Trên đời chẳng có gì dễ hơn là lựa một bài thơ nào đó để tán dương là hay. Chẳng hạn bộ Toàn Đường thi ghi chép được bốn mươi ngàn tám trăm chín mươi bài của hơn hai ngàn hai trăm tác giả; thế mà các bộ Đường thi tam bách thủ chỉ tuyển chọn có trên dưới ba trăm bài để giới thiệu cùng độc giả. Vậy muốn kiếm một bài thơ Đường hay để mà khen thì chỉ cần đọc tập thơ ba trăm bài này, nó qui tụ các thi phẩm có tính đại biểu, rõ ràng dễ hiểu, dễ học thuộc lòng. Các bộ trích tuyển Đường thi cũng theo cùng tiêu chuẩn và nhiều khi nhiều tác giả chỉ có một bài thơ để đời, bài thơ tiêu biểu đó thì ai cũng thích hay ít nhất thì cũng rất nhiều người thích. Thôi Hiệu có bốn mươi hai bài trong Toàn Đường thi, tập trung thành một quyển riêng nhưng nổi tiếng nhất là bài Hoàng hạc lâu. Toàn Đường thi chép cho Hạ Tri Chương mười chín bài trong một quyển, phần lớn là thơ phụng họa, chỉ có bài tuyệt cú Hồi hương ngẫu thư là đặc sắc. Phong kiều dạ bạc của Trương Kế đã tạo thành giai thoại văn học, Đề tích sở kiến xứ của Thôi Hộ đã cung cấp điển tích cho văn chương. Nếu phải viết “luận đề” về những bài thơ thuộc tầm cỡ như vậy, quả không quá khó.
Nhưng nếu đem Trên vỉa hè Sài gòn ra bình giữa chốn công cộng, trong một câu lạc bộ theo kiểu bình thơ nơi nhà Giám ngày nảo ngày nao thì Phạm Đình Hổ cũng chết ngắc chứ đừng nói gì tôi. Dẫu vậy, trót đọc bài thơ – rất may mắn là bài thơ không dài – nên tôi cũng ngứa tay gõ phím lạm bàn về nó. Sẽ có nhiều người không chia sẻ các suy nghĩ của tôi về thơ bởi lẽ đây toàn là suy nghĩ cổ điển, cổ hủ, lạc hậu, hủ lậu. Nhưng tôi tin tưởng rằng sẽ có nhiều người hơn nữa chia sẻ những suy nghĩ cổ điển, cổ hủ, lạc hậu, hủ lậu đó. Trước khi vào bài, xin nói thêm là tôi chỉ xin trình bày suy nghĩ cá nhân qua kiến thức tự thân, không ngạo mạn, không ngu dốt nuôi ý định làm chị dạy bất cứ ai làm thơ hết. Bài sẽ có hai phần (cũng rất kinh điển): hình thức và nội dung.
Trên vỉa hè Sài gòn
tặng Nguyễn Văn Trị, Nguyễn Đặng Mừng
Ba lần ánh mắt gặp nhau
Từ bàn bên kia
Một lần ngẫu nhiên
Một lần dò hỏi
Một lần ngạc nhiên
Ba lần ánh mắt gặp nhau
Ba lần ngã đầu lên
Hòn đá trên đường.
– Nguyễn Đức Tùng
Phần Một : thơ thi vị và thơ vô vị
Bài Trên vỉa hè Sài gòn có 31 chữ, bố trí thành 8 dòng, theo mô thức 6, 4, 4, 4, 4, 6, 5, 4. Thể thức bố trí câu thơ dài ngắn không nhất định như vậy được những Đào Tấn, Phạm Thái gọi là trường đoản cú thi, cũng gọi là từ. Tuy nhiên và tất nhiên đây không hề là một bài từ. Toàn bài chỉ có một dấu chấm hết bài. Để thử phẩm bình bài thơ, tôi sẽ dựa vào các khía cạnh kinh điển (lại kinh điển!, vẫn kinh điển!) : thể thơ, lời thơ, chữ thơ, ý thơ, tứ thơ, luật thơ, nhạc thơ và hồn thơ. Dẫu rằng Trên vỉa hè Sài gòn là một bài thơ có lẽ thuộc thể loại hiện đại, hậu hiện đại, hậu hậu hiện đại hay gì gì khác.
Hai thể thơ quen thuộc của người Việt là hai bảy sáu tám và sáu tám hai bảy. Vay mượn những nét nhạc uốn lượn của ca dao, dân ca; nương dựa vào lối gieo vần chọn thanh của các câu hò, điệu ru; hai thể thơ này qui kết những phẩm chất thẩm mỹ của tiếng Việt thơ Việt. Cách hạ vần phối thanh ngắt nhịp tuy giản dị mà linh hoạt, vừa uyển chuyển vừa phong phú, chẳng những phong tao mà nhiều khi diễm ảo. Do sự hiện diện của những vần chân, vần lưng xen kẽ, quấn quít lấy nhau, móc nối vào nhau từng cặp hai câu một nên thơ Việt giàu âm điệu, đầy nhạc tính. Rồi lại chính vì âm điệu, nhạc thức của mình mà thi ca dân tộc trở thành đắc dụng khi cần mô tả những tình cảm lưu luyến lâm ly, phô diễn các nỗi niềm nhớ mong da diết. Những tiêu chuẩn vừa kể không có trong bài Trên vỉa hè Sài gòn. Chẳng biết nó gieo vần gì mà nhau rồi kia, rồi nhiên rồi hỏi, rồi lại nhiên rồi lại nhau, rồi nhảy qua lên với đường. Nó chế nhạo âm vận.
Ngôn ngữ thi ca là hình thái ngôn ngữ cô đọng, ngữ khí thi ca có thể cách ngữ khí đậm đặc. Thơ tuy lời chật nhưng ý rộng, lời gần nhưng ý xa, lời cạn mà ý sâu. Nhà thơ luôn luôn ra sức gọt giũa ngôn ngữ, lựa chọn từ vựng sao cho với một khối lượng chất liệu và phương tiện nghệ thuật tối thiểu mà đạt được một hiệu quả mỹ học tối đa. Tuy nhiên khi biểu đạt thì thi ca không được phép tối tăm và cung cách biểu đạt của nó cũng không kém phần khắt khe so với khoa học (Son expression toujours s’est interdit l’obscur, et cette expression n’est pas moins exigeante que celle de la science, Saint John Perse). Thi ca tràn ngập hình thái chuyển nghĩa : tỷ giảo, ẩn dụ, hoán dụ, ngoa dụ, phúng dụ, định ngữ, uyển ngữ, tượng trưng, nhân cách hoá. Tuy nhiên thi ca không vận dụng các hình thái chuyển nghĩa như những vật thể trang sức cho tư tưởng; thi ca không chủ trương mang vẻ lộng lẫy lại cho văn tự qua các hình tượng hào nhoáng vì làm như thế chỉ có hiệu năng tháp ghép những bông hoa tu từ khiến làm loãng tư duy. Lời thơ nhiều khi có thể là những lời thần chú vì trên nguyên tắc, thơ nghiêm khắc với chính mình khi dụng ngữ; do đó, có thể phần nào tối nghĩa nhưng tối nghĩa ở đây là hậu quả tính súc tích, tính chính xác; tối nghĩa không có nghĩa là leo lét, lu mờ, mơ hồ. Trên vỉa hè Sài gòn độc dụng ngôn ngữ thuần Việt, kể cả hai chữ ngẫu nhiên. Nhưng lời bài thơ không có chút tính cách thi nghệ nào cả.
Nghệ thuật có mục đích tạo cảm xúc ở khách thể theo cách chủ thể muốn. Do đó phải có thao tác. Với thi ca, thao tác nhắm đối tượng chủ yếu và duy nhất vào chữ và cách tổ chức chữ. Shakespeare trong bi kịch tiêu biểu của mình, đã để cho nhân vật Hamlet lẩm bẩm Words, words, words (Chữ, chữ, chữ) khi Polonius muốn biết hoàng tử đọc gì trong cuốn sách trên tay. Nhưng chữ qua tay thi sĩ không còn là chữ. Vương Ký Đức đời Minh cho rằng tác thi nguyên thị độc thư nhân, bất dụng thư trung nhất cá tự (người làm thơ vốn là người đọc sách, nhưng lại chẳng dùng một chữ nào trong sách). Mallarmé bảo người ta không làm thơ bằng ý, mà làm thơ bằng chữ (Ce n’est pas avec des idées que l’on fait des vers, c’est avec des mots) trong khi Valéry thì lại chờ chữ thơ không đợi : Nous attendons le mot inattendu, – et qui ne peut être prévu, mais attendu. Về phần mình giới tiếp thu thi ca khi thẩm thơ, bình thơ chú ý – nhiều khi khổ công – nhận diện nhãn tự. Nhãn tự là từ thể hiện cái thần của câu thơ, bài thơ. Nó long lanh, sống động; nó vượt lên, chói sáng; nó là đích hội tụ của thi trường, nó là tiêu điểm của lăng kính thi ca. Chữ tót của Ghế trên ngồi tót sỗ sàng; chữ ngây nơi Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình; chữ đau đáu trong Nỗi nhớ chàng đau đáu nào nguôi là những nhãn tự, thi nhãn, chữ mắt. Ghế trên là ghế danh dự, chỗ ngồi dành riêng cho người già cả, có địa vị chức phận ngang hay trên gia trưởng. Người ở địa vị dưới chủ nhà hoặc người tầm thường không ai dám ngồi vào chỗ đó. Mã Giám Sinh đến hỏi Kiều tức là vào hàng con cháu Vương viên ngoại mà lại leo lên ngồi ịch vào đấy. Thái độ chướng mắt, trơ tráo, xấc xược đó được cực tả qua chữ tót, nó không chỉ là nhãn tự của câu thơ sáu chữ, nó còn là nhãn tự của tất cả những liên lục bát đề cập đến họ Mã. Có lẽ ngôn ngữ mẹ đẻ, trong tất cả các tác phẩm văn học và tự ngàn xưa đến mai sau, chỉ thấy tính từ đau đáu xuất hiện một lần duy nhất trong câu thơ chinh phụ. Đoàn Thị Điểm đã dùng nội lực văn chương thâm hậu để thổi vào đau đáu luồng hơi sinh lực kỳ diệu. Nguyễn Đức Tùng không làm được công việc như vậy qua Trên vỉa hè Sài gòn. Tìm đỏ con mắt chẳng thấy thi phẩm có được một chữ nào đưa được ngôn ngữ thơ lên điện đài mỹ học.
Tư Mã Quang cho rằng người xưa làm thơ quí ở ý nằm ngoài lời, khiến người đọc phải suy ngẫm mới lĩnh hội được (cổ nhân vị thi quí ư ý tại ngôn ngoại, sử nhân tư nhi đắc chi). Nghiêm Vũ cũng cho rằng chỗ thần diệu của các nhà thơ thời Thịnh Đường nằm ở điểm lời đã hết rồi mà ý vẫn còn hoài (ngôn hữu tận nhi ý vô cùng). Ý thơ phản ảnh các hiện tượng đời sống do thi nhân ghi nhận trong sáng tác văn học. Có những hiện tượng xã hội lịch sử vĩnh cửu : thiên nhiên, thân phận, tình người v.v.. Trong thực tế thưởng ngoạn thi ca, người đọc thơ có khi gặp một ý thơ lạ, khó hiểu. Để hiểu ý thơ đó, phải tìm kiếm chìa khoá giải thích trong các thành phần khác của thi phẩm. Soi sáng tác phẩm bằng chính tác phẩm, đó là bước đầu tiên để tìm hiểu ý của một câu thơ hay một đoạn thơ. Chúng ta có văn cảnh trực tiếp. Văn cảnh gián tiếp liên quan đến những tác phẩm khác của cùng tác giả, đến nhân cách hoặc tiểu sử thi sĩ hay rộng hơn nữa, liên quan đến cảnh huống xã hội, chính trị thời đại nhà thơ sinh sống. Các bài thơ khác của Nguyễn Đức Tùng không giải mã được Ba lần ngả đầu lên / Hòn đá trên đường. Chúng ta biết nhà thơ gốc gác Quảng Trị, từng cùng học Nguyễn Hoàng với hai thân hữu họ Nguyễn được đề tặng thơ, hiện sinh sống ở quốc ngoại và hành nghề y sĩ. Các chi tiết này không giúp gì cho người đọc hiểu thêm ý bài thơ.
Ý thơ là lý, hay nói cho đơn giản, là nội dung. Tứ thơ là sự thể hiện của ý, sự chuyển hoá của ý, hay nói cách khác, là sự biến cải ý nghĩ, suy luận, tư tưởng thành cảm xúc thẩm mỹ được thể hiện, diễn đạt theo một hình thức nào đó. Tình cảm trong thơ không bao giờ ở tình trạng tĩnh mà luôn luôn mang xu huớng động và chính sự vận động đó khiến ý thơ phát triển và phát triển…để cuối cùng hình thành trọn vẹn một tứ thơ. Rặng núi chỉ là một cấu trúc địa lý đối với kẻ vô tâm nhưng người thiếu nữ trữ tình của ca dao thì lại gọi cái đối tượng vốn không phải là người ấy như một con người bằng xương bằng thịt và tâm tình, trò chuyện với nó : Núi cao chi lắm núi ơi / Núi che mặt trời chẳng thấy người thương. Alfred de Vigny sử dụng biểu tượng để làm thơ triết lý, trình bày tâm trạng con người cô đơn trong kiêu kỳ, bất chấp cả thần minh, số mệnh; chủ trương im lặng khắc kỷ, chịu đựng để làm tròn bổn phận. Tứ thơ bài La mort du loup (Cái chết của con sói) tập trung vào đoạn cuối thi phẩm 88 câu, minh thị bài học đạo lý con sói dạy qua những dòng thơ ngập tràn khí phách, xác định một thái độ đối trước tử thần nhưng cũng là đối trước cả cuộc sống. Trong bài Cô nhạn (Con nhạn lẻ loi) Đỗ Phủ trình bày tứ thơ bay kêu nhớ đàn của con chim nhạn lạc bầy : vì lạc bầy cho nên thương nhớ, không còn thiết gì uống với ăn; vì thương nhớ nên cứ bay, vừa bay vừa kêu ai oán; vời trông đà mất hút mà vẫn bay mãi, tựa hồ vẫn còn thấy đàn mà bay theo; vì đau xót nên kêu thương không ngớt, giống như trông thấy đàn mà gọi vọng theo; nhưng thật ra chỉ có tiếng kêu của chính mình vang dội lại; khiến các loài chim chóc khác giật mình tỉnh thức, buông tiếng bàng hoàng. Tứ thơ biểu hiện được tình cảnh cô quạnh đáng thương của kẻ sẩy đàn tan nghé. Bao giờ cũng vậy, tứ thơ nẩy sinh trong một mối liên tưởng, giữa cảnh và tình có mối ràng buộc nhất định; từ đó chữ hán có khái niệm ý cảnh. Tứ và cảnh hài hoà thống nhất sẽ là bào cung cưu mang ý cảnh. Trên vỉa hè Sài gòn mang vỏ ngôn ngữ bình thường nếu không là tầm thường và không chứa đựng chút nhân tâm lý sâu sắc nào khả dĩ làm bàng hoàng kinh ngạc người đọc. Ngoại trừ nội dung bí hiểm ngã đầu lên hòn đá.
Toàn bộ những qui tắc bố trí ngôn ngữ trong sáng tạo thi ca như phân dòng, ngắt nhịp, số tiếng, số câu, đối ngẫu, gieo vần, bằng trắc, niêm luật v.v..làm thành luật thơ. Luật thơ nhắm chủ yếu vào các biện pháp ngữ âm, các hình thức kết cấu, tức là các tương quan của chữ, của từ trong bài thơ; tức là hệ thống vận động của sự việc, diễn biến của tình tiết trong chỉnh thể nghệ thuật. Cho nên luật thơ thường tạo ra một cấu trúc vững chắc nơi đó các mặt đối lập, tương tác, âm dương đúc cho bài thơ hình hài một hạt nhân nguyên tử, một tế bào sinh vật tự ổn định chức năng và tự đổi trao năng lượng. Trong tiểu vũ trụ ấy thường xuyên có sự chuyển hoá giữa hư và thực, giữa tự sự và trữ tình, giữa tả cảnh và ngụ ý, giữa phát triển và kết cục, giữa quá khứ và tương lai. Đương nhiên không thể có luật lệ tuyệt đối trong thi nghệ. Phú thi tất thử thi / Định phi tri thi nhân : Tô Đông Pha bảo làm thơ mà đòi làm thơ như vầy như vầy thì nhất định đó chẳng phải là thái độ của người hiểu biết về thơ. Thế nhưng tự do không phải là phóng túng và ngay chính các nhà thơ tự do Pháp – vers-libiristes – cũng có một bản hiến pháp thi nghệ. Trên vỉa hè Sài gòn quả có tự sự + trữ tình, tả cảnh + ngụ ý, phát triển + kết cục, nhưng Nguyễn Đức Tùng có vẻ “xăng phú“ luật thơ dẫu rằng anh dường như cũng là một vers-libriste.
Do mối liên quan mật thiết giữa thi và ca từ thời thượng cổ, âm thanh, âm ba, âm độ, âm tượng, âm hưởng, âm điệu, âm giai, âm sắc, âm tần, âm vận bàng bạc khắp nơi trong văn chương hai dân tộc “đồng văn“ Việt, Hán. Thoạt tiên thơ viết ra là để hát và qua thời gian, khi một thể thơ không hát được nữa thì phải có một thể khác thay thế. Chỉ đến thời thi pháp được canh tân đưa đến sự sáng tác ra những bài có từ vận cao diệu quá đến nỗi không phổ nhạc được nữa thì mới có tình trạng “tụng nhi bất ca“. Các loại thể vận văn bác học như ca trù, hát nói của người Việt; từ, khúc của người Tàu là sự hoà đồng trọn vẹn giữa nhạc và thơ. Ca dao là những câu có vần có điệu để mà hát hò. Trong âm nhạc, nếu cứ kéo dài một hợp âm thuận thì sẽ tạo nên một ấn tượng buồn bã đơn điệu. Trong thơ cũng thế, một câu toàn thanh bằng dễ gợi nên một cảm xúc ai hoài dàn trải xa vắng : Thương tình quê tình tự bây giờ (Đinh Nhật Thận. Thu dạ lữ hoài ngâm). Trọn câu thơ gồm độc những thanh không dấu và thanh bằng, chỉ chen vào một thanh trắc nhưng là dấu nặng, mà thanh nặng lại là một thanh điệu thuộc âm vực thấp. Ô hay! buồn vương cây ngô đồng / Vàng rơi! vàng rơi : thu mênh mông! : nhạc tính tràn đầy trong hai câu thơ (“mới“) Bích Khê cũng tỷ lệ thuận với tần số dày dặc các thanh bằng. Trái lại, một loạt các âm trắc gây thành một âm hưởng tức nghẹn, ấm ức, phẫn nộ : Tài cao phận thấp chí khí uất : năm âm tiết liền nhau mang âm điệu trắc : Tản Đà đã phối hợp khéo léo những chữ cùng thanh điệu nhằm đạt được khả năng diễn tả rất cao, vạch rõ nỗi lòng của một kẻ bất đắc chí.
Đố ai tìm được một nốt nhạc nào trong Trên vỉa hè Sài gòn.
Thúy Kiều là người đam mê sáng tác thi ca, đắm say biểu diễn nghệ thuật. Từ đầu đến cuối Truyện Kiều, tất cả có tám lần Thúy Kiều đánh đàn và mười một lần Thúy Kiều làm thơ và/hoặc điền từ. Tám lần đánh đàn đều do “thính giả yêu cầu“. Nếu nghệ sĩ trình tấu tiếng tơ đồng không hề tự nguyện biểu diễn thì có ít nhất sáu lần Thúy Kiều đã làm thơ do cảm xúc trong tổng số mười một lần nàng vận dụng vần điệu ngôn từ. Con tim đã nhiều lần thôi thúc Kiều làm thơ. Nhà thơ trữ tình nói lên rung động tình cảm của mình trước những hiện tượng của cuộc sống. Lợi dụng khả năng kỳ diệu của ngôn ngữ thi ca như là một phương tiện miêu tả tất cả những gì phức tạp nhất trong tâm tư, trong đời sống, trong thiên nhiên, thi sĩ dùng con tim viết nên thi phẩm. Người làm thơ phải có cảm hứng say đắm thể hiện lòng thơ dạt dào. Nhưng trên danh thiếp của mình, Thúy Kiều còn có thêm quyền ghi rõ hai chữ “thi sĩ“ vì nàng từng từ chối lời khẩn cầu của Thúc Kỳ Tâm, không hoạ lại bài thơ Đường luật mà họ Thúc tức cảnh sinh tình sáng tác vào cái ngày hè oi bức sau khi nhìn trộm được nàng tắm khoả thân. Hôm ấy hệ động mạch vành của quả tim Thúy Kiều không nhận được đủ dung lượng máu cần thiết cho thi hứng; vỏ não người đẹp không đủ hưng phấn để đưa đến trạng thái mê đắm khi xuất hiện tứ thơ. Làm thơ chỉ làm khi nào cần làm thơ, phải làm thơ; để cho bài thơ có hồn. Tình huống tâm sinh lý này không xảy ra cho tác giả Trên vỉa hè Sài gòn. Cho nên bài thơ liên hệ vô hồn.
Tạm kết
Bác sĩ Jivago là y sĩ thi sĩ. Làm thơ tặng Lara, chàng huy động ngôn ngữ thi ca và dựa vào tâm huyết thi sĩ. Điều trị cho Kamarowsky, chàng sử dụng ngôn ngữ y học và vận dụng kiến thức khoa học. Chàng đã nói và viết hai ngôn ngữ bằng tiếng Nga. Nguyễn Đức Tùng không giống Jivago tuy cũng là y sĩ thi sĩ. Chung qui chỉ vì Trên vỉa hè Sài gòn là một poème sans poésie, một bài thơ không có chất thơ. Đó là chưa kể khi gọi nó là một bài thơ thì đã có sự lợi dụng quá đáng nội hàm ngữ nghĩa của hai chữ bài thơ.
07.02.2010
[còn tiếp – Phần Hai: thi ca trí tuệ]
.
bài đã đăng của Trần Văn Tích
- Tôi đọc Trên vỉa hè Sài gòn - Phần Hai : thi ca trí tuệ - 19.02.2010
- Trường hợp Đặng Tiến-Nam Chi - 27.01.2010
- Chán ngán, ngại ngần - 19.01.2010
9 Comments To "Tôi đọc Trên vỉa hè Sài gòn"
#1 Comment By actionminded On 11/02/2010 @ 1:16 pm
Một bài phê bình văn học quá hay và rất kinh điển! Theo tôi, nếu bỏ phần phê bình về việc bài thơ được đề tặng hai người bạn họ Nguyễn cùng quê Quảng Trị thì lại càng tuyệt hơn. Đồng ý rằng trong một cố gắng tìm hiều về tứ của bài thơ ông Trần văn Tích phải chú ý đến mọi liên hệ nhưng tôi nghĩ các phần phê bình khác đã là quá đủ.
Tôi không khắt khe về âm vận của bài thơ được tạm coi là “hiện đại” này nhưng ông Trần văn Tích rất đúng khi cho rằng:
“Đố ai tìm được một nốt nhạc [làn điệu] nào trong [bài thơ] “Trên vỉa hè Sài gòn” [của Nguyễn Đức Tùng]”. Thú thật tôi cũng vặt đầu bứt tai mả chẳng làm sao hiểu ra ngụ ý của câu “ngã đầu lên hòn đá”.
Phần in nghiêng là phần tôi thêm vào trích dẫn để làm rõ ngữ cảnh.
#2 Comment By Nam Phan On 11/02/2010 @ 5:31 pm
Có gì mà không hiểu ” ngụ ý ” cuả câu ” ngả đầu lên hòn đá”?
Thực ra là chẳng có ngụ ý gì cả. Rõ ràng lắm, là nhậu cho đã, nhân dịp tình cờ đồng hương gặp nhau ở một quán cóc nào đó rồi vật ra đấy. Nói là ngã đầu lên hòn đá cho nó “sang” và “thơ” và cầu kỳ đó thôi , chẳng hạn nói ví von như đức Chuá: “Chồn có hang, chim có tổ còn Con Người không có hòn đá gối đầu”. Mà không “vật” ra làm sao được, ba lần cơ mà:
Một lần ngẫu nhiên
Một lần dò hỏi
Một lần ngạc nhiên.
Cứ tưởng tượng mỗi lần ánh mắt gặp nhau lại vài ly cối thì đầu không đập lên đá mới là chuyên lạ.
Thế là Nguyễn Đức Tùng đã có tri âm, tri kỷ rồi nhá! Đường ta ta cứ đi, mặc ông Tích chê ỷ chê ôi.
#3 Comment By hai trầu On 12/02/2010 @ 9:18 am
Kinh xáng Bốn Tổng ngày 12 tháng 2 năm 2010
Kính chào bác sĩ Trần Văn Tích,
Mở đầu bài viết, bác sĩ viết: “Trên đời chẳng có gì dễ hơn là lựa một bài thơ nào đó để tán dương là hay”, nhưng chỗ quê tui, người ta mỗi khi nói cái gì dễ làm thì lấy cháo làm thí dụ như “dễ như ăn cháo”; chứ hổng ai dám nói “dễ như khen thơ“; vì nếu bác sĩ khen quá mạng, gặp nhà thơ thứ thiệt, biết tự trọng, luôn biết mình biết người, họ giận bác sĩ chết; còn gặp một nhà thơ mới vào nghệ nếu bác sĩ khen lớt lớt, họ thù bác sĩ chết luôn.
Trở lại bài thơ “Trên vỉa hè Sài Gòn”, được bác sĩ đem hết mọi lý lẻ kinh điển ra để bàn về bài thơ này thì thiệt là tốn quá nhiều thì giờ và công sức chỉ với kết luận: “một bài thơ không có chất thơ “, và rồi bác sĩ cũng chẳng được gì, bọn tui cũng chẳng được gì nhưng tác giả Nguyễn Đức Tùng lại lời vì được bác sĩ bỏ công cho bài thơ của ông chỉ vỏn vẹn có 31 chữ qua một bài phân tích đăng hai kỳ báo. Tui thiển nghĩ, ông Nguyễn Đức Tùng nên cảm ơn bác sĩ thiệt là nhiều.
Nhưng nói gì thì nói, tui vẫn thích đọc cuốn sách bác sĩ viết về Lục Vân Tiên và Cụ Nguyễn Đình Chiểu như mấy mươi năm trước hơn.
Kính chào bác sĩ và chúc bác sĩ nhiều sức khoẻ.
Kính thư,
Hai Trầu
#4 Comment By Trần Văn Tích On 13/02/2010 @ 1:37 am
Kính thưa ông actionminded,
Xin cám ơn sự tán trợ của ông. Chắc ông cũng phần nào đồng ý với độc giả Nam Phan?
Kính thưa ông Nam Phan,
Qua sự góp ý của ông, tôi có thêm kiến giải để hiểu câu “ngả đầu lên hòn đá”.
Kính gởi ông Hai Trầu,
Kính thưa ông Hai,
Tôi thật sự ngạc nhiên và thích thú khi được biết ông đã đọc cuốn “Nho y Nguyễn Đình Chiểu” của tôi. Trước khi mất, ông An Tiêm (thầy Thanh Tuệ) bảo với tôi là không kiếm được sách đó nữa. Nay thì tôi hiểu phần nào tại sao lại như vậy. Té ra không bị biên tập, chẳng cần giao lưu hội nhập gì ráo, nó đã chu du đến tận Kinh xáng Bốn Tổng!
Tôi mở đầu bài viết bằng cách bảo tán dương một bài thơ là hay thì rất dễ bởi vì sau phần mở đầu đó tôi phải phẩm bình một bài thơ không hay nên thấy việc làm này không phải dễ. Chứ nếu nói đúng như khẩu ngữ dân gian thì chắc tôi sẽ lạc đề sang chuyện bếp núc!
Nhân ông có nhận xét về chuyện mất công sức, tôi xin được thưa cùng ông là thật ra tôi chỉ làm công việc đạo văn của chính tôi. Nguyên là trước đây, khi anh Nguyễn Mộng Giác còn phụ trách tờ Văn Học bên Cali, tôi đã viết một loạt bài về chữ thơ, ý thơ, tứ thơ v.v.. nên nay chỉ có việc lật chồng báo cũ đó và lựa chọn những đoạn thích đáng để đưa vô bài viết mới. Đối với Phần Hai của bài viết tôi quả thật có mất công hơn chút đỉnh (nếu so với việc viết Phần Một vì không thể đạo văn thơ thới nữa) nên hôm nay mới tạm coi như hoàn tất. Nhân chuyện ai được lợi (độc giả, anh Nguyễn Đức Tùng, tôi), tôi muốn thưa thật với ông về “ý đồ” tại sao lại mang bài Trên vỉả hè Sài gòn ra bình và bình vào lúc này. Chung qui là vì cũng chính tác giả Nguyễn Đức Tùng đã có cuốn Thơ đến từ đâu in ở trong nước và gây dư luận khá xôm tụ. Có người xem cuốn đó như một trân phẩm (chắc Thơ đến từ đâu sẽ được người ấy xem là của gia bảo), có người mê sách đó còn hơn cha ông chúng ta mê nôm Thúy Kiều, có người xem sách đó thực ra bao gồm đến năm cuốn sách khác v.v.. nên tôi ngứa tay quá mới mang Trên vỉa hè Sài gòn ra mà bình. Tuy rằng tất nhiên hai chuyện phỏng vấn và mần thơ không giống nhau nhưng cả hai chuyện lại có cùng một người cáng đáng. Chuyện dây mơ rễ má là dzậy đó, thưa ông.
Kính chúc ông và quí quyến Năm Mới Canh Dần dồi dào sức khoẻ, gặp nhiều may mắn,
Trần Văn Tích
#5 Comment By haitrầu On 15/02/2010 @ 9:14 pm
Kinh xáng Bốn Tổng ngày 16-02-năm 2010,
( nhằm ngày Mùng Hai Tết Canh Dần).
Kính chào Bác sĩ Trần Văn Tích,
Lu bu ba ngày Tết, sắp nhỏ dìa mừng tuổi ông bà, nay mới hơi rỗi rảnh, tui ngồi viết mầy hàng này hồi âm cùng bác sĩ với lời cảm ơn bác sĩ đã có lòng chúc tui cùng gia đình Năm Mới vời nhiều sức khoẻ. Một vị trí thức như bác sĩ mà hạ cố tới dân ruộng tụi tui như vậy kể đã là quý báu biết bao nhiêu.
Thưa bác sĩ,
Ngày nay, dường như ngày tháng sao nó trôi qua vù vù thấy mà ớn hồn. Hồi đời xưa, có lẽ ai ai cũng đi bộ nên ngày tháng cũng chẩm rải bò bò từ từ; có đâu như bây giờ, mới Tết rồi loay- hoay lại Tết. Qua tiết lộ của bác sĩ, nên mới biết bác sĩ cũng vào tuổi thượng thọ rồi. Với bảy mươi chín năm lặng lẽ trôi, bác sĩ chắc có biết bao điều đáng nhớ. Phải vậy hông, thưa bác sĩ? Tui thì nhỏ tuổi hơn bác sĩ nhiều; nhỏ cỡ chừng gần một con giáp; thế nhưng tui vẫn thuộc vào những người bước vào tuổi hơi già già rồi. Chính vì vậy mà, sau những lúc đi thăm ruộng, trông nom con cháu cày bừa cắt gặt là tui hay tìm sách cũ để đọc hầu khuây khỏa tuổi xế chiều này. Bây giờ sao kỳ quá bác sĩ, ở tuổi già đọc sách mới hổng hạp mầy; sách càng cũ lại càng mê; mà sách cũ lại khó kiếm, thế mới kẹt. Ở đời này, dường như cái gì cũ thì qúi; cái cũ bị mất lại càng quí hơn nữa; hổng biết bác sĩ có nghĩ vậy cùng không, thưa bác sĩ ?
Bây giờ tui lại mê Minh Tâm Bửu Giám, mê Nho Giáo của Trần Trọng Kim rồi mê luôn cách nghị luận của hai cụ Trần Trọng Kim và Phan Khôi bàn về Nho Giáo. Nó vừa cao thâm vừa nho nhã mà quyết liệt biết dường nào. Tui cũng mê những bài “Tựa” của học giả Nguyễn Hiến Lê viết trong các tác phẩm của ông cũng như của văn hữu. Những bài “Tựa” sao mà thâm thúy, súc tích mà mời gọi lòng người, hổng cách gì mà mình có thể bỏ qua những tác phẩm của thầy Nguyễn Hiến Lê viết “Tựa”. Rồi, tui cũng mê sách của các cụ đời xưa như Lê Quý Đôn với Vân Đài Loại Ngữ; Chu Dịch, Khổng Học Đăng của cụ Phan Bội Châu; Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ do Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch; Việt Điện U Linh Tập của Lý Tế Xuyên do Lê Hữu Mục dịch; gần gần có Nguyễn Đăng Thục như bộ Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam, hoặc như các sách về ý nghĩa cuộc đời mang đặc tính Đông Phương nó hợp với bà con làng quê tụi tui hơn mấy cái vụ cách tân, cách tiếc sau này. Trong số sách đã đọc, tui có gặp bài viết của nhà văn Võ Phiến bàn về cuốn “Nho Y Nguyễn Đình Chiểu” của bác sĩ, tui xin trích vài đoạn gởi bác sĩ đọc chơi dịp Năm Mới và tui chắc bác sĩ cũng đã đọc từ rất lâu rồi vậy:
“…………………..
“Khi kể chuyện ba thầy, cụ Đồ không nghĩ đến việc phục vụ đạo, đến cái chính tà, cụ quên chuyện thưởng phạt. Do đó, cụ vẽ được cảnh sống động, người sống động. Trong phúc chốc, tác phẩm rời bỏ được dáng vẻ cuốn sách luân lý.
Những điều vừa nói không hề là phát giác của tôi. Ông Trần Văn Tích đã thấy cả. Ông biết cụ Đồ hướng sự sáng tác của mình vào những mục tiêu đạo đức, cụ xây dựng nhân vật của mình như những biểu tượng luân lý; ông lại thấy, ở riêng phần mô tả con người thầy Ngang, cụ “phác họa được con người sinh động và xác thực”, thấy “thầy Ngang xuất hiện linh hoạt, giàu cá tính”. Ông Trần cũng thấy cả sự thiên vị của cụ Đồ: bao nhiêu kẻ sai quấy khác đều bị nghiêm trị mà “thầy Ngang không hề có tên trong “sổ đen” của Lục Vân Tiên”.
Ghi nhận điều ấy xong, ông Trần có ngay lời giải thích: Có lẽ vì cụ Đồ cũng là thấy thuốc cho nên hiểu rõ khả năng hạn chế của y thuật mà bệnh Lục Vân Tiên là bịnh quá khó, không phải thuốc tiên làm sao chửa được !
Thành thử cụ Đồ vì tình đồng nghiệp mà rộng rãi với cụ Đồ chăng ? Tôi e vậy. Bởi vì không chữa được bệnh có thể không phải lỗi của thầy Ngang, không trao con bệnh qua thầy bói, thầy pháp . Sau đó đã biết bệnh không chữa được mà vẫn gạ gẫm chú tiểu đồng đáng thương:
” Ngang rằng: còn bạc trong bao
Thôi ngươi khá lấy mà trao cho người”
Thì thầy Ngang lẽ ra nên có tên trong “sổ đen” lắm. Cho hay cái tình ái hữu trong y giới thật là mặn nồng. Phải chăng cũng là mối cảm tình ấy đã khiến ông Trần có công trình biên khảo độc đáo này ?
“…………………..
Tôi biết mình, cho nên vẫn còn vòng vo tránh né từ dòng chữ đầu tiên đến đây đâu dám có lời nào liên quan đến những vấn đề hốc búa này. Vả lại tôi cần gì phải liều mình lạc bước vào chốn nguy hiểm ấy. Ông Trần là một tác giả đã có sách xuất bản từ ngót hai mươi năm trước. Trong hai mươi năm, những biên khảo của ông về y học lẫn văn học, còn ai mà không biết ? Ông còn cần ai giới thiệu nữa !
Sở dĩ có những dòng này chẳng qua vì mến nhau từ những mấy mươi năm, từ cái thuở cùng tới lui một tòa soạn tạp chí ở Sài Gòn, cùng theo dõi từng trang sách của nhau có trong nước lẫn ngoài nước. Chẳng qua là để mừng nhau về một thành công. Là để cùng nhau kỷ niệm một thành công.”
Võ Phiến
Nhân đầu Năm Mới, tui xin kính chúc bác sĩ và gia quyến một Năm Mới nhiều sức khoẻ, an khang, may mắn.
Kính thư,
Hai Trầu
#6 Comment By Bulubuloa On 17/02/2010 @ 9:28 am
“Ba lần ngã đầu lên” nhìn nhau, và… giống như là chào nhau. Nhưng rồi cùng coi nhau như nhìn thấy “hòn đá trên đường” đi.
“Ba lần ánh mắt gặp nhau”. “Lần đầu ngẫu nhiên” vì ngờ ngợ, “lần hai dò hỏi” hình như là có biết nhau”, “lần ba ngạc nhiên” vì biết nhau mà không nhận ra nhau. Bối cảnh ấy chỉ xảy ra, chắc ai cũng thừa biết biết, sau 1975 ở “trên vỉa hè Saigon”, bạn cũ gặp nhau mà không nhận ngay ra nhau vì [chắc là]trải qua quá nhiều tang thương dâu bể, và [chắc phải] gượng làm ngơ, coi nhau như “hòn đá trên đường”. Cảnh và tình ở vỉa hè Saigon thời mạt vận.
#7 Comment By Thơ Thẩn On 17/02/2010 @ 5:22 pm
Tôi đồng ý với lời bình của bác Tích, đặc biệt là câu cuối:
Đó là chưa kể khi gọi nó là một bài thơ thì đã có sự lợi dụng quá đáng nội hàm ngữ nghĩa của hai chữ bài thơ.
Hiện tại trên “thi trường” Việt Nam có quá nhiều “hàng giả” và “tạp phẩm” do các vị tự gọi (hoặc kết bè tung hô lẫn nhau) là nhà thơ, thi sĩ (mà chẳng biết ngượng miệng) rao hàng ầm ĩ trên mạng cũng như khắp các vỉa hè ngoài đời.
Thơ Thẩn
#8 Comment By Trần Văn Tích On 18/02/2010 @ 12:07 am
Kính thưa nhị vị Nam Phan và Bulubuloa,
Tôi rất vui mừng đọc phản hồi của nhị vị. Muốn tìm hiểu một tác phẩm được xem là mang tính trí tuệ thì cần yêu cầu trí tuệ làm việc tích cực. Theo kiến giải của ông Nam Phan, dữ kiện “hòn đá trên đường” liên quan đến ảnh hưởng của hơi men. Ông Bulubuloa lại nghĩ rằng đó là do chiến chinh chia cắt, tang thương biến đổi. Cá nhân tôi thì lại thiên về cách giải đáp tâm-sinh lý : cả tác giả lẫn hai vị được tặng thơ đều là người Quảng Trị, đều từng học trường trung học Nguyễn Hoàng, nghĩa là từng cùng nhau nhìn lòng sông, từng cùng nhau nhìn bờ đá dòng Thạch Hãn, con sông mang tên mồ hôi của đá, cho nên trong một giấc mơ ở đâu đó bên Canada, anh Nguyễn Đức Tùng đã sống cảnh trên vỉa hè Sàigòn và anh đã ghi lại cảm xúc của mình. Tình trạng này hơi giống hoàn cảnh Thúy Kiều điền mười bài từ với đầu đề do Đạm Tiên cung cấp. Hôm đó, cô Kiều không ngủ say nhưng cũng không thực tỉnh, cô tựa ngồi bên triện một mình thiu thiu. Nhưng dầu diễn giải theo cách nào đi nữa, sao đọc vị tiền bối họ Nguyễn – tuy đọc bằng chữ hán – tôi vẫn thấy ngòi bút lông của tiên sinh thấm đẫm mực trữ tình trong khi ngòi bút nguyên tử của vị đồng hương họ Nguyễn ngày nay thiếu hẳn chất thi vị : Nguyễn Du gặp lại cô Cầm (Long thành cầm giả ca) và người ca kỹ cũ của em (Ngô gia đệ cựu ca cơ) sau bao cơn binh lửa và sau bao năm ly cách đã có những bài thơ thật đáng gọi là thơ.
Kính thưa ông Hai,
Dường như lớn lên trong một môi trường nào đó và đạt đến một lứa tuổi nào đó, con người có xu hướng trở thành thủ cựu. Những tác phẩm ông thích đọc cũng là những tác phẩm tôi yêu chuộng. Mình càng đọc chúng càng thấy thấm. Tôi nhận thấy tuy hai ông Nguyễn Hiến Lê và Võ Phiến cùng viết tựa để giới thiệu sách nhưng mỗi người có lối viết riêng : ông Lê viết chững chạc, mực thước; ông Võ Phiến viết dí dỏm, sâu sắc. Xin cám ơn ông rất nhiều đã cất công chép cả một đoạn văn dài của ông Võ Phiến giúp tôi có dịp đọc lại.
Tôi chỉ hơn băn khoăn về ấn bản những cuốn sách ông liệt kê. Cụ thể như cuốn Truyền kỳ mạn lục. Chẳng rõ ông đang dùng bản dịch của Trúc Khê Ngô Văn Triện do cơ quan nào ấn loát. Bản do nhà Tân Việt phát hành ở Sài gòn trước đây và được Xuân Thu in lại ở quốc ngoại đáng tin cậy hơn hẳn bản do các nhà xuất bản trong nước (Nhà Xuất bản Văn Học, 1971; Nhà Xuất bản Văn Nghệ, Hội Nghiên cứu giảng dạy văn học TPHCM, 1988) ấn hành. Đáng tiếc nhất là sách in trong nước bỏ mất phần chữ hán của các bài thơ. Ngoài ra dưới chế độ quốc gia, còn có bản dịch của Bùi Xuân Trang do Bộ Quớc gia Giáo dục xuất bản năm 1962 : bản này còn in cả đầu đề các truyện với nguyên văn chữ khối vuông. Xin kể hầu ông một câu chuyện vui vui. Ở Đức có một nhà nghiên cứu văn học của dân tộc chúng ta, nguyên sống ở bên Đông Đức và do phe xã hội chủ nghĩa cả Việt lẫn Đức đào tạo tên là Ursula Lies. Bà Lies dịch hai chữ nghĩa phụ trong đầu đề Khoái châu nghĩa phụ truyện sang tiếng Đức thành Pflegevater vì bà tưởng “nghĩa phụ” là cha nuôi (!) trong khi thực ra chữ “phụ” trong Truyền kỳ mạn lục là chỉ đàn bà! Giá bà có bản dịch Bùi Xuân Trang! Tôi đang tham gia thảo luận với chư vị độc giả khác trên Da Màu về tỷ lệ bách phân giữa cơ chế và cá nhân trong sáng tạo văn học; một số bà con coi nhẹ ảnh hưởng của cơ chế khiến tôi thắc mắc quá trong khi tôi thì cho là cơ chế Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hay cơ chế Cộng hoà Dân chủ Đức cũng đều tác động khá nặng nếu không nói là rất nặng lên các công trình văn học văn chương.
Chẳng dám lạm dụng không gian trên mạng của Da Màu nữa, tôi xin có lời chào tạm biệt gởi ông và các anh hai, chị ba.
Trân trọng, quí mến,
Trần Văn Tích
#9 Comment By Nguyễn Đức Tùng On 18/02/2010 @ 9:50 am
Thua, leap association, co le.
NDT.