- Tạp Chí Da Màu – Văn chương không biên giới - https://damau.org -

Bậc thầy thuật hóa kim [10]

 

Họ phi trọn ngày. Tới cuối buổi chiều, họ tới một tu viện Coptic. Nhà hóa kim xuống ngựa, và bảo toán hộ tống trở về doanh trại.

“Từ đây trở đi, con sẽ đi một mình,” nhà hóa kim nói. “Con chỉ còn cách Kim Tự Tháp ba tiếng đồng hồ thôi.”

“Cảm ơn ông,” thằng con trai nói. “Ông đã dạy con cái Tiếng Chung.”

“Ta chỉ khơi dậy cái con đã biết.”

Nhà hóa kim gõ cửa tu viện. Một nhà tu bận đồ đen tiến ra cổng. Họ nói chuyện trong vài phút bằng tiếng Copt, và nhà hóa kim vẫy thằng con trai vào.

“Ta xin ổng cho phép ta sử dụng nhà bếp một chút,” nhà hóa kim cười.

Họ đi tới nhà bếp ở phía sau tu viện. Nhà hóa kim đốt lửa, và nhà tu mang đến cho ông một ít chì, mà ông bỏ vô trong chảo. Khi chì hóa lỏng, nhà hóa kim lấy ra khỏi túi quả trứng lạ lùng màu vàng. Ông ta bóc ra một mảnh mỏng như cọng tóc, bọc nó trong sáp, rồi bỏ vô cái chảo chì lỏng.

Cái hỗn hợp đó có màu đỏ, như là màu máu. Nhà hóa kim dời cái chảo khỏi ngọn lửa, và đặt nó qua một bên để nguội. Khi ông làm vậy, ông nói chuyện với nhà tu về các cuộc chiến tranh bộ lạc.

“Tôi nghĩ là chúng sẽ tiếp tục trong một thời gian dài,” ông nói với nhà tu.

Nhà tu trở nên bực dọc. Các đoàn lữ hành đã ngừng lại ở Giza đã lâu, chờ cho chiến tranh kết thúc. “Nhưng ý Trời sẽ được thực hiện.”

“Đúng vậy,” nhà hóa kim đáp.

Khi cái chảo nguội, nhà tu và thằng con trai nhìn vô, hoa mắt. Chì đã đặc lại theo hình chảo, nhưng không còn là chì. Đó là vàng.

“Con có được học để làm được như vậy một ngày nào đó không?” thằng con trai hỏi.

“Đây là cái Niềm Riêng của ta, không phải của con,” nhà hóa kim đáp. “Nhưng ta muốn cho con thấy nó có thể làm được.”

Họ trở ra cổng tu viện. Ở đó, nhà hóa kim phân cái dĩa vàng thành bốn mảnh.

“Phần này cho ông,” ông nói, đưa một mảnh cho nhà tu. “Vì lòng tốt của ông với những người hành hương.”

“Nhưng số này nhiều hơn lòng tốt của tôi xa,” nhà tu đáp.

“Đừng nói vậy nữa. Đời có lẽ đang lắng nghe, và lần tới cho ông ít hơn.”

Nhà hóa kim quay qua thằng con trai. “Phần này cho con. Để bù lại cái con đã trao cho tay tướng.”

Thằng con trai chực nói là nó nhiều hơn xa cái số nó đưa cho tay tướng. Nhưng nó giữ yên lặng, vì đã nghe được cái nhà hóa kim nói với nhà tu.

“Phần này cho ta,” nhà hóa kim nói, giữ một mảnh. “Vì ta phải trở lại sa mạc nơi đang có chiến tranh bộ lạc.”

Ông cầm phần còn lại rồi trao cho nhà tu.

“Phần này cho thằng con trai, nếu nó có bao giờ cần tới.”

“Nhưng con sẽ đi tìm kho báu,” thằng con trai nói. “Con gần nó lắm rồi.”

“Chắc chắn con sẽ tìm ra nó,” nhà hóa kim nói.

“Rồi sao lại có số vàng này?”

“Vì con đã mất số mình dành dụm được tới hai lần rồi. Một lần cho tên trộm, và một lần cho tay tướng. Ta là một ông già Ả Rập mê tín, và ta tin ở ngạn ngữ Ả Rập. Có ngạn ngữ nói rằng, ‘Cái đã từng xảy ra một lần rồi thì không thể xảy ra nữa. Nhưng cái mà đã từng xảy ra tới hai lần chắn chắn sẽ xảy ra lần thứ ba.’” Họ lên ngựa.

*

“Ta muốn kể cho con nghe câu chuyện về những giấc mơ,” nhà hóa kim nói.

Thằng con trai thúc ngựa lại gần hơn.

“Ở xứ La Mã cổ, vào thời Hoàng Đế Tiberius, có người đàn ông tốt bụng. Người này có hai đứa con trai. Một ở trong quân đội, và được gởi ra ngoài biên trấn. Đứa kia là nhà thơ, và làm ngây ngất toàn thành La Mã bằng những vần thơ trác tuyệt.

“Một đêm nọ, người cha có một giấc mơ. Một thiên thần hiện ra và bảo ông ta rằng nhiều đời sau lời của một trong hai đứa con ổng sẽ được học và lặp lại trên toàn thế giới. Người cha tỉnh dậy, cảm kích và khóc, vì đời sao hào phóng quá, và đã hé hộ cho ổng cái điều bất cứ người cha nào cũng thấy tự hào khi biết được.

“Chỉ một thời gian ngắn sau đó, người cha chết khi ông ta cố cứu một đứa trẻ sắp bị bánh chiến xa cán nát. Vì ông ta đã sống trọn đời mình theo cung cách đúng đắn và công bằng, ông ta được lên thẳng thiên đường, nơi ổng gặp lại thiên thần hiện ra trong giấc mơ hồi trước.

“Ông lúc nào cũng là một người tốt,” thiên thần nói với ông ta. “Ông sống đời mình theo lẽ yêu thương, và chết theo phẩm cách. Giờ ta ban cho ông bất kỳ điều ước nào ông muốn.”

“‘Đời thiệt tốt với tôi,’ người đàn ông nói. “Khi ông hiện ra trong giấc mơ, tôi cảm thấy mọi cố gắng đã được tưởng thưởng, vì những bài thơ của con trai tôi sẽ được người đời sau đọc. Tôi không muốn bất kỳ điều gì cho mình. Nhưng bất kỳ người cha nào cũng sẽ thấy tự hào về cái danh tiếng mà đứa con mình dày công nuôi dạy có được. Tôi muốn thấy được lời của con mình một lúc nào đó trong tương lai xa xăm.”

“Thiên thần chạm tay lên vai ông ta, và cả hai được phóng sâu vào tương lai. Họ nhập vô một thiết trí hoành tráng, có hàng ngàn người nói một thứ ngôn ngữ lạ lẫm vây quanh.

“Người đàn ông khóc lên vì hạnh phúc.

“‘Tôi biết những bài thơ của con mình bất tử,’ ông ta nói thầm vô tai thiên thần. ‘Làm ơn cho tôi biết bài thơ nào của con tôi được người ở đây đọc lại?’

“Thiên thần đến sát hơn bên người đàn ông, và, với vẻ dịu dàng, dẫn ông ta tới một băng ghế gần đó. Họ ngồi xuống.

“‘Những bài thơ của đứa con nhà thơ rất phổ thông ở La Mã,’ thiên thần nói. ‘Mọi người yêu thích chúng. Nhưng khi triều đại Tiberius chấm dứt, những bài thơ của anh ta bị quên lãng. Lời nói ông sẽ nghe ở đây là lời của đứa con đi lính.’

“Người đàn ông nhìn thiên thần sửng sốt.

“‘Con ông lãnh nhiệm ngoài biên ải, và trở thành bách trưởng. Anh ta công bằng và tốt bụng. Một chiều nọ, một người phục dịch bị bịnh, và có vẻ người đó sắp chết. Con ông có nghe nói đến một vị giáo sĩ vốn trị được nhiều chứng bịnh, và anh ta phi ngựa từ ngày nọ sang ngày kia để tìm ông này. Dọc đường, anh ta biết được rằng người đàn ông mà mình tìm là con Trời. Anh ta gặp được những người vốn được người đàn ông đó trị bịnh, và họ dạy lại cho con ông lời giảng của người đàn ông đó. Vì vậy, dù là một viên bách trưởng La Mã, anh ta cải theo niềm tin của họ. Ngay sau đó, anh ta tới được nơi người đàn ông mình đang tìm đến viếng.’

“‘Anh ta nói với người đàn ông rằng một người phục dịch của mình đang bệnh nặng, và vị giáo sĩ sẳn sàng đi theo về nhà. Nhưng viên bách trưởng là một người sùng tín, và, nhìn vô mắt vị giáo sĩ, anh ta biết chắc chắn con Trời đang hiện diện.’

“‘Và đây là điều mà con ông nói,’ thiên thần nói với người đàn ông. ‘Đây là những lời anh ta nói với vị giáo sĩ lúc đó, và chúng không bao giờ bị quên lãng: “Thưa Chúa, tôi không đáng để ngài đến nhà. Nhưng hãy nói chỉ một từ và người phục dịch của tôi sẽ lành bệnh.””

Nhà hóa kim nói, “Chẳng thành vấn đề ai đó làm được gì, mỗi người trên trái đất này đóng một vai chính trong lịch sử thế giới. Và thường là anh ta chẳng hề biết đến điều đó.”

Thằng con trai cười. Nó chưa hề tưởng tượng ra là các câu hỏi về đời sống sẽ có tầm quan trọng đến vậy cho một đứa chăn cừu.

“Từ biệt,” nhà hóa kim nói.

“Xin từ biệt,” thằng con trai đáp.

*

Thằng con trai phi xuyên qua sa mạc suốt nhiều tiếng, háo hức lắng nghe những gì con tim phải nói. Chính con tim sẽ cho nó biết kho báu của nó được dấu ở đâu.

“Kho báu của con ở đâu, trái tim con cũng sẽ ở đó,” nhà hóa kim đã bảo nó.

Nhưng con tim đang nói đến những chuyện khác. Với vẻ tự hào, nó kể câu chuyện một thằng chăn cừu rời bỏ đàn cừu để theo đuổi một giấc mơ thấy được trong hai lần khác nhau. Nó kể về cái Niềm Riêng, và về những người đi lang thang tìm kiếm ở những miền đất xa xăm hoặc tìm những cô gái đẹp, đối mặt với người đương thời bằng các ý niệm tiên thức của mình. Nó nói đến các hành trình, những khám phá, các quyển sách, và biến đổi.

Khi nó sắp sửa leo lên một đụn cát khác, con tim thì thầm, “Chú ý tới cái nơi làm bạn chảy nước mắt. Đó là chỗ tôi ở, và đó là chỗ kho báu của bạn nằm.”

Thằng con trai chầm chậm leo lên đụn cát. Vầng trăng tròn lại ló lên trên nền trời đầy sao: đã một tháng từ lúc nó khởi hành từ ốc đảo. Ánh trăng đổ bóng xuống đụn cát, tạo nên cái vẻ mặt biển dậy sóng; nó nhắc thằng con trai nhớ lại cái ngày khi con ngựa đó chồm lên trong sa mạc và nó biết được nhà hóa kim. Vầng trăng tỏa sáng trên vẻ tĩnh lặng của sa mạc, và hành trình tìm kiếm kho báu của một người.

Khi nó lên đến đỉnh đụn cát, con tim nhảy tưng lên. Đứng đó, dưới ánh trăng tỏa vằng vặc và trên cái nền sáng cát sa mạc, là các ngọn Kim Tự Tháp Ai Cập oai nghiêm và đường bệ.

Thằng con trai quỵ xuống và khóc. Nó cảm ơn Trời vì đã khiến nó tin ở cái Niềm Riêng, và vì đã dẫn dắt nó gặp được một vị vua, một ông chủ tiệm, một ông người Anh, và một nhà hóa kim. Và trên hết, gặp được người con gái sa mạc, người nói cho nó biết tình yêu không hề ngăn giữ ai khỏi cái Niềm Riêng của mình.

Nếu nó muốn, giờ nó có thể quay lại ốc đảo, về lại với Fatima, và sống cuộc đời đơn giản của mục đồng. Sau hết, nhà hóa kim tiếp tục sống trong sa mạc, dù ông ta thông hiểu cái Tiếng Chung, và biết cách biến chì thành vàng. Ông ta không cần chứng tỏ khoa học và nghệ thuật của mình cho ai hết. Thằng con trai tự nhủ rằng, trên đường biến cái Niềm Riêng của mình thành hiện thực, nó đã học được tất cả cái nó cần biết, và đã trải nghiệm được hết mọi điều nó đã mơ.

Nhưng nó ở đây, ngay lúc tìm ra kho báu của mình, và nó tự nhắc mình rằng không một dự án nào được coi là hoàn tất nếu chưa đạt được mục tiêu. Thằng con trai nhìn xuống mặt cát quanh mình, và thấy, nơi nước mắt nó nhỏ xuống, một con bọ hung đang chạy lon ton qua cát. Suốt thời gian ở sa mạc, nó đã biết được ở Ai Cập bọ hung là biểu tượng của Trời.

Một điềm lạ khác! Thằng con trai bắt đầu bới cát. Khi bới, nó nghĩ đến điều ông chủ tiệm pha lê từng nói: bất kỳ ai cũng xây được một cái kim tự tháp ở sân sau nhà. Thằng con trai giờ có thể thấy được là nó không thể làm được điều đó nếu nó chồng đá lên nhau hết suốt phần đời còn lại của mình.

Suốt đêm, thằng con trai bới cát ở cái chỗ nó chọn, nhưng không tìm thấy gì. Nó cảm thấy bị đè nặng bởi bốn mươi thế kỷ kể từ cái lúc các Kim Tự Tháp được xây. Nhưng nó không dừng lại. Nó vật lộn để bới tiếp trong khi chống chọi lại gió, vốn thổi cát ngược lại hố. Đôi tay nó trầy trụa và kiệt lực, nhưng nó nghe theo con tim. Nó đã bảo đào ở chỗ nước mắt nhỏ xuống.

Khi cố kéo những tảng đá ra, nó nghe có tiếng bước chân. Nhiều bóng người tiến đến gần. Họ xoay lưng về ánh trăng, và thằng con trai không thể thấy được cặp mắt lẫn mặt họ.

“Mày đang làm gì ở đây?” một bóng đen hỏi.

Vì còn khiếp đảm, nó không trả lời được. Nó đã tìm ra chỗ kho báu nằm, và sợ hãi vì những gì có thể xảy ra.

“Bọn tao là những kẻ đào tị từ các cuộc chiến bộ lạc, và bọn tao cần tiền,” một cái bóng khác nói. “Mày đang dấu gì ở đó?”

“Tôi không dấu gì hết.” thằng con trai đáp.

Nhưng một đứa chụp lấy thằng con trai và lôi nó ra khỏi hố. Một đứa khác, nãy giờ lục lọi cái túi của thằng con trai, tìm thấy mẩu vàng.

“Có vàng nè,” đứa đó nói.

Mặt trăng chiếu lên khuôn mặt của tên Ả Rập khống chế nó, và trong đôi mắt của gã đó, nó thấy có ánh chết chóc.

“Nó có lẽ còn nhiều vàng hơn dấu trong đất.”

Chúng khiến thằng con trai tiếp tục bới, nhưng nó chẳng tìm được gì. Khi mặt trời mọc, đám đàn ông bắt đầu đánh thằng con trai. Người nó bầm dập và máu me, áo quần rách bươm, và nó cảm thấy cái chết cận kề.

“Tiền thì ích lợi gì khi con sẽ phải chết? Tiền thường không cứu được mạng người,” nhà hóa kim nói. Cuối cùng thằng con trai hét vô mặt đám đàn ông, “Tao đang đào kho báu!” Và, dù miệng chảy máu và xưng phù lên, nó kể cho những kẻ tấn công mình biết rằng nó đã hai lần mơ thấy một kho tàng gần các ngọn Kim Tự Tháp Ai Cập.

Thằng cha có vẻ là đầu đàn nói với những đứa khác: “Buông nó ra. Nó không còn gì nữa đâu. Nó có lẽ đã ăn cắp mẩu vàng này.”

Thằng con trai gục xuống cát, gần như bất tỉnh. Thằng đầu đàn lắc nó dậy và nói, “Bọn tao đi đây.”

Nhưng trước khi chúng đi, gã quay lại bên thằng con trai và nói, “Mày không chết được đâu. Mày sẽ sống nhăn ra, và sẽ học được là một thằng đàn ông không nên ngu đến thế. Hai năm trước, ngay cái chỗ này, tao cũng có một giấc mơ trùng lặp. Tao mơ là tao nên phiêu du qua các cánh đồng xứ Tây Ban Nha và tìm một cái nhà thờ đổ nát làm chỗ cho đám chăn cừu và bầy cừu ngủ lại. Trong giấc mơ của tao, có một cây ngô đồng mọc lên khỏi buồng thiêng, và tao được bảo là, nếu tao đào tại rễ cây ngô đồng, tao sẽ tìm được một kho tàng. Nhưng tao không ngu đến mức băng qua nguyên một cái sa mạc chỉ vì một giấc mơ trùng lặp.”

Và chúng biến mất.

Thằng con trai đứng dậy run rẩy, và nhìn những ngọn Kim Tự Tháp một lần nữa. Chúng dường như cười trêu nó, và nó cười chọc lại, con tim nó òa lên nỗi hân hoan.

Vì bây giờ nó biết được kho báu nằm ở đâu.

KẾT

Thằng con trai đến bên ngôi nhà thờ nhỏ bỏ hoang ngay khi đêm xuống. Cây ngô đồng vẫn đứng đó trong cái buồng thiêng, và vẫn có thể thấy được sao trời qua cái mái sạt hết một nữa. Nó nhớ lại lúc nó ở đây với bầy cừu; đó là một đêm an lành … ngoại trừ cái giấc mơ.

Giờ nó ở đây không phải với bầy cừu, mà với cái xẻng.

Nó ngồi ngước nhìn lên bầu trời một lát. Rồi nó lấy ra khỏi ba lô một chai rượu vang, và uống một chút. Nó nhớ lại cái đêm ở sa mạc ngồi với nhà hóa kim, khi họ ngước nhìn lên các vì sao và uống rượu vang cùng với nhau. Nó nghĩ đến nhiều tuyến đường nó đã phiêu du qua, và về cái cách lạ lùng ông Trời chọn để chỉ cho nó cái kho báu của mình. Nếu nó không tin ở tầm quan trọng của những giấc mơ trùng lặp, nó có lẽ sẽ không gặp được bà già Gypsy, vị vua, tên trộm, hoặc … “Ô, một danh mục dài. Nhưng con đường đã được viết bằng các điềm lạ, và không có cách gì mình đi sai được,” nó tự nhủ.

Nó gục xuống ngủ. Khi nó tỉnh dậy mặt trời đã lên cao. Nó bắt đầu đào ở gốc ngô đồng.

“Lão phù thủy kia,” thằng con trai hét lên trời. “Lão biết trọn câu chuyện. Lão ngay cả chừa lại một ít vàng ở tu viện nhờ vậy ta mới trở lại được ngôi nhà thờ này. Nhà tu cười khi thấy ta quay về tơi tả. Chẳng lẽ lão không thể cứu ta khỏi cảnh đó sao?”

“Không,” nó nghe được một giọng trong gió nói. “Nếu ta cho ngươi biết, ngươi sẽ không thấy được các ngọn Kim Tự Tháp. Chúng đẹp thiệt, đúng không?”

Thằng con trai cười, và tiếp tục đào. Nữa tiếng sau, cái xẻng chạm phải cái gì đó cứng ngắc. Một tiếng sau, nó có trước mặt mình một rương tiền vàng Tây Ban Nha. Cũng có các loại đá quý, những mặt nạ vàng trang điểm bằng lông chim trắng và đỏ, và các tượng đá cẩn châu báu. Những chiến lợi phẩm của một cuộc chinh phục mà đất nước này đã quên đi từ lâu. Những chiến lợi phẩm mà một kẻ chinh phục nào đó đã lờ đi không nói cho con cháu mình biết.

Thằng con trai lấy hai hòn Urim và Thummim ra khỏi túi. Nó sử dụng hai hòn đá này chỉ có một lần, vào một buổi sáng khi nó đứng ở một nơi họp chợ. Cuộc đời và con đường nó đi luôn cung cấp cho nó đủ các điềm lạ.

Nó đặt hòn Urim và hòn Thummim vô rương. Chúng cũng là một phần kho báu mới, vì chúng là thứ để nhớ về vị vua già, mà nó chẳng hề gặp lại.

Đúng vậy; đời thật sự hào phóng với những ai theo đuổi cái Niềm Riêng của mình, thằng con trai nghĩ. Rồi nó nhớ ra phải đến Tarifa để đưa một phần mười kho báu cho bà già Gypsy, như đã hứa. Mấy người Gypsy đó thiệt ra rất thông mình, nó nghĩ. Có lẽ vì họ di chuyển nhiều.

Gió bắt đầu thổi nữa. Đó là gió miền Levant, ngọn gió đến từ châu Phi. Nó chẳng mang theo cái vị sa mạc, cũng chẳng phải mối đe dọa xâm lăng của người Moor. Thay vào đó, gió mang theo hương nước hoa nó biết rất rõ, và một nụ hôn khẽ – đến từ rất xa, chầm chậm, chầm chậm, cho tới khi đậu hẳn lên bờ môi nó.

Thằng con trai cười. Đây là lần đầu tiên nàng làm điều đó.

“Anh đến liền, Fatima,” nó đáp.

 

[Hết]

bài đã đăng của Paulo Cuelho

2 Comments (Open | Close)

2 Comments To "Bậc thầy thuật hóa kim [10]"

#1 Comment By Lan Huong On 18/06/2009 @ 10:15 pm

Một câu chuyện rất hay
Càng đọc càng thấy say
Gửi lời cảm ơn nhé
Tới người dịch sách này

LH

#2 Comment By Trần Văn Thọ On 21/06/2009 @ 4:45 pm

Truyện viết xúc động, giản dị nhưng đầy tính hiện thực và nhân văn, và người đọc có thể “relate” được, nhất là người Việt ở hải ngoại. Câu chuyện có nhiều tầng ý nghĩa. Không chỉ là những xung khắc tôn giáo và văn hóa. Tôi cũng thích văn phong trong sáng của tác giả. Xin cảm ơn Da Màu đã cho đăng một tác phẩm văn học phản ánh một mảng hiện thực rất cảm động.