng, nhưng là bằng thí nghiệm sống động như đốt ngón chân ngón tay để tìm hiểu thế nào là mùi khét của thịt người. Nhất là Lại có nhiều khát vọng. Nó thèm sống, hưởng thụ một cách mãnh liệt như cảm thấy một thiếu sót sâu rộng cần phải lấp đầy. Cuộc đời của nó là một cái hố trống rỗng mà nó cảm thấy cần phải lấp đầy bằng bất cứ cái gì… Nó đi tìm những cái để lấp đầy.
Trên đường đi nhà trường, nó thường dừng lại trước mấy nhà điếm đông chật lính ngoại quốc, có những tiếng cười sặc suạ mùi rượu và những vòng tay đàn ông đuổi theo quờ quạng. Nó há hốc mồm và thèm thuồng được sống như vậy. Nó cũng thường đi qua mấy trại giam mà có thể trông thấy qua hàng rào kẽm gai cái thế lực của kẻ có quyền trước cảnh tra tấn, hành hạ tù nhân. Và nó muốn được làm kẻ có thế lực để đàn áp người khác. Nó mơ ước cuộc sống đó, cuộc sống có thể dâng cho nó những thỏa mãn mãnh liệt, chứ không phải cuộc sống “giả vờ” trên sân khấu như nó nói với Hồng trong một lần hai đứa đi xem kịch: “Tôi thích cuộc đời dưới này, cuộc đời có Hồng, có thỏa mãn, có quyền hành…”. Thế rồi hai đứa lớn lên, Hồng đi lấy chồng, Lại đi lính. Từ nay, Lại được tha hồ lấp đầy cái trống rỗng của cái hố lòng mình bằng đánh đập, hành hạ, hãm hiếp, cướp bóc… Lại sống vồ vập lấy những cái ao ước ở đời và tưởng rằng cuộc đời chỉ là thế.
Nhưng rồi Lại có dịp nhận định ra cái hố cuộc đời không thể lấp đầy được hoặc càng muốn lấp đầy càng làm cho nó trở nên trống rỗng sâu thẳm, và như thế, cuộc đời là gì? Có một ý nghĩa gì?
Trong một cuộc rút lui vì bị phản công, toán quân Lại và đoàn xe của Lại thình lình gặp một cái hố sâu và to bằng một chiếc xe. Hai bên đường là cánh đồng nước, không còn lối để cho xe qua được. Chỉ còn một cách là phải lấp hố và lấp bằng mọi phương tiện, bằng tất cả cái gì có giá trị như một thể khối, một cách cấp bách trước sự phản công dữ dội của quân địch, và với bất cứ giá nào. Nhiều người đã chết vì đại bác của địch đang khi làm công tác lấp đất. Lại đứng chỉ huy gào thét việc lấp hố. Viên chỉ huy đang ở gần cái hố bị một mảnh đạn đại bác ghim vào vai ngã lăn xuống hố. Lại mặc kệ, bất kể, cứ lấp đi, vì tất cả lúc đó chỉ là những phương tiện, kể cả xác binh sĩ chết hay viên chỉ huy bị thương, để cho xe có thể qua, và họ được sống.
“Rồi cái hố cũng đầy, ngổn ngang vừa đất vừa đá vừa gỗ và những cánh tay người thò lên như bám víu lấy cuộc đời. Ðoàn xe lăn bánh chạy qua, cái hố lún dần xuống. Bất kể!”
Về đến hậu tuyến, một số binh sĩ phẫn uất, phản đối thái độ của Lại mà họ cho là dã man, nhất là để cho lấp viên chỉ huy bị thương là chồng của Hồng. Lại thức tỉnh, Lại muốn sống và muốn cho bọn kia cũng sống, vì đàng kia, nơi kinh thành, còn có âm nhạc, ánh sáng, rượu, đàn bà và Lại nghĩ rằng phải thực hiện lòng ham sống đó bằng bất cứ cách nào. Nhưng tại sao bọn còn sống sót lại phản đối Lại? Tại sao hành động của Lại lại là hành động tàn ác dã man? Cái gì là nhân đạo, vô nhân đạo ở đời này? Sự thắc mắc hoài nghi đó làm cho Lại không thể chịu được. Nó như đặt Lại trước một bức tường là hình ảnh một cuộc đời bế tắc, không có nghĩa lý gì. Hơn nữa nó thúc đẩy Lại vào chân tường như bó buộc phải tìm ngay một lối thoát. Không còn lối thoát nào khác vì người ta đứng trong một hoàn cảnh hoàn toàn vô lý, bế tắc. Tình cảnh đó làm cho Lại phát điên; Lại cầm lấy khẩu liên thanh lia một tràng vào hai chân mình… Lại bất tỉnh.
Khi ra nhà thương, bây giờ Lại là một phế binh, cụt cả hai chân ngang đùi, ngồi thường xuyên trên chiếc xe lăn tay.
Lại thức tỉnh, giác ngộ. Lại nhận ra rằng cuộc đời là một trống rỗng mà những nỗ lực lấp đầy của mình chỉ là công dã tràng vô ích, và do đó, cuộc đời ta chỉ còn là một thừa thãi vô dụng. Bây giờ Lại mới thấy mình nhầm tưởng khi Lại thèm sống và muốn được thỏa mãn bằng bất cứ cách nào, bất chấp mọi lề luật, tình nhân loại, và vượt qua mặt cả thượng đế như lúc đoàn xe Lại rút lui: “Chỉ có địch quân và súng đạn đe dọa phía sau. Chúng tôi cần phải chạy về phía trước, để được sống, mặc dù phải giết đi cả những bạn đồng đội một cách vô nhân đạo, mặc dù để được sống cụt chân như bây giờ”.
Nhưng tất cả những cái đó chỉ để đưa tới tình trạng bây giờ: cụt chân, người thừa. Ðây là hiện thân cái phi lý của lòng ham muốn sống: long ham sống của Lại, của con người. Ðây là tang vật tố cáo chiến tranh như là những phương tiện thực hiện ý chí ham sống lấp đầy các hố trống rỗng của cuộc đời.
Ðứng trước cảnh tượng vô nghĩa đó còn trả thù nhau làm gì; vì trả thù chỉ làm thêm một cử chỉ vô ích trong cái vũ trụ vô nghĩa kia. Nghĩ như vậy, nên khi định tới giết Lai để trả thù, Hồng ái ngại và từ bỏ dự định trên lúc nhìn thấy Lại.
Phải chăng cuộc đời là một vô ích? Ý chí muốn sống, đâm chém nhau để sống – có lấp đi được sự trống rỗng cuộc đời? Bây giờ thì Lại biết chắc rằng không thể được và Lại cũng không thể chịu đựng được một cuộc đời vô dụng. Lại muốn trở thành một vật hữu ích, dù chỉ là bằng sự hiện diện, cho người khác, cuộc đời. Nhưng hữu ích bằng cách nào? Tại sao? Tác giả không trả lời, vì hình như chủ đích của tác giả chỉ là muốn nhắc tới sự cần thiết đó như một khám phá thấy ý nghĩa cuộc đời ở cuối đường một cuộc hành trình nhận thức bằng kinh nghiệm đời.
(Trích Xây Dựng Tác Phẩm Tiểu Thuyết của Nguyễn văn Trung, Tự Do Saigòn xuất bản 1962. Trang:110–114)