Home » Biên Khảo, Tham luận Email bài này

Nhân đọc bài “Hai cái chết bất đắc kỳ tử” của tác giả Phan Đức

6 comments ♦ 26.09.2009

Phản hồi nhân việc đọc bài “Hai cái chết bất đắc kỳ tử” của tác giả Phan Đức đăng trên tạp chí Da Màu ngày 18 tháng 9, 2009.

Thưa ông Phan Đức;

Sau khi đọc bài của ông tôi thấy chúng ta cần trao đổi để làm sáng tỏ mấy điều sau đây:

1/ Ngay ở câu mở đầu liên quan đến hai cái chết mà ông gọi là “bất đắc kỳ tử,” ông viết:

— “Họa sĩ Bửu Chỉ và nhà thơ Thái Ngọc San đã lần lượt qua đời với một tính cách hơi giống nhau”.

Xin hỏi ông:

* Tính cách giống nhau của hai cái chết đó là gì?

Theo chỗ chúng tôi và nhiều người Huế khác đã biết như thế này:

+ Vào ngày 7 tháng 7 năm 2005, nhà thơ, nhà báo Thái Ngọc San bị tai nạn giao thông. Người gây tai nạn đã nhanh chóng đưa ông vào viện. Chẩn đoán là chấn thương sọ não nặng, Thái Ngọc San phải nằm viện hơn một tháng và qua đời vào ngày 25 tháng 7 năm 2005, tức là khoảng gần 1 tháng sau đó (1).

+ Vào khoảng trung tuần tháng 12, năm 2002, họa sĩ Bửu Chỉ sau khi ngồi uống cà phê với bạn bè, về nhà cảm thấy nhức đầu nhưng không chịu đi bệnh viện. Hai ngày sau gia đình thấy tình trạng của ông nặng thêm, bắt đầu mê sảng, nên quyết định chở ông đi bệnh viện. Bệnh viện chẩn đoán là Bửu Chỉ đã bị tai biến mạch máu não nhưng vì tới bệnh viện quá chậm nên không cứu nổi. Bửu Chỉ đã trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay của gia đình, bè bạn và các y – bác sĩ vào ngày 14 tháng 12, năm 2002 (2).

Phải chăng cái ông gọi hơi giống đó là: Cả hai đã chết “bất đắc kỳ tử” và thủ phạm là chính quyền Cộng Sản ở Huế?

Thứ nhất, theo định nghĩa về chết, thì đây không thể gọi là chết “bất đắc kỳ tử.” Thứ hai ông Phan Đức căn cứ vào đâu mà đưa ra một giả định có tính chất cáo buộc như vậy? Phải chăng do chính ông suy đoán?

2/ Câu thứ hai ông Phan Đức viết:

“ Vốn là hai sinh viên tranh đấu “ Chống Mỹ cứu nước” trước 1975 của Đại học Huế nhưng sau khi miền Nam rơi vào tay Cộng Sản Bắc Việt, khả năng hội họa của Bửu Chỉ và văn thơ của Thái Ngọc San chỉ được sử dụng một thời gian ngắn ở tòa soạn tạp chí Sông Hương và số phận của họ trở thành một bi kịch đáng ngờ xảy ra sau đó.”

 

Câu này có nhiều điểm cần chỉnh sửa lại cho đúng với sự thật của nó:

—Thái Ngọc San tham gia phong trào với tư cách là văn nghệ sĩ, không phải là sinh viên của Đại học Huế mặc dù ông gắn bó với phong trào Học sinh – Sinh viên rất chặt chẽ và thân thiết.

— Báo Sông Hương xuất bản đầu tiên số ra mắt vào năm 1983 như ông đã biết trong khi giải phóng (hay Cộng sản Bắc Việt xâm lược miền Nam theo cách gọi của ông Phan Đức) vào tháng 4 năm 1975. Từ 1975 đến 1983 là 8 năm. Tám năm này Bửu Chỉ công tác tại Hội và báo Văn nghệ Bình Trị Thiên. Như vậy Bửu Chỉ cộng tác với chế độ Cộng Sản trên dưới 10 năm chứ không phải “chỉ được sử dụng một thời gian ngắn ở tòa soạn tạp chí Sông Hương như ông Phan Đức viết!

— Thái Ngọc San công tác tại Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc thành phố Huế từ 1975. Đến năm 1977 ông chuyển sang công tác tại Hội Văn nghệ và báo Văn Nghệ Bình Trị Thiên trước khi làm thư ký cho báo Sông Hương. Sau “sự cố” báo Sông Hương vào tháng 3 năm 1991 (3), Thái Ngọc San tự ý bỏ việc. Vài tháng sau đó ông chuyển qua làm đại diện thường trực cho báo Thanh Niên tại Huế cho đến khi ông bị tai nạn và qua đời. Trong thời gian nằm viện và qua đời tại đây, vợ ông, bà Dung, được cử đi công tác tại Mỹ, báo Thanh Niên và Thành Đoàn Huế đã cử người chăm sóc và tổ chức tang lễ chu đáo cho ông. Rất may là bà Dung đã về kịp để đưa tang chồng vào phút chót. Cũng cần nhắc thêm rằng tạp chí Sông Hương và báo Thanh Niên là cơ quan ngôn luận của Đảng.

— Về Bửu Chỉ, ông cũng tự ý thôi việc ở báo Sông Hương sau “sự cố” đã nói ở trên. Bửu Chỉ mất năm 2002. Từ lúc thôi việc cho đến lúc qua đời khoảng 11 năm chứ không phải như ông Phan Đức đã viết “ sau cái sự cố(…) trên đây… Bửu Chỉ được mô tả là đột ngột qua đời nhưng cái chết của ông không được ghi rõ nguyên nhân gì”

 

Thưa ông Phan Đức;

Chữ “chưa rõ” ông dùng ở câu trên thật khó hiểu và đáng ngờ. Đề nghị ông trả lời dùm: Ghi rõ cái gì, ở đâu, trên giấy khai tử hoặc giấy xuất viện nào, bác sĩ nào ký, bệnh viện nào cấp? Suy đoán và qui kết như vậy là hiểu biết chưa đầy đủ về những vấn đề liên quan đến y tế.

Về câu chuyện bỏ việc hay ra rìa của Bửu Chỉ và Thái Ngọc San:

Theo tôi và nhiều người Huế khác biết, và cũng theo Nguyễn Khắc Phê mà ông Phan Đức trích dẫn là cả Bửu Chỉ và Thái Ngọc San đều tự ý bỏ việc – bỏ cả chức vụ và lương bổng chứ không phải “bị cho ra rìa” như ông Phan Đức viết. Tự ý bỏ việc và bị cho ra rìa là hai khái niệm rất khác xa nhau. Chắc là ông Phan Đức đã không chính xác khi đưa thông tin này.

3/ Dường như Phan Đức chưa đủ tự tin và do đó sợ rằng kịch bản “sự cố” Sông Hương dẫn đến cái chết của Bửu Chỉ và Thái Ngọc San chưa đủ thuyết phục độc giả Da Màu nên ông đã bổ sung thêm hai sự kiện mà cả Bửu Chỉ và Thái Ngọc San đều có liên quan đến Trịnh Công Sơn.

—Thứ nhất: “Bửu Chỉ đã chứng mình rằng Trịnh Công Sơn không sáng tác để phục vụ cho một isme nào…”

Thông tin này đúng, nhưng từ đó để xác quyết rằng Bửu Chỉ bị “bất đắc kỳ tử” vì ông đã đẩy xa Trịnh Công Sơn ra khỏi quỹ đạo Cộng Sản là một suy diễn hoang đường. Dường như Bửu Chỉ đã không gởi bài viết của mình cho ông Phan Đức. Dường như ông Phan Đức đã lấy thông tin từ các báo chí Việt Nam hay nghe bạn bè kể lại. Một khi báo chí Việt Nam, cũng là báo chí của Đảng Cộng Sản, cho in bài của Bửu Chỉ về Trịnh Công Sơn là người ta đã kiểm duyệt từng li từng tí và đã không ngại bất cứ phát biểu nào của Bửu Chỉ trong những bài đó và như thế đã không cáo buộc Bửu Chỉ như thế này thế nọ. Trong trường hợp kiểm duyệt bỏ sót và phát hiện sau đó, lập tức cả người lãnh đạo báo, cả tác giả đều có vấn đề. Ví dụ báo Tuổi trẻ với nhà báo Nguyễn Văn Hải và báo Thanh Niên với nhà báo Nguyễn Việt Chiến trong vụ PMU hồi 12 – 5- 2008. Vụ này theo đánh giá của đảng cộng sản trầm trọng như thế: Liên quan đến bí mật quốc gia mà hai nhà báo người thì bị tù treo, người thì án tù không quá hai năm, các tổng biên tập bị cách chức.

Việc Bửu Chỉ khẳng định Trịnh Công Sơn thế này thế nọ trên một bài báo sau cái chết của người nhạc sĩ (2001), ở Việt Nam, ở Sài Gòn, ở Huế không thấy ai nói gì.

Nhiều năm nay ở Việt Nam nhiều cán bộ, trí thức, văn nghệ sĩ đã mạnh mẽ phê phán một cách nghiêm khắc, và lên án đảng cộng sản sai lầm trầm trọng thế này thế nọ như Trần Độ, Hà sĩ Phu, Nguyễn Ngọc Lan, Nguyễn Hộ, Chân Tín, Lữ Phương, Tiêu Dao Bảo Cự v.v …, những người này thường bị quản lý, kìm kẹp, làm khó làm dễ, bao vây… nhưng không ai bị giết cả. Nếu ở Việt Nam từ sau 1975, những người bày tỏ lập trường chống đối đảng cộng Sản, chống chủ nghĩa xã hội đều bị giết cả như trường hợp Bửu Chỉ, Thái Ngọc San (theo ông Phan Đức) thì dân số Việt Nam bây giờ có lẽ chỉ còn một nửa.

Tôi mách cho ông Phan Đức một thông tin để ông suy nghĩ lại: Năm 1998, nhà xuất bản Âm nhạc thuộc Hội Âm nhạc thành Phố Hồ Chí Minh (thuộc Ban Tuyên Huấn Thành Ủy Cộng Sản) đã xuất bản tuyển tập “ Những bài ca không năm tháng” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Ngoài 127 bản nhạc còn có bài nhận định (thay lời tựa) của Bửu Ý, một bài nhận định của Hoàng Phủ Ngọc Tường, một bài nhận định của Văn Cao, và đặc biệt là bài tự bạch bằng văn xuôi của Trịnh Công Sơn, từ đầu chí cuối chẳng có dấu vết nào gắn kết Trịnh Công Sơn với kháng chiến chống Mỹ, với cách mạng và chủ nghĩa cộng sản cả. Rõ ràng qua tập nhạc này, Trịnh Công Sơn muốn khẳng định (như Bửu Chỉ sau này đã nói) rằng mình không sáng tác để phục vụ một isme nào cả kể cả cộng Sản isme.

— Thứ hai: theo ông Phan Đức nguyên nhân gần của cái chết đáng nghi ngờ của Thái Ngọc San là do bài viết đặt lại vấn đề “ Ai là tác giả thực sự của bức thư ký tên Trịnh Công Sơn gởi Ngô Kha năm 1974”

Ông Phan Đức viết

Trong khi đó, Thái Ngọc San viết bài: “Thư của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn gởi Ngô Kha không do Trịnh Công Sơn viết. Khởi đầu bức thư do Nguyễn Trọng Tạo cho đăng ngày 12 – 4 – 2004 trên tờ báo Thơ phụ bản của báo Văn nghệ Hội nhà văn.”

Xin được miễn bàn về lập luận của Thái Ngọc San đúng hay sai, tôi chỉ thưa với ông Phan Đức rằng thông tin của ông ở đoạn văn trên là không chính xác. Bức thư ký tên Trịnh Công Sơn gởi Ngô Kha không phải: “khởi đầu do Nguyễn Trọng Tạo khởi đăng năm 2004” như ông đã viết. Sự thật nó là một trong mười bài viết và tài liệu của tập thể và một số cá nhân do phong trào Huế Tập Hợp (Thành ủy lãnh đạo) và gởi in trên tạp chí Đứng Dậy (Đối Diện) số 65 – 66, năm 1974. Báo Đứng Dậy (Đối Diện) là một tạp chí tranh đấu nổi tiếng ở miền Nam được xuất bản tại Sài Gòn trước 1975 do một số Linh mục, tu sĩ, trí thức công giáo khuynh tả chủ trương. Chắc là Nguyễn Trọng Tạo đã lấy thông tin từ nguồn này.

Giả định ông Phan Đức tiếp cận nội dung báo Đứng Dậy và đầy đủ tình hình miền Nam sau hiệp định Paris thì chắc chắn ông đã không viết:

Khởi đầu từ Nguyễn Trọng Tạo…2004

— thứ hai tôi ngờ ngợ hơn nữa một số cụm từ… rất xa lạ với Trịnh Công Sơn trước 1975: “ tiêu diệt tự do tư tưởng, tập thể nhân dân, vấn đề tổ chức cơ cấu…”

Bức thư gán cho Trịnh Công phải được đăng lên để Trịnh Công Sơn xác nhận hay phủ nhận mình là tác giả… Thế mà ngược lại bức thư chỉ được đăng báo sau khi Trịnh Công Sơn qua đời năm 2001, nghĩa là sau bao năm.

— Vấn đề luật pháp Việt Nam Cộng Hòa đối với những lời nói, những bài viết mạnh mẽ nhiều tính chất chính trị tả khuynh…Xin mời ông Phan Đức đọc câu cuối trong bài giới thiệu của tạp chí Đứng Dậy về tập tài liệu đấu tranh gởi từ Huế trong đó có thư ký tên Trịnh Công Sơn gởi Ngô Kha:

“ Đưa ra Trường Hợp Ngô Kha chúng tôi tố cáo bằng trăm ngàn lần tội ác của một đám tay tổ Mafia với chính sách côn đồ của chúng” (tạp chí Đứng Dậy số 65 – 66 trang 82, 1974)

Thưa ông Phan Đức, tình hình Miền Nam sau hiệp định Paris, trên lí thuyết và cũng chừng mục nào đó trên thực tế Miền Nam không còn là của riêng Việt Nam Cộng Hòa mà còn có Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và lực lượng thứ ba.

Trịnh Công Sơn ở trong cái miền Nam ấy, ở cái miền Nam mà ngày nào cũng hội thảo, mít ting, biểu tình chống đối, tố cáo… của Phật giáo, Công giáo (tả cũng như hữu), trí thức, công nhân, báo chí v. v…

Đồng ý với ông Phan Đức từ năm 1954 đến cuối năm 1972, cán bộ nằm vùng Việt Cộng lãnh đạo cán bộ cấp dưới và quần chúng của họ đấu tranh dân chủ, không để lộ tông tích Việt Cộng của mình. Tuy nhiên sau ngày 27 tháng 1 năm 1973 (hiệp định Paris được công bố) sự thận trọng của họ đã giảm bớt đi nhiều bởi Mỹ, và chừng mực nào đó Việt Nam Cộng Hòa, đã bất đắc dĩ phải công nhận họ. Những linh mục, tu sĩ, trí thức công giáo mà nói năng viết lách như tôi đã trích dẫn ở trên thì Trịnh Công Sơn có nói quá bản chất của mình một chút cũng được thôi. Tôi chỉ muốn chứng minh rằng việc ông nhận định từ cách dùng từ của Trịnh Công Sơn là thiếu cơ sở mặc dù tôi cũng chưa có đủ bằng cớ xác đáng để khẳng định Trịnh Công Sơn là tác giả của bức thư gởi Ngô Kha…

Có lẽ bài góp ý hơi dài, nhưng chẳng đặng đừng trước khi chấm dứt xin báo với ông Phan Đức một điều và xin hỏi ông Phan Đức một câu:

— Đây là điều xin báo:

Ông Phan Đức Viết:

“…trong nhóm sinh viên học sinh viết báo Tự Quyết…” Câu này ông Phan Đức viết sai: Báo Tự Quyết không phải cuả Sinh Viên – Học sinh mà do một nhóm các ông các giáo sư, văn nghệ sĩ như Ngô Kha, Trịnh Công Sơn, Trần Viết Ngạc, Lê Khắc Cầm, Chu Sơn, Thái Ngọc San chủ trương và biên tập. Dĩ nhiên trong báo Tự Quyết có các bài của học sinh, sinh viên nào đó nhưng không phải do các sinh viên học sinh làm đầu tầu. Chẳng hạn Bửu Chỉ, một học sinh của Ngô Kha lúc đó, thì lo việc vẽ bìa báo. Cũng như ban biên tập Da Màu hiện nay theo tôi nghĩ không có ông Phan Đức, mặc dầu tên ông Phan Đức xuất hiện trên Da Màu không ít.

—Và câu hỏi là:

Ông Phan Đức lấy tư liệu từ đâu mà khẳng định Ngô Kha “hoạt động nội thành trong Mặt Trận Văn Hóa với sự điều động trong bóng tối của Thành Ủy Huế”

Đồng ý với ông Phan Đức là Thành Ủy Huế có dính líu với Mặt Trận Văn Hóa qua Thái Ngọc San, tôi nói dính líu chứ không nói lãnh đạo. Tôi cũng không xác quyết Ngô Kha là cán bộ của Thành Ủy Huế hay không bởi tôi không có căn cứ. Đề nghị ông Phan Đức chứng minh bằng tư liệu để bảo đảm tính chất chính xác mà ông đã đòi hỏi nơi ông Đặng Tiến.

Xin gởi bạn Minh Vương lời chào để chúng ta cùng đọc hết sức cẩn trọng và sáng suốt bất cứ một câu, một dòng nào trên các trang webs, kể cả những dòng, những câu, những trang tôi vừa viết.

Vi Viên

[1] 14 giờ 35 phút ngày 14-12-2002, hai ngày sau khi được cấp cứu tại Bệnh viện Trung ương Huế bởi cơn huyết áp cao cùng với trạng thái hôn mê, họa sĩ Bửu Chỉ đã trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay của gia đình, bè bạn và các y – bác sĩ. Theo đường link http://maivang.nld.com.vn/53538p0c1020/hoa-si-tai-danh-buu-chi-da-ra-di.htm

[2] (NetCoDo) Từ sáng sớm nay, ngày 25/7/2005, tức ngày 20 tháng Sáu Ất Dậu, bạn bè văn nghệ sĩ, báo chí ở Huế truyền cho nhau một tin đau buồn: Nhà thơ, nhà báo Thái Ngọc San (Ngọc Thảo Nguyên) không còn nữa! Anh Nguyễn Xuân Hoa, giám đốc Sở văn hóa-thông tin TT-Huế và nhà văn Trần Thùy Mai trầm ngâm báo tin cho tôi biết anh San mất ở bệnh viện Trung ương Huế vào lúc 0 giờ 45 phút ngày 25/7, sau gần 20 ngày nằm tại phòng hồi sức cấp cứu, do tai nạn giao thông. Ngày 7/7, Thái Ngọc San đi bộ qua đường, bị một người đàn ông đi xe máy tốc độ cao tông phải, anh bị chấn thương sọ não. Những ngày sau đó, các bác sĩ Bệnh viện Trung ương Huế, gia đình và bạn bè đã hết lòng chăm sóc, nhưng vết thương quá nặng, nên anh đã không qua khỏi! Theo đường link http://giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=170&PHPSESSID=d73b15a6dbc1123d9bd65fe26a4248f6

[3] Liên quan đến bức tranh không tên tạm gọi là “Tay Chân.” Rồi Bửu Chỉ rời toà soạn, từ bỏ tất cả các chức vụ kể cả lương bổng để chuyên tâm sáng tác. Đối với anh, có thể đó là sự lựa chọn đúng đắn, cái rủi lại hoá vận may! 12 năm cuối đời là thời gian anh sáng tác sung sức nhất, ngày một nổi tiếng với những bức tranh thật đẹp hướng đến những vấn đề vĩnh cửu của con người. Hoạ sĩ Đinh Cường, một trong bộ ba thân thiết (Trịnh Công Sơn – Bửu Chỉ – Đinh Cường) đã viết. Theo đường link http://tintuc.xalo.vn/201571720746/hoa_sy_buu_chi_va_buc_tranh_tai_tieng.html

Comments


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

6 Comments

  • Hà Thủy says:

    Thật sự khi đọc bài “hai cái chết bất đắc hỳ tử….” của ông Phan Đức tôi đã thấy có chút gì lấn cấn và không hợp lý khi ông Phan Đức đặt vấn đề “bất đắc kỳ tử”( tôi đã có 1 nhận xét rồi). Bài phản hồi của ông Vi Viên khá là rõ ràng và đầy đủ. Điều tôi muốn nói ở đây là nếu Ban Biên Tập Da Màu cứ cho đăng những bài mà tác giả cố tình hay lười biếng đặt những vấn đề mà thời buổi bây giờ kiểm tra thời gian tính hay nguyên nhân cũng như hệ quả của những nhân vật tương đối có tính lịch sử khá dễ dàng như vậy thì Da Màu làm sao mà đăng cho hết. Các tác giả có quyền nêu ra những nghi vấn nhưng cần thiết phải có những lý luận và chứng cứ thuyết phục, chứ cứ nhìn một cách cảm tính như vậy thì sẽ có biết bao nhiêu “nghi vấn” đây. Xin đợi ở Da Màu những nghi vấn lý thú hơn.

  • Phan Đức says:

    Thưa ông Vi Viên,
    Bài viết của tôi chỉ đặt ra những nghi vấn,có nghĩa rằng đối tượng của nghi
    vấn vẫn là nghi phạm,chứ chưa phải là thủ phạm.
    Ấy thế mà ông lại đặt giả định (Nếu…dân số VN.chỉ còn một nửa) dựa trên một
    vấn đề còn tồn nghi,chưa giải quyết thì cách phản biện này gọi là ngộ luận
    (fallacy),do đó kết luận của ông sai đến 2 lần !
    Tôi đã gửi bài trả lời cho ông nhưng có lẽ không quan trọng gì lắm nên Damau
    chưa cho đăng.
    Trân trọng,
    PĐ.

    • BBT Da Màu says:

      Nhắn tin độc giả Phan Đức:
      Chúng tôi hoặc không nhận được bài trả lời hoặc email có thể bị thất lạc. Xin vui lòng gởi lại phần phản hồi sớm. Thông thường chúng tôi dành ưu tiên cho những đóng góp của quý độc giả để tránh việc mất đi thời gian tính của ý kiến đóng góp/phản hồi.
      Chúng tôi đã gởi email riêng đến ông ngày hôm qua nhưng chưa thấy hồi đáp.

      Trân trọng
      BBT Da màu

  • Núi Ngự says:

    Sự tưởng tượng, hư cấu là cần thiết trong sáng tác văn học. Còn những chuyện vừa xảy ra cách đây không lâu, những “nhân chứng” tại chỗ, những người thân thiết, gẫn gũi với các nhân vật được đề cập, người ta không băn khoăn gì thì không rõ tại sao có những người tự mình đặt ra những giả thiết rồi “luận lý” trên những giả thiết ấy theo chủ quan, chuyện đời ngẫm cũng vui.
    Bài viết của tác giả Vi Viên đã nói rõ cho công chúng ở xa biết những chi tiết xác thực trong các câu chuyện này.

  • Đặng Tiến says:

    Gửi anh (hay chị) Vi Viên.
    Bài anh viết chính xác.
    Đi vào từng chi tiết nhỏ, mà người viết khó bề kiểm soát chi li, thì tôi lưu ý anh câu này: “báo Sông Hương và báo Thanh Niên là cơ quan ngôn luận của Đảng”.

    Theo tôi, thì Sông Hương là cơ quan của Hội liên hiệp văn học nghệ thuật của Huế, nghĩa là tờ báo vừa ngoại vi vừa địa phương. Thanh Niên là cơ quan của Hội Liên hiệp thanh niên, thuộc Mặt Trận tổ Quốc, dĩ nhiên cả hai đều do Đảng CS cai quản, nhưng cai quản đến mức nào, thì tôi không biết.

    Chi tiết này nhỏ thôi, nhưng giải thích được nhiều việc, ví dụ quá trình của báo Sông Hương. Thậm chí hoàn cảnh của nó hiện nay.

    Hay một sự việc gần đây, bài báo Trịnh Cung về Trịnh công Sơn. Bài này, tự nó, không lấy gì làm ghê gớm, đăng trên mạng damau ở hải ngoai, mà lập tức, và sau đó trong nhiều ngày, báo Thanh Niên đã xã đại bác oanh kích tự do vào Trịnh Cung, trong khi báo Tuổi Trẻ, chính thức của Thành Đoàn Thanh Niên Đảng CS, không nói năng gì.

    Và chưởng môn Lữ Phương nhảy lên vũ đài, với một bài tai ác, đánh vào Trịnh Cung, và tàn dư chế độ Mỹ Ngụy, nhân ngày 30 của tháng Tư Đen. Bài Lữ Phương dường như không đăng lên báo trong nước, Thanh Niên chẳng hạn, mà phổ biến trên mạng ngoài nước, Viét-studies, vậy nghĩa là sao?

    Trong bài viết của tôi, lúc đó, ngay từ đầu, tôi đã nêu nghi vấn, trong chủ quan tôi cho là cơ bản, nhưng không ai quan tâm.

    Tôi chỉ lưu ý anh về một chi tiết nhỏ tí teo, mà tôi nghĩ là anh không để ý.
    Nhân ngày chủ nhật vô công rỗi nghề, phiên phiến vậy thôi.
    Và không quên gửi lời thăm cả Nước Huế.
    Đặng Tiến
    .

  • Lam Truong Phong says:

    “Nếu ở Việt Nam từ sau 1975, những người bày tỏ lập trường chống đối đảng cộng Sản, chống chủ nghĩa xã hội đều bị giết cả như trường hợp Bửu Chỉ, Thái Ngọc San (theo ông Phan Đức) thì dân số Việt Nam bây giờ có lẽ chỉ còn một nửa”.

    Điều so sánh này cuả ông/bà Vi Viên, rất tiếc, sẽ thích hợp hơn nếu phân nửa dân số tại VN có khả năng vẽ như Bửu Chỉ và khả năng làm thơ ngang tầm như Thái Ngọc San; và quan trọng hơn nữa, một nửa dân số VN này đăng tải những chống đối qua hình thức tranh và thơ trên sách báo như Bửu Chỉ và Thái Ngọc San đã từng làm Gần đây nhà văn Đào Hiếu đã bị công an kêu lên làm việc và buộc ông phải đóng cửa cái quép cũa ông trên mạng. Qua một bài phỏng vấn của phóng viên đài BBC ông than thở, hồi trước 75, ông tranh đấu ở miền Nam, dù có ngồi trong tù, ông vẫn hồ hởi và phấn khởi vì những ủng hộ bên ngoài hiển hiện trên sách, báo … Còn bây giờ là sự lãnh đạm cũa quần chúng trước sự đàn áp của chính quyền CSVN trên bản thân ông. Như thế thì CSVN có làm gì trên một nửa dân số nước VN đang lặng thinh đó? Ắt hẳn ai trong chúng ta cũng tìm ra được câu trả lời.

@2006-2025 damau.org ♦ Da Màu Magazine
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)