Home » 50 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại (1975-2025) Email bài này

ĐẠI NẠN LỚN NHẤT

0 comment ♦ 15.05.2025

*

Trích đoạn hồi ký Đi Tìm Thời Gian Đã Mất

Sáng sớm ngày 10 tháng Ba năm 1975, sinh viên Việt Nam thức dậy kinh hoàng với tin Ban Mê Thuột, một thị trấn lớn ở vùng Cao Nguyên, bị lực lượng Bắc Việt tràn ngập. Tiếp theo đó là cuộc triệt thoái toàn bộ khỏi các điểm chiến thuật quan trọng nhất theo lệnh tổng thống Thiệu. Những đoạn phim ngắn cho thấy sự khủng khiếp của cuộc thất bại quân sự trầm trọng nhất từ trước tới nay trong lịch sử của Nam Việt Nam. Đó không phải là cuộc triệt thoái mà là một cuộc tháo chạy bi thảm của quân lính và thường dân trên đoàn xe di tản bị Việt Cộng phục kích nhắm trực xạ. Quốc lộ 7 trông như một nghĩa địa vĩ đại đầy dẫy những xác xe quân sự. Thương vong chắc chắn phải rất cao vì đoàn công voa bị nghẽn trở thành bia của hỏa lực cộng sản. Đám con gái xem tin tức với chúng tôi bưng mặt khóc nức nở.

Trong khi các bạn tôi từ Saigon còn bám lấy hy vọng mong manh sẽ có đảo ngược tình thế (họ cắt nghĩa lệnh rút quân của ông Thiệu như là một cố gắng áp lực Mỹ tái viện trợ quân sự đã bị cắt bỏ sau Hòa đàm Paris, và Saigon và các tỉnh miền Nam sẽ được an toàn), tôi bị một cú sốc khác khiến tinh thần hoàn toàn suy sụp: hai tuần sau khi Ban Mê Thuột thất thủ, xe tăng quân đội Bắc Việt rầm rộ chạy vào thành phố Huế bỏ trống. Quốc lộ 1 và bãi biển Thuận An đầy những xác người, chiến cụ và xe quân sự bỏ lại sau khi tháo chạy. Một người bạn bảo tôi anh có nhận một cú điện thoại từ mẹ anh ta cho biết gia đình của người anh của anh đã từ Huế chạy vào được Đà Nẵng. Tôi không biết gia đình tôi có phải trong số người may mắn chạy vào được hay còn mắc kẹt ở bãi biển Sơn Trà. Nga khó mà lo hết mọi chuyện với một ông cụ đau ốm và năm đứa con nhỏ, đứa nhỏ nhất mới có một tuổi (hai tháng trước khi mất Huế, vâng lời cha tôi, Nga nhận nuôi con bé ở viện mồ côi, do đó nay chúng tôi có năm đứa con cả thảy). Tôi khẩn cầu Trời Phật sao gia đình tôi đến được Đà Nẵng, như vậy sẽ an toàn hơn vì ông Thiệu thề sẽ bảo vệ thành phố này bằng mọi giá. Tôi gởi một điện tín về em tôi, dặn nếu thấy Nga thì bảo hãy ở lại Đà Nẵng vì chạy vào Saigon bằng xe hơi rất nguy hiểm.

Nhưng ông Thiệu không giữ lời hứa. Đến phiên Đà Nẵng bị bỏ trống chỉ năm ngày sau khi Huế mất. Ngày 30 tháng Ba năm 1975, xe tăng quân đội Bắc Việt vào nơi từng là căn cứ quân sự Mỹ lớn nhất ở Việt Nam không tốn một phát súng.

Vì mọi liên lạc với Việt Nam bị cắt đứt hoàn toàn, tôi không làm gì khác hơn là xem tin tức để tìm gia đình! Những đoạn phim ngắn trên TV cho thấy những chuyến tàu chở đầy dân di tản từ Đà Nẵng đến với từng đám trẻ con chết vì đói và khát. Phim chiếu cận cảnh một đứa bé chết khiến tôi chợt nghĩ ngay đến thằng Hùng, con chúng tôi. Đứa bé đội chiếc mũ nỉ màu xanh, mặc chiếc áo sơ mi trắng và quần short xám mà tôi thấy con tôi mặc trong tấm hình gần đây. Tôi mở mắt to nhìn vào đoạn phim trên TV, chưa đầy mấy giây đồng hồ, nhưng hình ảnh đó in đậm vào trí nhớ tôi. Có phải đứa bé trong đoạn phim ngắn đó là thằng Hùng không? Gia đình tôi có thể ở trên chiếc tàu đó đang đậu ở cảng Nha Trang. Có thể nào Nga đã đem gia đình lên tàu thủy chạy vào Nha Trang vì Nga có người chị ở đó? Ở đây an ninh hơn và nếu tình hình tệ lắm thì người chị này có thể đem gia đình tôi vào Saigon. Tôi không hiểu tại sao khi thấy đoạn video ghê gớm đó, tôi vẫn còn bám lấy hy vọng là gia đình mình đã vào đến Nha Trang. Có lẽ tôi muốn gia đình tôi bình an để có cơ gặp lại. Tôi nhắm mắt, cố không nhớ cảnh trẻ con chết khi hình dung gia đình tôi trên chiếc tàu ấy. Nếu tất cả gia đình tôi đều bình an ngoại trừ bé Hùng? Làm sao tôi có thể chấp nhận tin này nếu nó là sự thực? Trong số sinh viên Việt Nam ở Đại học Texas, tôi là người duy nhất có con nhỏ ở nhà và là người không được tin gì về gia đình từ tháng Ba đến giờ. Hoàn cảnh của tôi tệ hơn bất cứ ai ở đây, và tôi chịu đựng một mình. Khi có tai biến xảy ra, cùng nhau chịu đựng dễ hơn chịu đựng một mình. Khi gia đình cùng nhau chia xẻ một mối đau khổ chung, chúng ta đem an ủi và sức mạnh đến cho nhau và nỗi đau thương có thể chịu đựng được. Tôi không được may mắn như thế.

Cảnh tượng nhiều người di tản đến Nha Trang cho tôi một tia hy vọng, nhưng hy vọng đó nhanh chóng tan biến và trở thành lo sợ, và sau cùng là tuyệt vọng. Tình hình quân sự trở nên tồi tệ quá nhanh đến nỗi Nha Trang và tất cả những tỉnh miền nam Trung phần còn lại đều bị bỏ ngõ sau khi Đà Nẵng mất. Hình ảnh những địa điểm quen thuộc nơi tôi đoán gia đình tôi có thể trôi giạt đến chìm vào bóng tối, tan rã, biến mất. Cuộc tổng tấn công của cộng sản lần này giống như một cơn đại hồng thủy. Nó đến từ mọi phía, hết sức bất ngờ, quá nhanh nên quét sạch hầu hết mọi thứ. Rất ít người thoát khỏi, ngoại trừ những kẻ giàu có, có quan hệ với Mỹ, hay chỉ may mắn suông. Gia đình tôi đứng đầu là một phụ nữ với năm đứa con dại và một cụ già đau ốm không thuộc loại nào theo những tiêu chuẩn này.

Đầu tháng Tư năm 1975, các chính khách và nhà báo ở đây tiên đoán Việt Nam Cộng Hòa sẽ sụp đổ trong vài ngày. Tình hình xấu đi về mọi phương diện. Gerald Ford ra trước Quốc hội xin cấp 300 triệu Mỹ kim viện trợ cho chính phủ Thiệu nhưng chỉ gặp một quốc hội mặt lạnh như đá. Chỉ có Ted Kennedy lên tiếng, nhưng không phải ủng hộ yêu cầu của Ford. “Một xu tôi cũng không cho họ,” Ted Kennedy giận dữ đả kích ý tưởng tìm cách cứu vớt quốc gia mà anh của Ted đã can thiệp bằng quân sự để ngăn chận Trung Hoa cộng sản. Bây giờ đã quá muộn rồi, và Ford chẳng làm được gì hơn là ra lệnh một cuộc di tản hỗn độn một số trẻ em ra khỏi Saigon bằng phi cơ, dường như có âm mưu cứu một phần của thế hệ tương lai khỏi rơi vào tay cộng sản. Cử chỉ mang tính cảm tình tượng trưng của Ford là một lời cảnh báo cho dân chúng Nam Việt Nam rằng Mỹ đã rửa sạch tay vấn đề Việt Nam. Tiếp theo cuộc di tản này và sự tháo chạy của tòa Đại sứ Mỹ hỗn độn đến cùng cực bùng ra ở Saigon, nhanh chóng đưa Nam Việt Nam đến sự diệt vong đã đoán trước.

Hai thập niên Mỹ can thiệp tại Việt Nam đã làm cho người Việt trông chờ ở Mỹ như sự nương tựa tâm lý. Trong khi Việt Nam Cộng Hòa đang giãy chết, tôi và một số bạn bè bám vào hy vọng—hy vọng mà chúng tôi biết là ảo tưởng—vì Mỹ tạo ra tình trạng hỗn loạn này nên một cách nào đó họ cũng có thể ngăn chận được cuộc tràn chiếm Saigon và thương thuyết cho một giải pháp chính trị. Chúng tôi chỉ muốn hồi hương thay vì mòn mỏi ở xứ sở này suốt đời. Sau khi cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất chấm dứt, có nhiều chuyện đau lòng. Một người bà con với tôi sang Pháp lúc độ hai mươi tuổi, đến lúc được phép về Bắc Việt thăm gia đình thì tóc anh ta đã bạc phơ! Vì lòng hận thù của cộng sản Việt Nam đối với người Mỹ, nếu Saigon mất—và chắc chắn sẽ mất—những người được giáo dục ở Mỹ như chúng tôi sẽ không có cơ hội được gặp lại gia đình.

Giữa lúc chúng tôi hoàn toàn tuyệt vọng, lời tuyên bố của thượng nghị sĩ Mỹ Mike Mansfield cho chúng tôi một tia hy vọng. Viễn tượng một cuộc tắm máu sau khi Saigon mất chắc phải lay động lương tâm của nhiều người Mỹ, kể cả những người trước đó muốn chấm dứt chế độ miền Nam ngay lập tức. Trong lúc bộ đội Bắc Việt chuẩn bị trận tấn công sau cùng vào Saigon, vị lãnh tụ thượng nghị viện Mỹ kêu gọi ngưng bắn và đề nghị viện trợ nhiều tỷ Mỹ kim cho việc tái thiết miền Bắc. Để làm yên tâm giới lãnh đạo miền Bắc, Mansfield đề nghị miền Nam thành một quốc gia trung lập. Hai năm trước, kế hoạch của Mansfield có lẽ đã được các nhà thương thuyết miền Bắc nghiên cứu với thiện cảm vì trên bàn hội nghị những người này luôn đòi Mỹ bồi thường chiến tranh như điều kiện tiên quyết. Biết đâu nếu được cho quy chế không liên kết tại bàn hội nghị thì tương lai miền Nam sẽ khác và tôi đã không mất gia đình tôi! Thật không khó để biết rằng Nam Việt Nam đã bị dùng như một đấu trường của các đại cường, gây đau khổ và tổn hại không thể tả được ở hai miền Nam Bắc. Hai nước Việt Nam bị đẩy vào vòng kình chống nhau bởi vì mỗi nước bị bắt buộc theo một ý thức hệ hoàn toàn xa lạ với dân tộc chúng tôi. Do đó chúng tôi hồi hộp chờ kết quả đề nghị hòa bình của Mansfield. Chúng tôi hy vọng ít ra miền Bắc sẽ chấp nhận đề nghị bồi thường chiến tranh và tạm thời ngừng ý định áp đặt sự cai trị trên miền Nam để chúng tôi có thể về nước tìm lại gia đình. Bất hạnh thay lời kêu gọi của Mansfield không được miền Bắc chú ý. Việt Nam Cộng Hòa trở thành lịch sử ngày 30 tháng Tư năm 1975!

Tôi không còn xem tin tức và đọc báo kể từ đó. Điều chúng tôi cố gắng xây dựng trong hai mươi mốt năm qua, kể từ lúc tôi theo gia đình rời Đồng Hới vào Huế, miền tự do của chúng tôi, cho đến lúc tôi đến Hoa Kỳ để có một tương lai tốt đẹp hơn, nay biến thành mây khói. Hết cả rồi. Không còn gì để cứu vãn, để bắt đầu trở lại. Muốn bắt đầu trở lại chúng ta phải có cái gì đáng sống hay đáng đau khổ như trường hợp cha tôi đưa chúng tôi vào Huế để có một đời sống tốt đẹp hơn. Cha hạnh phúc vì chúng tôi chưa bao giờ xa Cha. Sau nhiều năm làm việc cực khổ Cha vui mừng thấy chúng tôi lớn lên, trưởng thành, có gia đình riêng. Tôi theo bước chân cha tôi nhưng không hiểu được ý nghĩa sự hy sinh của Cha: hạnh phúc không phải là từ bỏ gia đình đuổi theo một giấc mộng viển vông, nhưng sống với gia đình, yêu thương và bảo vệ gia đình, đừng để gia đình đau khổ vì ta.  Nếu may mắn còn sống sót, gia đình tôi giờ này chắc chắn phải đau khổ lắm. Làm thế nào có thể sống nếu không có phương tiện sống—chế độ mới chắc đã chấm dứt tiền lương Nga dùng nuôi gia đình—nhưng lại có nhiều buồn rầu, lo sợ và còn lo lắng cho tôi nữa (cha tôi và vợ tôi lo cho tôi nhiều hơn tôi lo cho họ ngay trong những lúc bình thường). Nhưng vì thấy nhiều cảnh tượng đáng sợ trên TV và kinh hoàng bởi sự tiên đoán của các phóng viên báo chí về một trận tắm máu có thể xảy ra, tôi không biết chắc bây giờ hay trong những ngày sắp đến mọi người có sẽ bình an không.

Sự việc đang xảy đến xác nhận sự can thiệp của một định mệnh oan nghiệt trong cuộc đời tôi vào thời điểm này. Tôi nhớ lại ba năm trước, trong một lá thư Nga đã viết rằng theo lời nhạc phụ thì tôi sẽ không trở về sau khi tốt nghiệp. Tôi viết thơ lại cho Nga, bác bỏ lời tiên đoán của nhạc phụ tôi là hoàn toàn phi lý, mặc dù trong trí tôi có linh cảm kỳ lạ về một chuyện xấu sẽ xảy ra. Nỗi lo sợ không yên ấy làm tôi nhớ lại một chuyện khác đã xảy ra mà trước đây tôi có nhắc đến.  Trước khi rời Saigon tôi có ghé một tiệm bán băng đĩa ca nhạc để mua vài băng nhạc. Tôi bị hấp dẫn không thể cưỡng lại được trước cuốn album có tựa đề Quê hương và kỷ niệm. Khi sự rắc rối của vấn đề thông hành đã yên và khi tôi đã ngồi vào phi cơ và khóc thầm, album nhạc này làm tôi sực nghĩ đến trường hợp nào đã đưa tôi đến cuộc phiêu lưu này và kết cục tương lai tôi sẽ như thế nào. Tại sao kỷ niệm quê hương khi tôi sẽ về chỉ trong hai năm như dự định? Phải chăng tựa đề băng nhạc báo hiệu một điềm bất hạnh giống như việc chia cắt đất nước năm 1954 đã đưa chúng tôi vào cảnh lưu vong? Vì không muốn bị xao lãng khỏi mục đích là học xong rồi trở về ngay, tôi gạt bỏ ám ảnh ấy, tự bảo mình đó chỉ là một sự tình cờ. Sau khi đến Hoa Kỳ quá bận với học hành—và cũng như với sự theo đuổi lạc thú ích kỷ―tôi đâu có thời giờ nghĩ đến việc quê hương và gia đình có thể trở thành kỷ niệm. Sự việc đang xảy ra xác nhận sự thật khủng khiếp về điều tôi tưởng là dị đoan. Bây giờ tôi mới biết rằng đời sống tôi—và rộng ra đời sống gia đình tôi—bị đặt dưới sự kiểm soát của một thế lực nghiệt ngã, trớ trêu đưa đẩy chúng tôi qua những ngả đường khúc khuỷu quanh co đến một kết cục bi thảm. Tại sao cả gia đình chúng tôi chia xẻ một số phận và rồi bị phân ly nửa chừng? Tại sao tôi lìa nhà khi biết rằng không có gì bảo đảm gia đình tôi được bảo vệ? Dù sao chăng nữa, chính tôi gây tai họa cho gia đình tôi, nhưng cái gì đã đem đến cho tôi cơ hội định mạng ấy khi Huế như hoàn toàn bị quân địch bao vây? Và tại sao tôi cắm đầu chạy một cách dại dột, điên khùng đến chỗ này để tìm một tương lai tốt đẹp hơn để rồi phải mất gia đình?

Từ lúc mất Huế vào cuối tháng ba và gia đình tôi mất tăm tích, tôi không bỏ học buổi nào cả. Tôi cố hành động một cách “tự nhiên” dường như không có việc gì xảy ra vì tôi không muốn “khác người.” Tôi sợ nhất khi có người hỏi thăm và chia buồn. Lý do hơi phức tạp. Tôi tự ái, không muốn ai thương hại. Nhưng lý do chính là sự chú ý hay quan tâm của kẻ khác làm tôi nhớ đến hoàn cảnh hiện tại của tôi. Bạn bè trong lớp thấy tôi có vẻ bình thản nên lầm tưởng là tôi can đảm, nhưng thực ra tôi cố “đóng kịch” như vậy để quên mà sống. Thường khi mọi người nghỉ ăn trưa, tôi tìm vào góc thư viện dành cho những sinh viên cao học như tôi rồi gục mặt khóc khi không ai nhìn thấy. Tôi để đèn sáng trong phòng suốt đêm vì tôi rất sợ bóng tối. Mỗi lần nhắm mắt là thấy ác mộng, tôi thấy tôi tìm về thế giới những hồn ma trong đó thấp thoáng những người thân, tôi thấy tôi không còn sống nữa và đang hòa nhập với gia đình tôi… Tôi hét lên thức dậy, mồ hôi toát ra như tắm và cứ thế choàng tỉnh nhiều lần trong đêm và chỉ thiếp đi khi gần sáng. Người tôi đau nhức, nhưng chắc không phải do tê thấp vì tôi còn quá trẻ để mắc bệnh này. Tôi chắc nỗi đau này là kết quả của lo âu, buồn rầu quá độ. Hóa ra có sự liên quan giữa cái đau thể xác và nỗi đau tinh thần.

Một việc hết sức kỳ lạ xảy ra hôm nay (11 tháng 5 năm 1975).  Khi tôi bước qua đường Guadalupe từ trung tâm Co-Op đến Thư viện Perry-Castaneda, dường như tôi nghe tiếng xe thắng mạnh. Tôi thấy tôi đang đứng giữa đường, đèn qua đường đang đỏ và nghe tiếng còi xe và người la mắng tôi. Tôi choàng tỉnh và chợt nhớ rằng tôi có thấy đèn đỏ nhưng cảm thấy một sự thôi thúc không cưỡng lại được phải nhào qua đường, hoàn toàn không ý thức được ý nghĩa của dấu hiệu cảnh báo. Dường như tôi đang bị ảnh hưởng của một loại thuốc an thần cực mạnh bởi vì tôi cảm thấy hết sức dễ chịu và bình thản.

Nếu tự tử là một hành động con người thực hiện khi anh ta tuyệt vọng nhất, khi anh ta không còn lý do gì (không còn ai, như trường hợp tôi) để sống nữa, khi mọi sự đều vô nghĩa, thì hoàn cảnh của tôi thích hợp với định nghĩa trên, chỉ khác là hành động chưa thực hiện thôi. Ngoại trừ lá thư cuối cùng tôi nhận được của Nga đóng dấu bưu điện Đà Nẵng (trước khi thành phố này mất), trong đó vợ tôi viết rằng gia đình bình yên và bảo tôi đừng lo, từ tháng Tư đến giờ tin tức từ nhà biệt tăm, mặc dù hầu hết những người ở đây đã bắt đầu nhận tin từ gia đình trực tiếp hay qua thân nhân ở Pháp hay các nước không liên kết với Mỹ trong thời kỳ chiến tranh. Tôi sống trong lo âu và buồn rầu, lơ là những nhu cầu căn bản hàng ngày, thân thể gầy guộc trông thấy rõ. Hàng ngày, lúc nào tôi cũng lo lắng đến sự an toàn của gia đình đến đỗi không những tôi thấy toàn ác mộng ban đêm mà ban ngày lúc mệt chợp mắt tôi thấy gia đình tôi bị thương hay không còn ở trên đời này nữa. Thỉnh thoảng tôi thấy thằng bé Hùng, con tôi, nằm bất động giữa đám trẻ con đã chết trên tàu thủy trong đoạn phim ngắn ngủi khủng khiếp đó. Hình như con tôi còn sống vì tôi còn nghe tiếng thì thào yếu ớt của nó “Cha ơi!” Tôi hét lên một tiếng thật lớn và tỉnh dậy, tim đập thình thịch. Tôi hoàn toàn tỉnh táo nhưng sợ hãi quá nên tuy biết rằng đó chỉ là giấc mơ, một giấc mơ khủng khiếp nhất từ trước đến giờ, tôi cảm thấy nó không phải là giấc mơ, nhưng là sự thực. Tôi tiếp tục thấy con tôi quằn quại và nghe tiếng yếu ớt của nó như thể cảnh tượng đó đang diễn ra trước mắt tôi.

Khi đến Bưu điện Đại học xem thư hôm nay (15 tháng 6) tôi thấy có một phong bì lạ đóng dấu bưu điện Paris và đề tên tôi là người nhận. Tôi không biết người gởi là ai và tại sao có địa chỉ của tôi. Khi mở thư, tôi bị sốc khi thấy mảnh giấy nhỏ từ tập vở học trò cũ kỹ viết bằng lối chữ mềm mại duyên dáng tôi nhận ra ngay. Đó là thư của Nga. Vợ tôi viết:

Mình ơi,

Ba, em và các con về lại nhà rồi. Ba vẫn khỏe. Các con ăn  chơi khỏe mạnh. Em đã đi dạy trở lại. Mình nhớ giữ gìn sức khỏe. Thương nhớ mình.

Đó là lá thư ngắn nhất Nga đã viết cho tôi. Nhưng nó là lá thư tuyệt vời nhất, an ủi tôi nhất tôi nhận được từ vợ tôi vì nó báo tin gia đình tôi bình yên! Nước mắt tôi muốn trào ra. Sợ có người trông thấy, tôi cố nén cho đến khi tôi vào góc phòng dành cho tôi trong thư viện cao học. Đầu gục xuống trên bàn, tôi lặng lẽ khóc nức nở. Hai tay tôi ướt đẫm nước mắt. Đó là những giọt nước mắt vui mừng khi biết người thân của mình tưởng đã chết nay còn sống. Đó cũng là những giọt nước mắt hối hận và buồn rầu đau khổ. Không bao giờ tôi có thể tha thứ cho tôi cái tội đã đến đây để tìm cái thứ viển vông là giáo dục này trong lúc biết rằng đại họa ấy rốt cục thế nào cũng xảy đến. Mặc dù hết sức nhẹ nhõm vì biết tin của gia đình, tôi vẫn  quan ngại đến sự thiếu thốn vật chất của những người thân trong những tháng và năm (không phải ngày) trước mắt. Làm sao gia đình tôi có thể sống khi vợ tôi không còn lãnh được lương bổng của tôi? (Trước khi chế độ thay đổi, Nga vẫn được lãnh lương của tôi.) Nếu cha tôi bị đau ốm, làm sao Nga có thể tìm thầy thuốc được cho ông cụ? Nga có thể cáng đáng nổi cả hai công việc—nuôi nấng năm đứa con dại và lo lắng cho cha tôi trong hoàn cảnh hiện tại không? Những câu hỏi này quay cuồng trong đầu óc tôi, làm tắt nghẽn niềm vui mới hé nở trong tim tôi.

Trong lúc không hứa hẹn gì sự đoàn tụ với gia đình, tin nhà cứu sống sinh mạng tôi. Bây giờ, tôi cảm thấy một ý muốn mạnh mẽ là phải sống cho gia đình cũng như tôi cảm thấy gia đình đang sống vì tôi, cho nên tôi không có quyền chết. “Mình nhớ giữ gìn sức khỏe,” Nga viết trong lá thư ngắn ngủi. Nàng không thể viết dài hơn trong mảnh giấy được cho phép (người ở Pháp đã chuyển thư Nga cho tôi nói rằng cha anh ấy ở Huế đã gởi sang anh nhiều mảnh thư nhỏ nhờ chuyển cho thân nhân của họ ở Mỹ, do đó tôi đoán rằng mỗi người ở Huế chỉ được một số giòng giới hạn), nhưng rất rõ ràng là Nga biết tôi bị thương tổn nặng cả thể xác lẫn tinh thần do cơn đại nạn gần đây và nàng năn nỉ tôi phải chăm lo đến sức khỏe chờ ngày đoàn tụ, dầu có bao lâu đi nữa. Phải, tôi có bổn phận chăm lo bản thân vì cha tôi, vì Nga, và vì năm đứa con tôi. Tôi bị sút cân rất nhiều vì thiếu ngủ và không ăn uống đúng cách. Rồi tôi cũng phải trở lại soạn thi khả năng tiến sĩ. Trong khi biết rằng mọi sự đã trở thành vô nghĩa, tôi phải làm cũng như tôi phải sống bởi vì cha tôi, Nga, và các con tôi muốn tôi như thế. Đó là điều tôi có thể làm ngay bây giờ để chứng tỏ tôi thương yêu gia đình và xứng đáng với tình yêu của gia đình đối với tôi.

Tôi gọi Mary Ann và chúng tôi lập tức xếp đặt một lịch trình cùng nhau soạn thi. Đầu khóa mùa xuân vừa rồi, chúng tôi đã bắt đầu ôn thi thì bỗng nhiên xảy ra biến cố nên phải ngưng lại. Mary Ann đặc biệt quan trọng trong việc cứu sống tôi. Không những Mary Ann không trách tôi đã ảnh hưởng đến chương trình soạn thi của chị ấy vì tôi bỏ cuộc nửa chừng mà còn hết sức quan tâm đến tôi khi nghe việc tôi thoát tai nạn mà chị ngây thơ gọi là “mưu toan tự tử” trên đường Guadalupe trong gang tấc. Mary Ann tận nơi tôi ở và nhờ Phil, chồng chị, chở tôi đến nhà anh chị ấy ăn cơm tối mỗi tuần. Biết rằng biểu lộ tình cảm suông chỉ làm tôi cảm thấy tệ hơn, Mary Ann dịu dàng săn sóc tôi. Chị dạy đứa con trai bốn tuổi của chị gọi tôi bằng Uncle (Cậu). Tôi mau chóng đứng vực dậy và bắt đầu chuẩn bị trở lại cho kỳ thi vấn đáp tiến sĩ.

Tôi học xong hầu hết những tài liệu đòi hỏi trên chương trình và đến cuối mùa hè đã cảm thấy khá sẵn sàng cho kỳ thi dời lại vào tháng Mười. Tôi dự thi  không một chút hồi hộp, thi đậu không chút vui mừng. Ngay sau khi tôi thi xong, các bạn trong Khoa American Studies kéo tôi đi dự một họp mặt nhỏ ăn mừng tôi thành công và họ vui mừng thấy tôi hình như thích thú với cuộc vui. Nhưng ngay sau khi về lại phòng, tôi vật mình xuống giường, cảm thấy như không còn muốn sống nữa. Tôi không còn chịu đựng được nữa. Tất cả nỗ lực và thành tựu để làm gì? Điều gì sẽ xảy đến tiếp theo? Tương lai tôi đen tối vì hy vọng bị tước đoạt và hiện giờ tôi sống hoàn toàn trong ảo tưởng—hy vọng viển vông về một ngày đoàn tụ với gia đình—để có thể sống còn về mặt tình cảm. Nhưng có nghĩa lý gì không khi con người chỉ sống bằng ảo tưởng?

Không ai ở Hoa Kỳ có thể sống bằng ảo tưởng và tôi cũng không là ngoại lệ. Sau khi miền Nam mất, mọi sự xảy ra khiến tôi gặp nhiều khó khăn. Đầu tháng Sáu năm nay, cơ quan IIE chấm dứt học bổng của tôi. Hôm nay (10 tháng 10) tôi bị sở Di trú (INS) giáng một đòn nặng. Vì tôi không xin đổi quy chế từ viên chức giáo dục của chế độ cũ trước 1975 sang quy chế tị nạn, INS nói tôi sẽ bị trục xuất. Theo lời khuyên của một người bạn luật sư, tôi đến trình diện văn phòng INS ở San Antonio và yêu cầu được cấp một quy chế gọi là “docket control.” Theo lời người bạn, quy chế này sẽ cho tôi tạm thời ở lại Mỹ sáu tháng và được tái cấp sau khi hết hạn. Tôi không muốn trở thành một người tị nạn vì tôi nghĩ làm thế sẽ mất cơ hội đoàn tụ với gia đình. Mặc dù tôi cố cắt nghĩa cho nhân viên di trú hiểu, ông ta nhất định không nghe. Ông ta còn đe dọa bỏ tù tôi và sau đó trục xuất tôi về Việt Nam. Tôi bảo nhân viên ấy một cách lễ độ nhưng cương quyết: “Thưa ông, tôi rất tiếc không chấp nhận lời đề nghị thay đổi quy chế của ông được. Tôi thà bị trục xuất để có cơ gặp gia đình còn hơn chết dần mòn ở đây.” Thấy lời đe dọa không làm tôi đổi ý, nhân viên này vào trong, chắc để hội ý với cấp cao hơn. Sau một hồi, ông ta ra và đưa tôi giấy tờ để tôi điền vào. Rõ ràng là họ không thể trục xuất tôi về một nước vốn xem Mỹ là thù địch. Chế độ này thường xem những người Việt được đào tạo tại Mỹ là gián điệp của chính phủ Mỹ, sẽ không chấp nhận tôi. Và cũng không có nước nào chấp nhận tôi.

Một tháng sau khi thi đậu kỳ thi vấn đáp, tôi ra trước hội đồng giám khảo để trình bày đề tài luận án của mình. Đề tài lưu vong thật hấp dẫn đối với tôi, có lẽ vì trong lòng tôi cảm thấy không thể đoàn tụ với gia đình trong cuộc đời này. Để viết luận án, tôi đề nghị nghiên cứu một nhóm các nhà văn danh tiếng như Ernest Hemingway, Scott Fitzgerald, Gertrude Stein, những người chạy trốn sang Âu châu để phản đối sự sa đọa của văn minh Mỹ. Đề tài đòi hỏi rất nhiều khảo cứu, nhưng tôi không biết có còn đủ nghị lực hoàn thành không. Cơn trầm cảm kéo dài cùng với cuộc thi vừa qua đã làm tiêu hao hết năng lực của tôi. Hội đồng giám khảo đã cứu tôi khi bác bỏ đề tài này, viện lý do là vấn đề ấy đã được nghiên cứu nhiều rồi.

Tôi có ý nghĩ muốn từ bỏ mục tiêu tinh thần mà tôi đã xem là quá quan trọng trong nhiều năm qua, nhưng lại đưa tôi đến bước đường cùng ngày hôm nay. Tôi cần phải suy nghĩ lại về mục tiêu nghề nghiệp của tôi, nếu có, và điều chỉnh lại cho thích hợp hoàn cảnh mới của tôi là một kẻ lưu vong vĩnh viễn. Tôi phải hoàn tất luận án và kiếm một việc làm để nuôi thân và giúp đỡ gia đình ở nhà (mặc dù gởi tiền về Việt Nam bị cấm, việc này có thể làm được qua một ngân hàng Pháp ở Paris). Với mảnh bằng Ph.D. và một số kinh nghiệm dạy học, tôi có thể kiếm được một chân giảng viên ở Canada, nơi đó có thể liên lạc với gia đình dễ dàng hơn.

Để làm tất cả những chuyện này, tôi phải tìm một đề tài cho luận án trước đã. Dựa vào kinh nghiệm gần đây của tôi với hội đồng luận án, tôi cố gắng tìm một lĩnh vực ít biết ở Mỹ. Dùng khả năng Pháp văn có sẵn, tôi muốn nghiên cứu một đề tài về mối liên hệ văn học giữa Pháp và Hoa Kỳ. Trong khi khảo cứu đề tài này, tôi tình cờ đọc được một bài điểm sách của Jean-Paul Sartre về cuốn tiểu thuyết The Sound and the Fury [Âm thanh và cuồng giận] trong tạp chí Nouvelle revue française, trong đó Sartre so sánh thời gian trong tiểu thuyết của Faulkner với điều ta trải qua khi ngồi trên chiếc xe mui trần và nhìn về phía sau trong khi xe chạy. Giống như cảnh vật hai bên đường sẽ không được trông thấy rõ ràng cho đến khi lùi thật xa, quá khứ càng lâu càng xa chừng nào, ta càng nhớ rõ rệt chừng ấy. Theo Sartre, thời gian trong tiểu thuyết Faulkner bị cắt xén phần hiện tại và tương lai, và chỉ được biểu hiện bằng quá khứ. Mất đi hy vọng và ước vọng, đặc điểm của hiện tại và tương lai, nhân vật Quentin Compson trong The Sound and the Fury chỉ còn sống với những kỷ niệm ám ảnh của đau buồn, xấu hổ, tội lỗi, hối tiếc. Chính quá khứ đã giết Quentin. 

Tôi có thể dễ dàng thông cảm với Quentin. Tôi không còn có tương lai nữa. Điều mà tôi nỗ lực làm cho được—hoàn tất việc học và hồi hương càng sớm càng tốt để đoàn tụ với gia đình và giúp nước—bỗng nhiên trở thành vô ích và vô nghĩa. Tôi đang sống trong đau buồn và tội lỗi. Bảy tháng trước, vào tháng Ba, thân nhân của tôi ở nhà là nguồn động lực quan trọng nhất cho việc học hành của tôi bởi vì họ là niềm vui, hy vọng và hạnh phúc. Gia đình tôi vẫn còn là lẽ sống của tôi bây giờ, nhưng những gì liên quan tới gia đình nay chỉ là những kỷ niệm đau buồn.

Một lý do nữa khiến tôi say mê đọc Faulkner, đó là tác phẩm của nhà văn này khai thác đời sống vô thức. Trước tháng Ba 1975, khi tôi đọc Absalom, Absalom! tôi đặc biệt chú ý đến cách cuốn tiểu thuyết khai phá vùng sâu thẳm tăm tối của tâm hồn con người, những xung đột dữ dội bùng vỡ mỗi khi ý thức manh nha sụp đổ. Hầu hết những nhân vật “tối tăm” (dark characters) của Faulkner trong những lúc cực kỳ tuyệt vọng xé toang mặt nạ đang mang và trở thành điên dại. Tôi cứ nghĩ rằng sự ưa thích Faulkner của mình chỉ là sự mê thích của một học giả, chứ không nghĩ rằng từ tháng Ba 1975, tôi đã trải qua sự suy sụp tâm thức tương tự như sự kiện Faulkner mô tả trong tiểu thuyết của ông. Mặc dù hoàn cảnh của tôi trở nên khá hơn và tôi không để đèn sáng suốt đêm khi ngủ như mấy tháng trước, thỉnh thoảng tôi vẫn còn thấy ác mộng. Tai nạn suýt chết của tôi gần vỉa hè Đại học Texas chỉ xảy ra một lần, nhưng đôi lúc tôi lâm vào tình trạng mất trí nhớ hoặc mất ý thức về chuyện đang làm. Khi tôi đắm mình vào việc học thì mọi thứ dường như bình thường. Nhưng hễ nghỉ ngơi một chút là có chuyện ngay. Tôi quên mất công việc đang làm, trí não tôi đi lang thang rồi quay trở về nhà, và tôi hay buột ra tiếng thở dài áo não. Điều mà các bạn học gọi là sức mạnh ý chí khi thấy tôi học hành cực lực chỉ là mưu toan tìm cách lãng quên hoàn cảnh đau buồn không thể chịu đựng nổi của mình. Khi không làm gi cả, khi đi một đường dài từ sân trường đại học về căn chung cư của tôi, hay khi nằm xuống giường nghỉ ngơi vài phút, cơn sầu muộn tôi cố đè nén bỗng bùng dậy và hành hạ tôi hàng giờ. Phải mất nhiều giờ sau đó tôi mới bình tâm lại để tiếp tục công việc đang làm.

Nhận định của Sartre về cách dùng quá khứ của Faulkner thật đầy ám ảnh bởi vì quá khứ liên hệ với một điều gì tôi luôn ao ước nhưng không bao giờ đạt được—quê nhà. Quê nhà không về được nhưng hình bóng của nó trở thành sâu đậm hơn bao giờ bởi vì, có thể như Sartre nói, tôi mãi nhìn lùi lại, bởi vì tôi mãi tập trung ý nghĩ vào điều không còn, và bởi vì thời gian đối với tôi đã bị mất tương lai từ ngày định mệnh 26 tháng Ba 1975 ấy. Để nghiên cứu và viết về quá khứ, về quê nhà và ký ức, một đề tài tôi là người có kinh nghiệm cá nhân độc nhất, dường như dễ dàng hơn viết về một phạm vi hoàn toàn xa lạ đối với tôi. Ngoài ra, bất cứ điều gì liên quan đến hoàn cảnh bế tắc hiện tại của tôi—nỗi đau khổ, buồn rầu, mặc cảm tội lỗi, và quan trọng hơn hết, tiếng than thở thường xuyên của vô thức phát ra từ sâu thẳm tăm tối của tâm hồn tôi trở thành một lối sống thường nhật của mình. Điều thật lạ lùng là nói hoặc viết về sức mạnh tối tăm ấy đem đến cho tôi một sự giải phóng tạm thời khỏi sự hành hạ của nó.

Khi tìm tài liệu cho luận án, tôi tình cờ tìm ra nhà văn Pháp “Faulkner” Claude Simon. Tác phẩm của Faulkner như Absalom, Absalom!The Sound and the Fury vang bóng trong tác phẩm của Claude Simon. Việc nhà văn Pháp này thừa nhận chịu ảnh hưởng Falukner cho phép tôi không những nói về ảnh hưởng của Faulkner đối với Simon, mà còn nới rộng khảo cứu về ảnh hưởng của Faulkner với nhóm Nouveau roman [Tân tiểu thuyết], trong đó Simon là một hội viên nổi tiếng. Trong lúc đi tìm trong Faulkner một thứ liệu pháp cho căn bệnh tinh thần trầm kha của mình, tôi tìm thấy những chỗ trong tiểu thuyết của Simon viết về sự thất trận của quân Pháp năm 1940 vang bóng và sự bại trận tuyệt hậu của quân đội Việt Nam Cộng Hòa năm 1975. Như trong tiểu thuyết La Bataille de Flandres, hồn ma của những người lính Pháp sau hai mươi năm vẫn còn diễn hành trong trí tưởng tượng của nhân vật, thì sự sụp đổ của Nam Việt Nam–mở đầu bằng cuộc lui binh hỗn độn, kinh hoàng của quân đội miền Nam cùng với gia đình thân nhân khỏi thành phố Pleiku trên Cao nguyên Trung phần hơn bảy tháng trước đây vẫn còn là một vết thương mới trong cõi vô thức của tôi. Cũng như trong tiểu thuyết của Simon, người chết còn luôn hiện diện, còn luôn đòi hỏi những thế hệ tương lai phải tưởng nhớ, thì quê hương tôi, gia đình tôi, miền Nam của tôi, quá khứ hạnh phúc của tôi cũng như những kinh hoàng và tàn bạo của cuộc chiến sẽ không bao giờ phai mờ trong ký ức, ngày nào tôi còn sống trên đời này.

Tôi đi gặp hội đồng thi để trình đề tài luận án mới là ảnh hưởng của William Faulkner đối với văn chương hiện đại Pháp, đặc biệt là trường phái Tân tiểu thuyết. Bởi vì thư viện Đại học Texas không có đủ tài liệu về vấn đề này, Khoa Hoa Kỳ Học cấp một học bổng nhỏ cho tôi đến đại học Harvard và Yale để tìm tài liệu cho luận án. Cơ hội ngồi trên xe đò quan sát nước Mỹ mà giáo sư Crunden đã đề nghị với tôi sau khi đậu Cao học bây giờ mới thành tựu. Chỉ có điều nó đến không phải lúc và mỉa mai làm sao! Nếu cơn đại nạn không xảy đến bảy tháng trước, tôi đã không ngồi trên chiếc xe buýt này và giờ này đã về nhà rồi! Nhưng nhìn qua một khía cạnh khác, hoàn cảnh éo le của tôi cũng có phần tích cực. Tôi cần phải ra khỏi chỗ này một thời gian để giảm bớt cơn đau buồn lâu dài đang đe dọa sức khỏe của mình.

Articles by Trần Quí Phiệt

Comments


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

@2006-2025 damau.org ♦ Da Màu Magazine
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)