Home » Nhận Định, Văn Học Hải Ngoại Email bài này

ĐẾN THĂM PHÒNG TRIỂN LÃM MÙA ĐÔNG – ĐẶNG THƠ THƠ – NGƯỜI VẼ TRANH BẰNG CHỮ

0 comment ♦ 16.06.2026

 

Đến Thăm Phòng Triển Lãm Mùa Đông

Tôi biết đến Đặng Thơ Thơ lần đầu tiên như là người làm công việc dịch thuật ở một khu học chánh gần nơi tôi cư ngụ. Cô và tôi hằng năm thường gặp nhau qua một số sinh hoạt cộng đồng ở địa phương. Chúng tôi thường đi thoáng qua nhau, gật đầu mỉm cười với nhau, vì dẫu chẳng quen thân nhau cũng cùng chung lý tưởng.

Đặng Thơ Thơ, lần thứ hai tôi biết được rõ hơn một chút, là chủ bút của một tạp chí mạng mà, tính đến lúc đó, ra đời đã được 12, 13 năm. Tôi tự hỏi, một người thích đọc và viết như mình, tại sao lại không biết đến một tờ báo như thế.

Rồi Đặng Thơ Thơ mà tôi được biết đến lần thứ ba, khi có thêm những dịp gặp gỡ và chuyện trò, là một nhà văn, là hậu duệ của Tự Lực Văn Đoàn, là… nhiều điều đáng ngạc nhiên khác. Tôi biết là cô đã có mấy tập truyện ngắn và đang viết một truyện dài đầu tay. Khi cô nói cho tôi biết nhan đề của truyện đó là gì, cũng như nhiều người quen biết của cô, tôi cứ tưởng đó là một cuốn tiểu thuyết về trí tuệ nhân tạo.

Sau đó thì tôi đọc cuốn Khả Thể của Đặng Thơ Thơ. Sáu năm sau (ai đang định viết một cuốn truyện dài đọc tới đây sẽ thấy… ngán!), tôi mới được thưởng thức cuốn tiểu thuyết mang tên Ai của cô. Tuy cuốn sách được viết với giọng văn tự sự, đâu đó tôi vẫn bắt gặp được những đoạn văn tả cảnh, ngắn gọn, nhưng thật gợi hình và chất chứa nhiều cảm xúc của tác giả.

Tập truyện Phòng Triển Lãm Mùa Đông, tôi được đọc khá muộn màng, muộn màng như duyên văn nghệ của tôi với Đặng Thơ Thơ vậy. Nguyên nhân chính là cuốn này đã tuyệt bản từ lâu, mãi sau này tôi mới được đọc, mà lại đọc qua dạng bản thảo chứ không qua một ấn bản nào. Tuy nhiên, tôi lại thấy thích thú với dạng này, vì nó cho tôi cảm tưởng mình đang được thẩm thấu những ý tưởng, những tâm tình của tác giả khi chúng còn tinh nguyên, còn tươi mới, tựa như vừa tuôn trào ra từ ngòi bút của cô.

Trong các tác phẩm của Đặng Thơ Thơ, tôi thấy Phòng Triển Lãm Mùa Đông dạt dào nhiều cảm xúc nhất. Đặc biệt hơn nữa, các cảm xúc được biểu lộ không những qua những dòng chữ, mà còn qua thật nhiều hình ảnh nằm trong những dòng chữ ấy. Càng đọc, tôi càng thấy phần hình ảnh tràn ngập các câu chuyện, mà chuyện nào cũng đong đầy những tâm trạng, những buồn, vui, thương, nhớ, rất đời thường mà cũng rất riêng tư, rất Đặng Thơ Thơ.

Tôi yêu hình ảnh một gian phòng triển lãm vào mùa đông. Lạnh lùng. Đơn độc. Kiêu hãnh. Người ta có thể thả cho trí tưởng tượng của mình bay bổng, phác hoạ ra hình ảnh của một phòng triển lãm nằm trên con phố đìu hiu, cây cối hai bên đường trơ ra những cành khẳng khiu, những cành nhánh của mùa đông rét mướt. Phòng triển lãm này đã mở suốt hơn hai mươi năm nay, và hôm nay, tôi là một trong những người đến thăm trễ tràng nhất.

Tôi kéo cao cổ áo choàng vì một cơn gió buốt vừa thổi qua, co ro bước vào phòng triển lãm. Người đứng gác cửa ngó tôi chằm chằm như muốn hỏi, “What has taken you so long all these years?” Tôi mỉm cười lại với anh ta thay cho câu trả lời rồi tiếp tục đi vào bên trong. Phòng không lớn lắm, nhưng cũng đủ chia ra thành 13 phần khác nhau trên bốn bức tường đứng im lìm trong không khí lặng lờ của một phòng triển lãm lúc đó chỉ có một người khách là tôi. Mỗi phần mang một tên gọi: Mùa Xuân Trắng, Vườn Lan, Mùa Hè, Trăng Mật, Sơn, v.v. Và tràn vào tôi lập tức là những hình ảnh đầy những sắc màu, lúc ấm, lúc nóng, lúc lạnh, có lúc còn đông cứng như đám tuyết trắng xoá ngoài kia.

Ở mỗi phần tường, hai mắt tôi tham lam nuốt vào những hình ảnh trên đó, muốn ghi lại hết những cảm nghiệm của mình được truyền từ tâm tình của người vẽ. Hình ảnh sống động, cảm xúc linh hoạt đến nỗi tôi không nghĩ mình đang đọc những dòng chữ, mà thật sự là đang nhìn những nét cọ mạnh bạo đang nói, đang cười, đang khóc, có khi còn đang la hét một cách câm lặng.

Tôi đi qua, đi lại các phần tường treo tranh, nghe bước chân của mình vang vọng trong căn phòng rộng. Người gác cửa thỉnh thoảng lại nhìn tôi. Chẳng biết anh ta có nghĩ tôi là một người khách thật hay không. Và đột nhiên tôi cũng đâm ra nghi ngờ, có phải mình đã thấy một người gác cửa, hay chỉ là tưởng tượng mà thôi.

Tôi muốn kể hết về những cảm tưởng của mình đối với tất cả 13 phần tường trong phòng triển lãm, nhưng chắc để được như vậy thì tôi sẽ phải viết ra cả một cuốn sách. Vì thế, cuối cùng tôi đành quyết định đứng lại lâu nhất ở phần tường mang tên Phòng Triển Lãm Mùa Đông trong Phòng Triển Lãm Mùa Đông.

Trong bức tranh, à không, trong truyện ngắn này, Đặng Thơ Thơ đã xoá nhoà biên giới giữa chữ nghĩa và hình ảnh. Ở nhiều chỗ, những dòng chữ đã hoá thân thành các hình ảnh, không chỉ hai chiều mà có ba chiều linh động, đánh thức không những thị giác mà còn cả thính giác, xúc giác, khứu giác và vị giác của người thưởng lãm. Rồi tôi ngỡ ngàng nhận ra: Đặng Thơ Thơ là người vẽ tranh bằng chữ.

Tôi không nghĩ mình đã nói quá. Voltaire, nhà văn Pháp trong Thời Kỳ Khai Sáng1, có nói: “Viết là vẽ bằng lời.”2. Vặn nhanh tới mấy thế kỷ sau, nhiều hoạ sĩ hay nhà văn đương thời cũng san sẻ cùng một ý tưởng đó. Chẳng hạn như Reed Abbitt Moore, một hoạ sĩ kiêm văn, thi sĩ ở Salt Lake City, Utah đã nói trong blog của bà, có phần chi tiết hơn, như sau: “Viết là như vẽ bằng chữ, trang giấy là khung vải, cây bút là cọ vẽ, chữ nghĩa là màu sắc, và các động từ, danh từ cùng tính từ là sự pha trộn các sắc thái để thêm chiều sâu vào bức tranh đang được sáng tạo.”3 Sau hết, Carla Courtney, một sinh viên của Trường Cao Đẳng Tiểu Bang Florida, Pensalola, trong bài viết đoạt giải Walter Spara Writing Contest của cô, đã viết một cách đầy sức thuyết phục về sự liên quan giữa viết và vẽ: “Nếu một bức tranh vẽ ra được ngàn lời, thì có thể nói rằng một ngàn lời cũng vẽ ra được một bức tranh. Một khía cạnh quan trọng của sự kể chuyện là việc sắp xếp để tạo ra không khí hay cảm xúc cho câu chuyện. Tiến trình này tương tự như như việc vẽ một bức tranh. Người viết dùng tài miêu tả của mình để giúp người đọc mường tượng ra khung cảnh đó.”4

Trong truyện ngắn Phòng Triển Lãm Mùa Đông, nhân vật chính xưng tôi trở về căn phòng áp mái, nơi cất giữ những bức tranh của người chị, một họa sĩ tài hoa nhưng cô độc. Trong ký ức, chị luôn sống dưới áp lực và sự khắt khe của người cha, chỉ phản kháng bằng im lặng. Chị từng được một họa sĩ vẽ chân dung nhưng thất vọng vì thấy bức tranh không lột tả được đôi mắt và con người thật của mình. Mùa đông năm ấy, sương mù dày đặc bao phủ hồ và rừng, khiến chị trăn trở với ám ảnh phải vẽ cảnh vật trước khi mọi thứ biến mất. Một đêm, chị nói rằng trong bức tranh bỗng hiện ra một con đường lạ trong sương. Chị theo con đường đó đi xuống hồ rồi mất tích. Từ đó, đối với nhân vật chính, bức tranh trở thành “khung cửa thứ hai” ám ảnh, nối kết thực tại và ký ức không thể nguôi ngoai. Người kể chuyện vẫn sống trong day dứt, chờ mong một cách tuyệt vọng tìm thấy được con đường chỉ có trong mùa đông và giấc mơ.

Tôi là một người thích xem tranh một cách tài tử. Tôi không có kiến thức sâu rộng của những người am hiểu hội hoạ một cách chuyên môn. Tôi thường lẫn lộn trường phái này với trường phái kia. Tôi hay nhầm chất liệu vẽ này với chất liệu nọ. Hội hoạ, đối với tôi, giản dị là những màu sắc với các bố cục khác nhau, chuyên chở cảm xúc, tâm tình, ký ức và hoài niệm, đi từ người sáng tạo tác phẩm đến người xem là tôi. Nhiều bức tranh, nhiều tên gọi của người vẽ đã ở lại trong trí nhớ của tôi, mỗi tác phẩm vì một lý do khác nhau. Tôi thấy những bức tranh đó trong viện bảo tàng, trong phòng triển lãm, trong những tuyển tập hội hoạ, trên các tạp chí hay cả trên không gian mạng, mà do nhân duyên này hay nhân duyên khác tôi đã tìm đến được.

Và, thật lạ kỳ, mỗi đoạn miêu tả hình ảnh trong Phòng Triển Lãm Mùa Đông đều khiến tôi liên tưởng đến một bức tranh mà tôi đã có lần được xem qua, thích và giữ lại trong trí nhớ. Trong truyện ngắn độc đáo này, hình ảnh đầu tiên hiện ra là lúc Đặng Thơ Thơ “vẽ” lại một bức tranh. Xem một bức tranh tận mắt mang lại một cảm giác rất khác, so với khi bức tranh được vẽ lại bằng lời. Bức-tranh-lời dùng những cung độ khác nhau của ánh sáng và màu sắc để người đọc có thể hình dung ra một khu phố cũ kỹ về đêm một cách linh động. Độc đáo ở chỗ là nhân vật xưng tôi thấy bức tranh thay đổi thường xuyên, trong đó những nhân vật thường được thêm bớt mỗi lần được xem lại, tựa như bức tranh là một khung cửa nhìn ra cảnh đời thật bên ngoài. Nhận xét này của người kể chuyện, tôi đoán là do tâm trạng xao xuyến, dao động của cô trong câu chuyện u trầm này. Bức tranh làm tôi nghĩ đến hoạ phẩm нічна вулиця (“Night Street/Phố Đêm”) của hoạ sĩ Dmitri Danish (1966 -), người Ukraine. Trong bức tranh này, tôi đếm được bốn người trong một con hẻm chật hẹp, hai bên là nhà cửa cất cao nhiều tầng, và cũng có ánh đèn vàng hắt ra, phủ lên hai, ba hàng quán vặt, gần như bức tranh của người chị vẽ mà tác giả mô tả lại trong truyện.

Night Street – Dmitri Danish

Một trong những bức tôi hay coi lại là “Phố đông”, một khu phố cũ với những mảng tường lem luốc lẫn vào bóng đêm. Những ánh đèn đỏ trên tường gây cho tôi cảm giác ấm cúng, những vệt vàng úa hắt ra một ánh sáng mệt mỏi. Đã nhiều bận tôi thử đếm những người trong đó, nhưng không lần nào có được một con số trùng nhau. Lâu lâu tôi lại khám phá ra có người nào đó mới xuất hiện ở bao lơn, hoặc họ âm thầm đi ra từ một khúc rẽ tối. Cũng có khi bóng họ biến mất vào một hành lang thăm thẳm, thỉnh thoảng lại có một người dừng chân dưới cột đèn, chăm chú ngắm bóng mình đổ dài trên mặt đất. (tr. 46)

La Fenêtre ouverte – Henri Matisse

“Bức tranh” kế tiếp trong câu chuyện người chị hoạ sĩ này lại khiến tôi liên tưởng đến một bức của Henri Matisse, hoạ sĩ người Pháp đã vẽ qua hai thế kỷ, XIX và XX, nổi tiếng với loạt tranh La Fenêtre ouverte (“Cửa Sổ Rộng Mở”). Matisse vẽ rất nhiều khung cảnh khác nhau qua vuông cửa sổ của những nơi mà ông đã từng đi qua. Chỉ cần tìm kiếm một chút, không đến nỗi quá khó khăn, là có thể tìm ra bức tranh với khung cửa nhìn ra cảnh hồ nước và khu rừng hoang như tác giả cho thấy trong truyện. Ở đây, không khí ma mị, hư hư thực thực có thể làm cho người đọc rợn người, hoang mang khôn tả. Một bên là bức tranh, một bên là cảnh vật thật bên ngoài, cả hai đều cho thấy hình ảnh khung cửa sổ. Với tư cách là người đọc, mà cũng là người xem tranh, tôi cảm được điều đối nghịch khó hiểu toát ra từ hai “bức tranh” này. Bức tranh “thật”, rất thật, nhưng nó là tác phẩm của một người không còn nữa. Bức tranh “không thật” lại là cảnh thật, nhưng được phác hoạ một cách huyền ảo, cộng thêm những hình ảnh từ trong trí tưởng tượng của người em gái. Nhận thức và cảm xúc của một người có thể đan dệt cái thật và cái không thật với nhau, không có sự phân biệt rạch ròi giữa hai thế giới đó. Điều này có thể đến từ cảm giác chới với của một người đang đối diện với những sự vật trước mắt và ý nghĩ về cái chết, một điều không bao giờ có thể hiểu được.

Khi mở mắt ra, trước mắt tôi giờ là hai khung cửa thật giống nhau, và căn phòng chợt bừng lên dưới hai luồng sáng trong dìu dịu – thứ ánh sáng chỉ có trong hồi tưởng, lẫn lộn giữa mơ và thực, làm hồn tôi bâng khuâng mỗi lần nhớ lại. Khung cửa thứ hai cũng mở ra một khoảng trời thênh thang không nắng làm cảnh hồ thêm u tịch, một cánh rừng hoang mà trong tưởng tượng của tôi chằng chịt những rễ cây quấn quít lấy nhau. Chỉ có điều màu sắc bức tranh trông buồn thảm hơn khung cửa thật. (tr. 52)

Trong phần lớn khung cảnh trong truyện, sương mù là một nỗi ám ảnh, đồng thời là một ẩn dụ, bàng bạc từ bên ngoài, rồi tràn vào tâm trí và tâm hồn của tác giả, tạo một không khí huyền ảo, mơ nhiều hơn thật. Như thể sương mù che khuất đi một phần thực tế, làm tê dại nhận thức và tâm tình của người nhìn thấy nó. Sương mù và buồn. Sương mù không thể làm người ta vui. Trích đoạn dưới đây, qua “nét vẽ” tài tình của người kể chuyện, làm tôi không thể không nghĩ đến bức tranh mang tên An Early Foggy Morning (“Sáng Sớm Mù Sương”) của David Snider, hoạ sĩ người Mỹ sinh ra ở Boston nhưng hiện tại đang sống và vẽ ở Berlin, Đức Quốc. Tranh của ông cho thấy sương mù chập chùng lên nhau, với các màu xanh lam, xanh dương và các sắc độ của màu vàng nhạt. Trong tranh chỉ thấy sương mù và sương mù, với hậu cảnh làm cho người xem tự hỏi, đó cũng là sương mù hay là những chòm cây nhấp nhô đang bị sương mù bao phủ?

An Early Foggy Morning – David Sneider

“Bức tranh” của người kể chuyện thì nhiều vật thể hơn, ngoài lớp sương mù: Mây, nước, cỏ cây và gió. Vẽ một bức tranh về gió cũng khó, nhưng trong một bức-tranh-lời thì… đây là một lợi điểm của người viết-vẽ. Ẩn sau sự miêu tả hết sức chi tiết, đằng sau bức tranh, là nỗi buồn. Buồn u trì, buồn nặng nề, buồn theo cả hai chiều hướng, người buồn cảnh có vui đâu, mà cũng là vì cảnh buồn người có vui đâu.

Chưa bao giờ sương mù lại nhiều và triền miên như mùa đông năm ấy. Hầu như sáng chiều không khí lúc nào cũng nặng chĩu hơi nước. Trong nhiều ngày chúng tôi không nhìn thấy mặt trời, chỉ có mây xám dày sà xuống từng mảng, rồi trôi đi chầm chậm, nặng nề, bất tận. Rất hiếm hoi là những giờ gần trưa, khi sương mỏng bớt, cảnh vật hiện ra lờ mờ, tôi có thể nhìn thấy những lá cỏ đang ngời lên sắc nước. Còn lại là những thời khắc lê thê buồn khi gió lạnh lùa những làn hơi trắng ngăn mọi nẻo đường và phủ một lớp màn bịt mắt chúng tôi. (tr. 53)

Trong ba nhân vật trong câu chuyện, nhân vật người cha thấp thoáng trong hậu cảnh, làm nổi bật hai nhân vật chính là người-chị-hoạ-sĩ và người-em-văn-sĩ. Toàn câu chuyện bao trùm những tương tác giữa các nhân vật, tương tác một cách nhẹ nhàng, uyển chuyển, như sương mù pha chút gió nhẹ, như tia nắng yếu ớt lẫn vào đám mây đen, như thực tế lẫn vào tranh vẽ, như tranh ôm choàng lấy thiên nhiên bên ngoài. Bức tranh mà người chị bắt đầu vẽ không khỏi gợi cho tôi nhớ đến bức Through a Cottage Window (“Qua Vuông Cửa Sổ Của Ngôi Nhà Tranh”) của Charles Ginner, hoạ sĩ người Anh (1878-1952). Ginner cũng vẽ một khu rừng qua khung cửa sổ như trong bức tranh của người chị. Có khác chăng là khu rừng của ông nổi bật trên một nền trời quang đãng, còn khu rừngqua nét vẽ của người chịlà khu rừng bị “nhiễm” từ thiên nhiên ủ dột bên ngoài. Người em gáingười viếtdường như đã trộn lẫn cảnh vật bên ngoài vào nội dung của bức tranh, khiến cho người đọc băn khoăn, không biết đây là cảnh thật hay cảnh trong tranh. Màu sắc của ngoại cảnh (hay trong tranh?) được nhấn mạnh bằng những tính từ rất gợi hình như “tái”, “úa” hay “xỉn” dành những sự vật được miêu tả. Bên cạnh đó, còn những tính từ rất “mạnh” khác, đi kèm với những danh từ mà chúng khắc hoạ: “nền rêu” thì “loang lổ”, “bậc thang” thì “mòn”, “con đường” thì “đìu hiu”. Ở đây, “người đọc” đã trở thành “người xem”, hình ảnhqua chữ nghĩanổi hẳn lên như một bức tranh được in ra từ chiếc máy in ba chiều. Tâm trạng của người viết đã thoát ra khỏi bức tranh và luồn vào trái tim của người-đọc-người-xem.

Through a Cottage Window – Charles Ginner

Vẻ ảm đạm bắt đầu nhiễm vào những bức tranh. Mặt người, phố xá ẩn hiện nhạt nhòa sũng nước. Hình ảnh chúng trong ký ức luôn luôn ngả màu tái, úa vàng, hoặc xỉn trên nền rêu loang lổ của những bậc thang mòn, những con đường len lỏi đìu hiu. Chị trở nên nhạy cảm hơn bao giờ, thời tiết u ám đã ảnh hưởng tới những cơn hưng phấn bất ngờ và dai dẳng. Đó là lúc chị khởi sự vẽ cảnh rừng và hồ nhìn qua khung cửa sổ duy nhất trong phòng. (tr. 53)

Sương và rừng. Sương và hồ. Sương và chiều. Sương và bóng tối. Những không gian và thời gian khác nhau lần lượt được kết hợp với sươngđầy tính kỹ thuật và mỹ thuậtđể tạo ra những hiệu ứng chất chứa nhiều mức độ của nhận thức và cảm xúc. Hình ảnh sương trên mặt hồ trong đoạn miêu tả dưới đây gợi lại cho tôi cảnh mặt hồ phủ sương trong bức tranh Lake George (“Hồ George”, 1869) của John Frederick Kensett, hoạ sĩ người Mỹ chuyên vẽ phong cảnh. Mặt hồ trong tranh của ông có một làn sương mỏng phơn phớt, và trên cao hãy còn một chút nắng xuyên qua mây. Thời điểm có lẽ là một buổi trưa. Còn trong “bức tranh” của người kể chuyện, chiều đã xuống. Sương ban đầu còn mỏng, nhưng càng lúc càng dày đặc. Hình ảnh này như thể đi đôi với tâm trạng của người chị và người em gái: cả hai cùng chìm ngập trong thực giác lẫn ảo giác, trong ám ảnh và trong cảm hứng.

Lake George – John Frederick Kensett

Chiều xuống rất mau. Thoạt đầu, sương còn như lớp lụa mỏng ôm ngang mái nhà và những chạc cây. Mỗi trận gió ào tới lại thổi băng băng những lớp mây trắng đập vào mặt kiếng. Khói bốc lên từ mặt hồ dưới kia những làn hơi nghi ngút. Khi bóng tối lên thì sương mù đã đan kết dày đặc thành từng mảng. Khu rừng biến mất thật đột ngột, nó đã bị sương nuốt chửng. (tr. 54)

Câu chuyện càng diễn tiến đến đâu thì người đọc thấy mình càng chìm hẳn vào trong một thế giới lạ lùng. Trong thế giới đó, cảnh vật thiên nhiên và tranh hầu như hoà nhập lại thành một. Người kể chuyện đi từ tranh ra thực, rồi từ thực trở vào trong tranh. Hai thế giới tương tác với nhau, quyện vào nhau, và giải nghĩa cho nhau. Ở đây xúc giác được nhấn mạnh: cảm giác ấm áp tìm được từ ánh sáng của một cây đèn, hắt vào vuông cửa kính và phản chiếu trở lại trong gian phòng. Như một xoa dịu nhẹ nhàng cho cái lạnh lùng, tuy không nói rõ ra, từ màn sương mù lớp lớp ngoài kia. Như một trùng hợp hy hữu, nữ hoạ sĩ người Phi Luật Tân, Jae Dougall (hiện đang cư ngụ ở Victoria, Canada), có bức tranh không-tựa-đề về tĩnh vật vẽ một chiếc ghế, phía sau  cũng có một cây đèn với ánh sáng giao thoa với bên ngoài, tựa hồ đã vô tình vẽ lại bức tranh của người kể chuyện.

Untitle – Jae Dougall

Bức tranh quả thực đã làm tôi xúc động. Đó là hình ảnh tái tạo phong cảnh thân yêu và quen thuộc của tôi nhìn qua khung kính loang loáng nước; nhưng đồng thời chính mặt kính ấy lại tỏa ra một luồng sáng ấm cúng, phản chiếu từ cây đèn chụp góc phòng. Một mảng tranh là nơi hai vùng không gian trong ngoài gặp nhau, khi một hình ghế vách tường nhập nhòa vào bóng một đỉnh cây, trên ngọn lung linh chùm đèn hình nến. Tôi lẳng lặng ngắm bức tranh, như tìm kiếm một thực thể đang ẩn náu ngoài kia, đng sau lớp sương bưng bít, và hư ảo. (tr. 55)

Thế rồi tranh đã trở thành như thật, cũng như những phong cảnh miêu tả từ đầu đến cuối câu chuyện không khác gì một bức tranh. Trong bức tranh đó, những niềm ám ảnh, những nguồn cảm hứng, sự xuất hiện, sự biến mất, hy vọng và tuyệt vọng, thực và mơ, tranh và cảnh, tất cả đều nhập nhoà đan lẫn vào nhau. Người kể chuyện hồ như đã mất đi giác quan về thực tế, trông tranh mà ngỡ là đời thực, yên lòng là vẫn được nối kết với đời sống bên ngoài. Đọc đến đoạn dưới đây, bất giác tôi mường tượng đến hoạ phẩm Sous les citronniers, Bordighera (“Dưới Rặng Chanh”) của Claude Monet, mà trong đó các màu sắc khá ảm đạmmàu xanh thẫm của cỏ và lá tươi, màu nâu đỏ ủ ê của lá chanh úa, màu vàng sậm của những quả chanh, màu xám nhạt trên cao của mây, và một chút, một chút thôi, màu trắng yếu ớt của nắng, không đủ để làm khu vườn chanh thoát ra khỏi những gam màu u uất. Hẳn là do chủ ý của nhà danh hoạ.

Sous les citronniers, Bordighera – Claude Monet

Suốt một khoảng đời dài , bức tranh đã trở thành khung cửa thứ hai của căn phòng. Chỉ cần nhìn vào đó, tôi cũng biết trời ngoài kia thật sự ra sao—nắng gió, hanh khô, hay mây mù, giông bão… Khung cửa này vừa được thay một tấm màn che mới… Đó là ý muốn của bố, ông sợ bụi mốc và thời gian sẽ làm hư những bức tranh. Nhưng cũng có thể hiểu theo nghĩa khác—như để ngăn cách chúng với hiện tại, hoặc để bảo vệ hiện tại. (tr. 59)

Như vậy thì khung cửa thật của căn phòng đâu mất rồi? Chắc nó vẫn còn đó, nhưng đã không còn công dụng mở toang ra với cuộc sống bên ngoài. Ở đoạn này, người viết đãvô tình hay cố ý?dùng hai danh từ “khung cửa” và “bức tranh” một cách nhập nhằng, làm người đọc không còn phân biệt đâu là đâu nữa. Hiện tại chỉ còn được thấy trong bức tranh. Và bức tranh đã trở thành khung cửa. Hiện tại vốn sống động là thế, nay đã trở thành một thứ tĩnh vật trong bức tranh. Và hai trong các nhân vật trong câu chuyện đang cố níu giữ hiện tại đótrong tuyệt vọng lẫn hy vọngđể mong một ngày nào, nhân vật thứ ba sẽ trở về từ cái hồ, lần theo con đường trong bức tranh, rồi bước ra ngoài, trùng phùng với những người thân yêu. Và gương vỡ lại lành, như những ngày thân yêu, xưa cũ.

Hà Nguyên Bình
Tết Bính Ngọ 2026

______________________________________________

1 Le siècle des Lumières (1715-1789)

2 Nguyên văn tiếng Pháp “L’Écriture est la peinture de la voix,” trích từ bài viết “Alphabet” trong bộ sách Questions sur l’Encyclopédie, gồm chín tập (1770-1772).

3 Nguyên văn tiếng Anh Writing is like painting with words, the paper is the canvas, the pen is the brush, the words are the colors and the verbs, nouns and adjectives are the blending of the hues that add depth to the picture you are creating.”

4 Nguyên văn tiếng Anh “If a picture paints a thousand words, then it can also be said that a thousand words paint a picture. An important aspect of story-telling is the establishment of setting to create the mood or feeling of the story. This process is the equivalent of painting a picture. The writer uses his or her descriptions to help the reader visualize the setting.” Giải thi viết văn này do Phân Khoa Văn Chương Anh và Truyền Thông tổ chức vào năm 2012.

 

 

 

Comments


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

@2006-2025 damau.org ♦ Da Màu Magazine
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)