- Tạp Chí Da Màu – Văn chương không biên giới - https://damau.org -

Trải nghiệm văn chương song ngữ

*

CÂU HỎI CHUNG – VỀ VĂN HỌC HẢI NGOẠI

 

1. Theo anh/chị, có phải biến cố 30/4/1975 là nguyên nhân phát sinh ra Văn Học Hải Ngoại? Nếu có thể, xin anh/chị nêu lên vài đặc tính của Văn Học Hải Ngoại.

DNN: Nói một cách giản dị, đúng vậy, theo dữ kiện lịch sử có sự tách lìa ra khỏi biên giới địa lý hoặc thay đổi quốc tịch thì mới có văn học song ngữ và văn học của “ngưởi gốc Việt” ở ngoài biên giới, chủng tộc. Điều này không thấy xuất hiện trong lịch sử VN trước đây, thời kỳ Hán tộc hay nhà Minh cai trị hoặc thời Pháp thuộc. Nếu có thì không được hệ thống hoá hay công nhận thành văn học sử.

Nhiệm vụ khởi đầu văn học sử văn chương ngoài biên giới từ hậu thế kỷ hai mươi là của người gốc Việt.

2. Lấy tiêu chuẩn nào để xác định một tác giả hay một tác phẩm là thuộc về Văn Học Hải Ngoại? Địa lý? (trong/ngoài nước) Chính trị? (quốc gia/cộng sản/bất đồng chính kiến) Ngôn ngữ? Nơi xuất bản? Hay điều gì khác?

DNN: Tất cả các điều ấy, như Da Màu và tôi đã nêu trên đây. Và dấu mốc lịch sử nữa: dòng thời gian chính là mấu chốt cuả sự phân loại: hậu bảy lăm.

3. Mong anh/chị cho nhận xét về sự khác biệt giữa Văn Học Miền Nam 1954-1975 và Văn Học Việt Nam Hải Ngoại.

DNN: tất cả những sự kiện xẩy ra cho văn chương như DM đã nêu, cộng thêm một sự kiện rất quan trọng: kinh nghiệm sống và việc xây dựng nhân vật cũng như hoàn cảnh sống trong thế giới văn chương sáng tạo và sau đó là ngôn ngữ.

Theo tôi, VH HN chịu ảnh hưởng văn học tạo dựng ở VNCH và văn học trước 1954. VH HN nếu có chỗ đứng trường tồn thì sẽ phải là sự tiếp tục cuả văn học hiện đại VN thế kỷ hai mươi từ thời Pháp Thuộc và thời kháng chiến.

4. Theo quan sát của anh/chị, có sự giao thoa nào giữa Văn Học Hải Ngoại và văn học trong nước không, và sự giao thoa đó diễn ra như thế nào?

DNN: Hoàn toàn tuỳ thuộc vào các thành viên của cộng đồng tạo nên bởi giới cầm viết, và sẽ tự động tách rời thành nhiều khuynh hướng. Trong sự “giao thoa” sẽ thấy những khác biệt và phân loại cũng như những bất đồng và cá tính ắt có. Nhưng sẽ phải dựa trên chất liệu như “keo” làm dính lại thành nền tảng văn học ở mẫu số và tính chất chung.

VỀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC

 

1. Khi bắt đầu sự nghiệp văn chương ở hải ngoại, động lực nào thôi thúc anh/chị tiếp tục viết và theo đuổi con đường văn học trong bối cảnh xa xứ?

DNN: Tôi không có chủ trương, và chỉ viết bằng tiếng Việt một cách tự nhiên vì văn hoá gia đình và một nhiệm vụ tinh thần. Tôi được chọn làm đại diện văn chương quốc gia của VNCH năm tôi 17 tuổi, một tháng trước khi Saigon sụp đổ, trong một cuộc thi sáng tác nghị luận Lễ Hai Bà Trưng. Sau đó, tôi viết tiếng Việt cho cha mẹ tôi, và với sự giúp đỡ hy sinh vô bờ bến của cha tôi, là một học giả ngữ học. Đồng thời tôi viết cho mẹ tôi đọc.

Ngoài ra tôi hoàn toàn viết bằng Anh ngữ và việc xuất bản bị cản trở vì nghề nghiệp sinh nhai và đời sống trong dòng chính ở Bắc Mỹ.

2. Văn Học Hải Ngoại đã ảnh hưởng như thế nào đến phong cách và tư tưởng sáng tác của anh/chị khi mới bắt đầu viết/ hoặc so với thời kỳ anh/chị viết ở Việt Nam?

DNN: Tôi chịu ảnh hưởng của văn học VN qua VNCH, chứ không phải từ văn chương tiếng Việt sau 1975. Ở VN trước bảy lăm, tôi sáng tác quá nhiều mà không ai biết, lúc tuổi vị thành niên, toàn là viết tay, một cuốn tiểu thuyết cả ngàn trang vì ảnh hưởng chị em Bronte của Anh, sửa soạn xuất bản thì biến cố bảy lăm xẩy ra, tôi mất hết. Ngay cả nhật ký và hồi ký tôi cũng bỏ lại ở trước cổng phi trường vì muốn có sự đoạn tuyệt triệt để chấm dứt nỗi đau sinh ly tử biệt với người thân yêu.

Trước bảy lăm: tôi chỉ còn giữ lại một truyện ngắn đăng trong tập san của trường trung học và hai bài thơ tôi thuộc theo trí nhớ. Tôi muốn nhờ DM đăng hai bài thơ tiếng Việt tôi làm trước bảy lăm, theo trí nhớ tôi chép xuống trước 1980. Tôi làm hai bài này năm tôi 15, 16 tuổi.

3. Có những nhà văn hay tác phẩm nào đã truyền cảm hứng đặc biệt cho anh/chị trong quá trình sáng tác tại hải ngoại không?

DNN: Có. Nhất Linh, Khái Hưng, Thế Lữ, Thạch Lam, Nguyễn thị Vinh, Nhật Tiến, Nguyễn Thị Hoàng, dịch giả Hoàng Hải Thuý, và các tác phẩm kinh điển của văn học Anh và Mỹ, trong đó có bản dịch Ngàn Lẻ Một ̣Đêm, chị em Bronte, và Nabokov, tác giả cuốn Lolita, nói về sự mục rữa của trí thức Nga sống ờ Mỹ theo nhu cầu tâm lý phi đạo đức của họ, vì cố quốc với nghìn năm lịch sử đã không còn hiện sinh. Lolita được trí thức Anh Mỹ coi là tiểu thuyết hay nhất của thế kỷ 20, và Hollywood làm film, nhưng giá trị luân lý của cuốn tiểu thuyết thì hoàn toàn phi đạo đức, amoral.

Trước đó, ở VN: các tác phẩm kinh điển của Anh, Pháp và Tự Lực Văn Đoàn cũng như của thế giới, trong ̣đó có “Ngàn Lẻ Một Đêm,” như tôi đã nói, tất cả tạo ảnh hưởng ở tôi, ngay từ thơ ấu dưới mười tuổi, cộng thêm các tác phẩm của các nhà văn nữ 1954-1975, VNCH. Công trình giáo dục nuôi dưỡng un đúc của mẹ tôi, một giáo sư văn chương.

4. Trong các tác phẩm của mình, anh/chị thường khai thác những chủ đề nào liên quan đến đời sống người Việt ở hải ngoại? Có tác phẩm nào anh/chị tâm đắc nhất không?

DNN: Tôi khai thác từ đời sống riêng mình chứ không phải của người Việt hải ngoại. Nhưng tôi sáng tác tiểu thuyết chứ tôi không viết hồi ký, và cuốn tiểu thuyết lớn nhất nói về nghề luật thập niên 80, là thập niên thay đổi rất nhiều trong dòng chính Hoa Kỳ, tôi vẫn viết chưa xong, chưa bao giờ đưa ra cho cộng đồng người Việt đọc vì sáng tác bằng tiếng Anh, còn dang dở và chưa xuất bản vì lý do thay đổi nghề nghiệp trong dòng chính. Năm 2001 tôi dạy đại học Luật toàn thời gian, không viết tiểu thuyết được vì phải viết nghị luận, và vì tôi dạy môn của dòng chính: corporate law — Tôi phải làm việc gấp ba đồng nghiệp vì rất nhiều học trò da trắng con nhà giàu có thế lực ở các trường tư không tin khả năng của nữ giáo sư luật gốc Việt. Họ cho họ giỏi hơn thầy. Tuy nhiên tôi viết và được nổi tiếng một thời gian dài trong dòng chính về địa hạt chuyên môn: Luật Học và Văn Chương – The “Law and Literature” Movement. Vì đi dạy, tôi chưa có tiểu thuyết đắc ý do mình viết. Tên tôi là Như Nguyện nhưng chưa chắc rằng Nguyện đã Như, vì tôi thuộc thế hệ di cư tiên phong bước vào dòng chính ở những môi trường cạnh tranh gay gắt hàng đầu ở Mỹ. Nghề nghiệp LS trong dòng chính của tôi ở Mỹ cản trở sự nghiệp văn chương phi biên giới, nhưng cũng tạo nên kho tàng chất liệu. Điều đó không có nghĩa có chất liệu là đúc được bánh. Lý do: tôi là thế hệ phụ nữ da màu gốc Việt đầu tiên hoàn toàn tiến vào dòng chính, trong công việc luật sư ở những môí trường gay go nhất, thành ra gánh nặng trên tâm linh và đời sống tôi rất lớn. Điều này đồng bào Việt Nam và ngay cả gia đình không hiểu và không biết. Chỉ có độc giả của hồi ký trong tương lai mới biết mà thôi. Tôi chưa hề có dự định viết hồi ký toàn thời gian bao giờ. Cuộc đời tôi không phải là chiếc bánh mà tôi muốn đúc. Tôi chỉ muốn viết hồi ký ngắn hạn nếu sự tiết lộ cá nhân mang lại lợi ích cho nhân sinh.

CÂU HỎI DÀNH RIÊNG CHO DƯƠNG NHƯ NGUYỆN

 

1. Là một người viết đã trải qua nhiều môi trường sống khác nhau, từ Việt Nam đến Hoa Kỳ, Dương Như Nguyện thấy những yếu tố nào của văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam đã định hình nên tiếng nói văn chương của mình trong suốt 50 năm qua?

DNN: Tôi không nghĩ đến điều này, vì viết văn tiếng gì đi nữa đối với tôi là chuyện tự nhiên, không tính trước hay cố gắng. Tôi nghĩ rằng tác phấm tiếng Việt của tôi là cách viết tiêu biểu của người được giáo dục ở VNCH, và cách suy nghĩ cuả thế hệ trước bảy lăm. Nhưng nội dung là sau bảy lăm với sự tiếp nối của hai mảnh đời đã vỡ cho cả một chủng tộc. Còn văn phong thì tự nhiên là… của tôi, chắc không giống ai…

Tôi thấy rõ ràng cách viết và tiếng Việt của tôi khác hẳn những gì tôi thấy trong nước đưa ra sau bảy lăm, nhưng tôi hiểu và thưởng thức được văn chương của họ. Trong nước chắc cũng thích văn tôi vì độc giả bắt gặp truyện của tôi bị lấy và in bán ở tiệm sách trong nước… Tôi hoàn toàn không biết. Sách cuả tôi được đọc trong nước, đến mức nào, ra sao, tôi không rõ, nhưng có người đã lấy tựa truyện “Trời Mùa Mưa Singapore” để viết… theo nhưng thay đổi cốt truyện để còn… cải chính được. Một em trong nước cho tôi hay. Tôi phải cám ơn em đã nghĩ đến bản quyền của tôi. Còn sách của cha tôi trước bảy lăm, thì in bán trong nước mộ̣t cách… rất tự nhiên, chúng tôi bên này không biết, nhưng “đồng bào” mách lại, và chính mắt tôi cũng thấy trong nhà sinh viên cũ của cha tôi, ở Sài Gòn.

2. Có sự khác biệt gì trong cách sáng tác giữa nhà văn viết tiếng Anh Wendy Nicole Duong, tác giả Daughters of the River Huong (RavensYard Publishing, Ltd., 2005) và Dương Như Nguyện, người viết Mùi Hương Quế (truyện ngắn, Văn Nghệ, 1999) và Chín Chữ Của Nàng (Văn Mới, 2005) bằng tiếng Việt?

DNN: Thật tình tôi không nghĩ đến sự khác biệt. Hai cuốn tiếng Việt có chút tự truyện – hồi ký ngắn hạn trong đó. DOTRH và Mimi and her Mirror là tiểu thuyết hoàn toàn, dù rằng tôi cũng mượn chút ít từ nghề nghiệp LS của tôi để tạo dựng nhân vật nữ chính (protagonist).

3. Dương Như Nguyện đã có một câu nói về đời mình: “Luật học là nghề. Văn chương nghệ thuật là nghiệp. Tôi đi tìm cái đẹp trên cõi đời này như một nàng quý phái một chân.” Hình ảnh “nàng quý phái một chân” có thể coi như cốt lõi trong triết lý sáng tác của Dương Như Nguyện. Có phải ẩn dụ này nói lên trở ngại hoặc thách thức rất lớn, gần như một sự khiếm khuyết, mà Dương Như Nguyện phải mang theo trong đời sống và trong nghệ thuật?

DNN: Absolutely. Tôi thấy mình mang vấn nạn chung của cả dân tộc Việt sau bảy lăm, mà chắc là độc giả và người quen không biết hay không nhận ra. Nếu tôi có chỗ đứng trong văn học Việt qua đời sống cuả tôi và những gì tôi làm hay tạo nên, thì tôi chỉ hy vọng thế hệ đi sau nhận ra trong tiểu sử và tác phầm của tôi mà thôi. Đi làm LS trong dòng chính, tôi viết sáng tạo giống như phụ nữ mang kiếp tật nguyền, nhảy lò cò một chân giữa hai thế giới, nhưng điều đó không phải là trở ngại ngôn ngữ. Tôi được Đại Học Michigan và Hội Việt Mỹ xác định khả năng viết tiếng Anh và đi dạy tiếng Anh từ hồi tôi 15 tuổi ở Saigon, 1973 – Lúc đó tôi đang viết bằng bút chì, viết tay một tiểu thuyết cả ngàn trang bằng tiếng Việt, trên giấy học trò, có kẻ ô, đặt bối cảnh ở Đà Lạt. Nhân vật chính tên là Tường Khanh, một “nàng quý phái” mồ côi. Tôi viết đến đâu thì kể cho em gái tôi nghe đến đấy. Căn nhà của cha mẹ tôi ờ Saigon vẫn còn đó, chủ mới tôi có thể tìm sau bảy lăm, nhưng tôi không nghĩ đến việc đi tì m hay chuộc lại bản thảo dở dang ấy, từ cuộc đổi đời năm ấy…

4. Việc viết bằng Anh ngữ về đề tài Việt Nam, rồi phối hợp dịch lại sang tiếng Việt (Con Gái Của Sông Hương) có phải là một hành trình sáng tạo đòi hỏi sự thương lượng giữa hai nền văn hóa và ngôn ngữ — giống như giữ thăng bằng trên “một chân” trong cách tiếp cận văn chương, mà vẫn giữ được vẻ quý phái, tự trọng, thanh lịch, kiêu hãnh và không đầu hàng?

DNN: Cám ơn nhận xét của DM. Bản dịch CGCSH và Bưu Thiếp Của Nam thật ra không phải là văn phong của tôi, mà là của dịch giả. Tôi chỉ đọc lại bản dịch về nội dung mà thôi. Văn tiếng Việt của tôi thì độc giả sẽ phải tìm qua Mùi Hương Quế và Chín Chữ Của Nàng. Và trong thơ xuôi song ngữ, prose poetry. Tôi víết thẳng bằng tiếng Việt quá ít. Trong thơ tự do, free verses, của tôi, văn phong như thế nào là văn tiểu thuyết của tôi như thế ấy, bất kể khác biệt ngôn ngữ.

Tôi viết kịch, drama, vì có sở thích và chút kinh nghiệm kịch nghệ từ trường ốc của Mỹ, không nhiều đủ. Nhưng tôi lại chịu ảnh hưởng mẹ tôi ngay từ tấm bé, ở Việt Nam: Bà mang tư chất của một đạo diễn sân khấu mà chắc độc gỉả không hề biết.  Các  nữ  sinh  học  bà  ở  trường  Đồng  Khánh  Huế  biết  điều  này.

5. Kinh nghiệm trong ngành luật, những kỹ năng phân tích và lập luận chặt chẽ đã ảnh hưởng như thế nào đến phong cách viết văn, cách xây dựng cốt truyện và cách Dương Như Nguyện khai triển nhân vật trong tác phẩm của mình?

DNN: Có ảnh hưởng khá nhiều, nhất là trong tiểu thuyết dựa trên nghề luật qua các nhân vật, mà nhiều độc giả VN chưa hề đọc. Tuy nhiên nhờ sự học hỏi bàn bạc với nhà văn chuyên nghiệp Robert Olen Butler, first Pulitzer Prize in the Vietnam Genre – Ông xác nhận điều tôi đã biết: văn chương sáng tạo là vô thức, không phải ý thức.

Tôi chưa hề bàn luận văn chương với hai nhà sáng tạo gốc Việt được giải lớn cuả Mỹ: Giáo Sư Nguyễn Thanh Việt và Giáo Sư Ocean Vuong. Khoảng cách tuổi ít nhất là mười năm. Tác phẩm của tôi chưa hề được gửi đến các nhà xuất bản lớn hay gửi dự thi như hai vị này, vì cuộc đời tôi song hành hai ngã rẽ, nhiều bổn phận đối nghịch, tôi không đủ thì giờ nghĩ chuyện tô điểm cho tiểu sử hay tổ chức cho hành trang. Đó có thể̀ là sự kém may mắn của tôi. Nhưng tôi có phước hơn hai vị này ở chỗ: họ không được đào tạo bởi cha mẹ ông bà là giáo sư /học giả Việt Văn, hay được lớn lên với văn học Việt trong lòng dân tộc ở miền Nam ở tuổi mới lớn như tôi, để có ký ức lịch sử trong người. Tôi được số mệnh ưu đãi và bạc đãi…

6. Theo Dương Như Nguyện, những đề tài mới và cấp thiết của thế giới hiện nay (như biến đổi khí hậu, bản sắc, giới tính, toàn cầu hóa, trí tuệ nhân tạo v.v.) có cần một hình thức nghệ thuật mới để thể hiện?

DNN: Absolutely, nhưng̣ đó không phải là con đường hay chủ đích của tôi. Tôi viết theo trực giác và vô thức, cũng như qua trái tim và bản năng, sự thôi thúc đạo đức của tinh thần, chứ không viết theo thời cuộc hay những gì đang xẩy ra trong xã hộ̣̣i. Tuy thế, ngòi bút và khao khát sáng tạ̣o của tôi không tách rời ra khỏi xã hội tôi đang sống. Theo tôi, văn chương và đạo đức bản thân là một. Văn chương là thiện, văn chương là ghi nhận, khai phóng, mở đường. Văn chương không thể thờ phượng cái ác, cầm tù nhân loại, cho dù nhà văn phải mô tả ác quỷ hay địa ngục từ đời sống.

Đồng thời, bắt đầu năm 2012, tôi có chương trình viết tiểu thuyết giả tưởng, science fiction, trực tiếp nói đến AI thông minh nhân tạo. Tôi đã thảo cốt truyện, phân chương, nhưng chưa bắt đầu khai triển bằng ngòi viết…

7. Như vậy tương lai ra sao, trong hành trình và hành trang Dương Như Nguyện?

DNN: Tôi chỉ hy vọng trong hai thập niên sắp tới, còn lại, tôi sẽ mang những tác phẩm đang viết dở, sẽ viết xong, và những tác phẩm mới, đến cho độc giả tiếng Anh cũng như tiếng Việt.

Độc giả gốc Việt của tôi, nhiều thế hệ đã nằm xuống. Tôi rất hối hận đã quá bận không theo dõi cộng đồng để thân hành trả lời thơ nhiều độc giả trong thập niên chín mươi. Bạn thân cuả tôi thời niên thiếu, một phụ nữ sáng tạo, thì đã lìa đời.

Nói tóm lại, vấn đề sáng tác văn chương của tôi bị gián đoạn từ đầu thế kỷ, vì tôi “bị”làm giáo sư dạy luật thương trường tất cả trên mười năm, 2001-2012, cho một ngôi trường lớn, nơi đã đào tạo ra Bà Condee Rice của chính phủ Bush – Đáng lý ra tôi không nên chọn dạy Luật ở trường lớn này thì mới có thì giờ viết tiểu thuyết được.

Sau đó, khi nghỉ dạy, tôi lại “bị” chính phủ Mỹ chọn đưa về VN và sang Nga dạy. Kết quả là chín cuốn sách khảo luận đăng tải, xuất bản trong giới khảo cứu luật học của Mỹ: ai mà đọc trừ các giáo sư muốn vào ngạch trật đại học? Điều này minh chứng việc đời sống của tôi trong luật học đã “bó tay” ngòi bút sáng tác văn chương.

Những năm tháng bị “bó tay” trong hàn lâm Mỹ, tôi… làm thơ song ngữ như ăn cháo thế cơm. Sẽ cố gắng xuất bản thơ song ngữ qua dòng chính, vì nhà xuất bản thật sự cuả người gốc Việt không còn nữa. Cộng đồng gọi là hải ngoại đang mất dần thế giới của văn chương tiếng Việt ở Mỹ. DM đang đối diện với vấn nạn này???

Trong trường hợp tôi, việc “bó tay” cũng là vấn nạn gia đình: song thân tôi bệnh nặng nhiều năm, rồi nằm xuống (2011-2019). Tôi là con gái đầu lòng và trở thành… mồ côi (như bé Hạnh, bé Phượng của Nhật Tiến mà mẹ tôi đã cho tôi đọc từ lúc tôi chưa hiểu cốt truyện). Thế kỷ hai mốt như bẻ gãy ngòi bút sáng tạo, vì tôi mất hai tiếng nói nâng niu cùng hai cặp mắt thương yêu theo dõi tôi trên con đường văn chương chữ nghĩa: cha mẹ tôi, hai giáo sư văn chương. Tôi viết tiếng Anh cuốn đầu tiên rồi đưa cho dịch giả là bạn của mẹ tôi, để mẹ tôi có thể đọc bản dịch của bạn mình, thì bà sẽ thích hơn.

Sau khi hai ông bà liên tiếp qua đời, tôi quay về nghề luật trực thuộc chính phủ liên bang một thời gian nữa. Lại bị “bó tay”: Thí dụ, để làm việc ở “federal building,” tôi lái xe hai tiếng trên xa lộ Houston: đi và về. Trong thời gian đó, tôi chỉ gặp gỡ đồng hương qua một nhóm nhỏ thích ca hát nhạc Việt ở Houston mang tên”Sóng Việt.” Tôi chỉ nghỉ hưu thật sự giữa năm 2024.

Hiện giờ tôi chú trọng vào việc xuất bản toàn bộ tuyển tập thơ song ngữ, hai vở kịch cho radio và sân khấu (đây là hai tác phẩm hoàn toàn phi thương mại, hai kịch bản viết về triết lý; vì thế sẽ là kịch để đọc nhiều hơn là để diễn – kh̉̀ông có tích cách thương mại để đòi hỏi khán giả mua vé vào xem). Tôi sẽ cho ra đời tuyển tập truyện ngắn và hai vở kịch này, trước khi quay về truyện dài và hồi ký. Chỉ có hai vở kịch là có bản tiếng Việt do chính tôi viết, không phải văn dịch của ai khác. Còn ngoài ra tiểu thuyết và truyện ngắn đều là tiếng Anh.

8. Dương Như Nguyện muốn nói thêm gì với độc giả đọc tiếng Việt không?

DNN: Cám ơn DM đã cho tôi dịp tâm sự với độc giả về những tác phẩm của tôi, hy vọng sẽ xuất bản trong tương lai, dù rằng môi trường đọc sáng tạo đã trở thành thiếu hụt độc gỉả trong hoàn cảnh hiện nay. Tôi vẫn sẽ viết và xuất bản cho độc gỉả dù chỉ có… một người! Tại sao? Vì tôi là đứa con sáng tạo văn chương của cha mẹ tôi: hai giáo sư văn chương của VNCH trước bảy lăm — Cha tôi đến từ miền Bắc “ngàn năm văn vật” trước năm tư, từ Sơn Tây của Tản Đà, Quang Dũng; mẹ tôi đến từ miền Trung đường về làng “lá xanh như ngọc” không xa Vĩ Dạ của Hàn Mạc Tử bao nhiêu… Ở thành phố Huế mẹ tôi đã nghe Hoàng Đế Bảo Đại đọc diễn văn thoái vị từ Thành Nội… Trong hoàn cảnh gay go của quê cha quê mẹ, tôi đã được sinh ra, vẫn được làm cái trứng “bọc điều” trong văn chương của cha mẹ đem đến… Tôi lớn lên với quá nhiều các tác gỉả Việt Nam qua tủ sách gia đình, tôi không thể kể hết, và chính tay cha tôi cũng lại mang đến cho tôi Shakespeare: Người Lái Buôn Thành Venice, Tom Sawyer của Mark Twain, và mẹ tôi thì mang đến cho tôi Pearl S. Buck, vân vân và vân vân, tất cả đều xẩy ra ở Nam Việt Nam, trước khi tôi mười sáu tuổi…

Độc gỉả ít ỏi bao nhiêu cũng sẽ nhìn thấy toàn thể những gì tôi nói chút ít với DM hôm nay, qua các tuyển tập thơ song ngữ sắp tới, rất gần về thời gian tính, nơi mà chữ sẽ có tranh, trước khi tôi quay về với tiểu thuyết sáng tạo… ngắn và dài… Tiểu thuyết là nơi chữ sẽ biến thành tranh: Tôi không cần cầm cọ vẽ nữa. Tôi chỉ cần chữ cho tiểu thuyết:

I was born into this life in Vietnam by my parents, who gave me the road “less travelled…” [R.Frost], where my travel is made, long or short, with the art of words…

©wnd4272026

bài đã đăng của Dương Như Nguyện