Hồi Ký Văn Chương
Về đề tài hoà giải và kỷ niệm 50 năm ngày 30 tháng 4, 1975
Kính tặng anh Thuỷ, trưởng sinh viên thực tập của Bás Sĩ Nguyễn Hữu, ngày tôi lên tám, bệnh viện Nhi Đồng cuối thập niên sáu mươi. Anh Thủy trở thành bác sĩ VNCH, và hiện giờ đang làm việc phòng mạch ở Nam California. dnn©2025
***
Khoảng năm 1966, gia đình tôi mới dọn từ Huế vào Sài Gòn, vì cha tôi, Giáo Sư Dương Đức Nhự, British Council Scholar, sau khi bị đổi ra Quảng Trị, lại được triệu về Sài Gòn làm Công Cán Ủy Viên Bộ Giáo Dục dưới quyền tổng trưởng giáo dục (BS) Trẩn Ngọc Ninh của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà.
Ở Saì Gòn, hai em tôi học chương trình Pháp của Eurore (sự cố gắng ngân quỹ gia đình cùa mẹ tôi). Riêng tôi thì bà cho tôi học chương trình Việt ờ trường tiểu hoc Đồ Chiểu, chung lớp với cô bạn gái nhỏ nhắn, gầy gò chắc cũng giống như tôi lúc đó. Lớp ba hay lớp nhì tôi không nhớ rõ. Tôi nghỉ̃ là lớp ba, vì chúng tôi rất bé.
Cô bé đó tên là Bùi Mai Khang. Tôi còn nhớ rất rõ.
Chúng tôi học trường tiểu học tên chính thức là Nguyễn Đình Chiểu ờ khu trung tâm thượng lưu cuả thành phố, gần đại lộ Công Lý xinh đẹp thênh thang cuả Sài Gòn, đối với tôi lúc đó là xa lộ xe cộ mịt mù. Gia đình tôi ờ chung nhà với Vợ Chồng Đại Tá Nguyễn Vinh mà tôi gọi là “Ông Bà Ngoại Sài Gòn,” vì họ là người quen cuả mẹ tôi từ trường Đồng Khánh Huế. Nhà bê tông cốt sắt ba tầng, số 290/16 đường Công Lý trong Cư Xá Công Lý (sau này tôi biết Cư Xá được dành cho công chức cao cấp, thương gia giàu có, sĩ quan cấp lớn, và các tổng bộ trưởng cuả chính phủ Việt Nam Cộng Hoà; cha me tôi chỉ là giáo sư, mặc dù cha tôi du học ở Anh vì khả năng học vấn).
Tôi rất mến thương Mai Khang, cũng nhỏ bé như tôi. Tôi để tóc dài, còn Mai Khang để tóc bum-bê. Cả hai chúng tôi đều nhanh nhẩu, hay giơ tay hỏi và trả lời cô giáo, hai ̣đứa bé gái gầy ốm nhưng ăn nói dõng dạc, đâu vào đó. Nói tóm lại, chúng tôi học giỏi trong lớp.
Ngày nào cũng thế, sáng sớm tinh mơ, Mai Khang đi ngang nhà tôi để đến trường. Chúng tôi đi bộ sáng sớm, có lúc tôi cầm theo cái chổi vì đến phiên tôi quét lớp buổi sáng. Rồi chúng tôi sắp hàng chào cờ sáng sớm tinh sương. “Này công dân ơi, đứng lên…” Ai mà không thuộc, ngay cả tuổi nhỏ chúng tôi. Thuộc lòng để chào quốc kỳ cờ vàng ba sọc đỏ.
Rồi một hôm, tôi nghe lũ bạn nói anh cuả Mai Khang đã từng được giải hội họa toàn quốc, được tổng thống VNCH vinh danh. Tôi cũng chẳng để ý. Đứa bé đi học cầm bình mực chưa xong. Nói chi đến “hội họa”???
Cho đến một hôm tan học, trên đường đi bộ về nhà, các bạn muốn đến thăm nhà Mai Khang. Tôi đi theo bạn, thay vì rẽ vô nhà mình ờ Cư Xá Công Lý. Thế là chúng tôi, lũ trẻ con trường Đồ Chiểu, dắt tay nhau băng ngang đường Công Lý để đến nhà Mai Khang, ờ bên kia đường. Tôi không hề biết rằng đối diện bên kia đường cuả cư xá (toàn nhà nhiều tầng cưả sắt trần cao, lát đá hoa, sân lát xi-măng, nhà “Ông Bà Ngoại Sàì Gòn”) lại có xóm nghèo trên lạch nước xú uế, ở đó có nhà Mai Khang, người bạn nhỏ gầy gò học giỏi ăn nói dõng dạc cuà tôi.
Mai Khang nói tiếng Sài Gòn, còn tôi nói giọng Huế.
***
Hôm ấy, sau khi băng ngang ̣đường Công Lý, tôi mới biết ra rằng nhà Mai Khang ờ trên một con sông…
Giữa Sàì Gòn đông đúc, đường Công Lý xe ô tô chạy dọc ngang, lại có những xóm nhà nghèo nàn chen ch̃úc ở trên sông…
Con sông nhà Mai Khang đen ngòm và đầy rác…Mùi hôi lợm giọng của cống rãnh mà con nỉt cũng bíết là xú uế.
***
Tôi bước vào ngôi nhà, thôi tạm gọi là nhà, như túp lều tranh ờ làng quê của Huế, nơi mà mẹ có dẫn tôi về thăm, những ngày thơ ấu tôi chỉ̉ mới lên năm, lên sáu. Huế với tôi lúc đó, thập niên sáu mươi, ngoài Thành Nội rêu phong với hồ sen cổ kính, ngoài cư xá Phủ Cam thênh thang trong mắt nhìn con nít, ngoài sân trường Jeanne D’Arc của học đường, lại còn có Đâp Đá đầy gió mát, và làng mạc xanh thơm với những con đường quê xanh ngát có hồ cá, có những đống rơm lớn như một ngôi nhà, và hình ảnh dân quê run rẩy ̣đạp nước bên bờ ruộng, với đám trẻ cười toe toét đi chân đất, chỉ trỏ vào tôi, trong khi tôi mặc váy đầm, phải đi giày đẹp nhưng rất khó chịu vì gò bó và đau chân.
Vào Saigon, khác hẳn…
Trong ký ức, bắt đầu có hình ảnh đường Công Lý đầy xe như một hiểm nguy phải nói là kinh khủng… và căn nhà cuả Mai Khang bên kia đường. Căn nhà nhỏ xíu, như có thể trôi bất cứ lúc nào trên con sông đen đủi, đục ngầu, mùi tanh bốc lên và chiếm lấy khứu giác cuả những đứa bé gái mặc đồ bộ, đồng phục trắng, đi theo Mai Khang để băng qua đường…Lần đầu tôi cảm nhận rằng Sài Gòn có tình bạn.
̣̣̣̣̣̣́́́́́́́́́́́***
Giữa nhà Mai Khang, có đứa bé trai, cao lớn hơn lũ chúng tôi chút xíu, nhưng nó cũng gầy nhom, đầu trọc lóc. Nó đang ngồi trên cái giường ngay giữa nhà. Nó bó gối bên trong một cái chăn rúm ró, chụp lên quấn quanh thân nó, mắt nó thao láo, quá to trên khuôn mặt gầy xanh cuả nó.
Mai Khang bảo thằng con trai trợn mắt đắp chăn ấy là anh lớn cuả Mai Khang. Anh nó là đứa bé trai nhân tài đất nước, đã được giải thưởng hội họa của thành phố. (Mãi sau này tôi mới biết đó là một giải thưởng của khu vực Đông Nam Á).
Hôm ấy, sau cuộc “cách mạng” băng qua đường Công Lý để đi chơi, khi tôi vừa biết Mai Khang trong lớp học, thì tôi cũng được biết luôn cái tin hấp dẫn này: gia đình Mai Khang nổi tiếng, vì anh nó là người đã được giải thưởng hội họa có tính cách đại diện quốc gia, tại thành phố Sài Gòn. Được gặp nguyên thủ quốc gia, thế có oai không?
Nhưng hôm ấy, tôi chỉ gặp đứa bé trai lạ lùng và đau ốm. Mai Khang cho biết anh cuả nó đang bị bệnh thương hàn, suýt chết. Cái giường có thể sụp xuống và trôi trên con sông mà không ai lại muốn té vào. Tuổi thơ dại, tôi cũng hiểu điều này.
Sau đó, tôi không còn nhớ chi tiết…
***
Tuy nhiên, cho đến bây giờ, gần nửa thế kỷ sau, tôi vẫn nhớ khuôn mặt, giọng nói cuà Mai Khang, và xóm nhà trên sông, bên kia đường Công Lý. (Bây giờ, thời điểm thập niên 2020, đó là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa).
Tôi không bao giờ quên hình ành chiếc giường tre, và đứa bé trai mắt thao láo, ngồi một mình, thân quấn tấm chăn cũ kỹ. Nó có vẻ đờ đẫn, bệnh hoạn, nhưng mắt nó trợn, cái đầu trọc quá to so với thân thể nó. Toàn thể hình ảnh nó in vào trí tôi như có sự đột phá: đây là hồi tưởng cuả tôi bây giờ.
Ngày đó, bên kia đường Công Lý, tôi học được thêm một cụm từ, Sốt-Thương-Hàn.
***
Sau đó chắc khoảng mấy tuần, hay mấy tháng, tôi không nhớ rõ, thì bỗng nhiên tôi cũng đau nặng mà chính tôi không biết. Tôi chỉ nhớ khi trời chạng vạng tối, mẹ bồng tôi ra taxi đem tôi đến nhà riêng vị bác sĩ cũng ở chung cư xá, hay gần đó. Tôi nhớ khuôn mặt tròn trịa, nước da ngăm cuả vị bác sĩ, kể như ông hàng xóm. Tôi nhớ ông khám tôi, rất chăm chú, mặt trầm ngâm. Khám rất lâu. Hết nghe bụng thì đến nghe lưng. Cân phòng tờ mờ như thiếu ánh sáng, hay là tôi đang mơ. Tôi cũng chẳng có cảm tưởng mình bị bệnh gì cả, nhưng mẹ kể, khi bà đi dạy về buổi chiều hôm đó, thì tôi đã mê man cơn sốt nóng hổi, và tôi nói sảng.
Từ văn phòng bác sĩ, mẹ bế tôi ra taxi, chở tôi vô bệnh viện Nhi Đồng. Tôi học tên bệnh viện và tên bác sĩ – Nguyễn Hữu.
Và sau đó nữa, hành lang bệnh viện, ống kim, dây nối, bác sĩ vào phòng tôi nằm, để giảng bài bằng tiếng Pháp mà dĩ nhiên tôi chẳng hiểu gì cả. Tôi được mẹ cho biết đám đông đứng bao quanh giường tôi để nghe bác sĩ nói tiếng Pháp, giảng về trường hợp bệnh của tôi, Tất cả mặc áo choàng trắng, mẹ gọi là các “Anh-Tẹc.”*
Anh-Tẹc cao cấp nhất, chắc vậy, hay đến khám tôi, gọi tôi bằng em, xưng anh, tự giới thiệu là Anh Thuỷ. Đó là học trò gỉỏi nhất của Bác Sĩ Nguyễn Hữu.
Và rồi tôi được cho biết, nếu không có Bác Sĩ Nguyễn Hữu, thì tôi đã chết. Tôi bị bệnh thương hàn, vi trùng vào gan…
Cái bệnh thương hàn này ở đâu ra vậy nhỉ. Chắc chắn phải là ở bánh mì thịt đầu ngõ mà ngày nào tôi cũng lén mua ăn, không cho mẹ biế̀t. Mẹ cho tôi tiền lẻ mỗi ngày để ăn quà. Tôi đi bộ từ Cư Xá Công Lý ra đến gần đường Yên Đổ đề̉ tìm xe bánh mì thịt. Ngon quá là ngon. Tôi không thích ăn cơm nhà. Chỉ thích ăn quà.
Thằng bé trọc đầu tôi gặp ở nhà Mai Khanh, anh của nó, trở thành dấu mố́c cuộc đời non dại của tôi, trốn mẹ để ăn quà, ở khu cư xá đường Công Lý.
***
Căn nhà tranh và cái giường tre như trôi trên con sông đen ngòm và tanh tưởi, bên kia cư xá nhà đúc ba tầng đường Công Lý…Thằng bé trọc đầu ngổ̀i hùm hụp trùm tấm chăn cáu bẩn…Hình như Mai Khang nói anh của Mai Khang cũng bị sốt thương hàn…
Thằng bé ấy là nguyên nhân tôi bị thương hàn, vi trùng của nó bay sang ̀tôi, hay là vì bánh mì thịt?
***
Bốn mươi lăm năm sau, trên mạng xã hội, tôi hội ngộ với Trần Diệu Quyên, ngày xưa cũng học chung lớp ba Nguyễn Đình Chiểu, và nhà Quyên tại Sài Gòn, một cơ sở nhà in, cũng ở mặt tiền đường Công Lý cũ. Quyên cho tôi biết rằng cô bạn nhỏ Bùì Mai Khang, và người anh cuả Mai Khang, cả gia đình đều theo Việt Cộng bắt đầu từ thời kháng chiến chống Pháp…Sự thật được biết sau 1975. Ở thời điểm 2020 thì hình như Mai Khang làm lớn bên Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa.
Ám ảnh về Việt Cộng cũng ghê sợ như bệnh thương hàn. Tôi không thấy được vi trùng, mà cũng chẳng thấy Việt Cộng như thế nào. Nó là ai?
***
Khoảng cách tạo ra giữa Sàì Thành thập niên sáu mươi: ngôi nhà đúc bê tông cốt sắt ba tầng của Đại Tá Nguyễn Vinh, đối khắc với con sông đen và những ngôi nhà xiêu vẹo phía bên kia cuả anh em gia đình Mai Khang, cả hai hình ảnh cùng đổ ra đường Công Lý: con đường mang cái tên của chính nghĩa.
Từ khoảng cách này, có căn nguyên cuộc chiến 20 năm, chủng tộc tách làm đôi, giòng Bến Hải, cầu Hiền Lương, và rồi Thái Bình Dương, triệu người vượt biển.
Khoảng cách hay căn nguyên: vẫn còn đây????
Tình bạn nhỏ nhoi đã trên nửa thế kỷ, nhớ hay quên???
***
Trần Diệu Quyên cho tôi biết thêm rằng, anh của Mai Khang, trước 1975 theo sinh viên tranh đấu chống chính phủ Nguyễn Văn Thiệu, bây giờ là nhà văn viết tiểu thuyết nổi tiếng ở Việt Nam, nhà thơ phản kháng Bùi Chí Vịnh, anh của bạn gái tôi quen nhau ở bậc tiểu học, trường Đồ Chiểu: Chắc gì Mai Khang sẽ nhận ra tôi??? Hay có nhớ đến tôi?
Tên trên mạng lưới là Bùi Chí Vinh. Không phải “Vịnh.”
Vinh, Vĩnh, hay Vịnh? Nhưng trong ký ức, tôi cho rằng thằng bé tên Vịnh, có dấu nặng.
Trong hồi tưởng quá khứ, thì tôi chỉ thu nhận và chấp nhận một cái tên cho thẳ̀ng bé đau thương hàn mà thôi, ̣đó là “Vịnh,” thích hợp cho thằng bé con trùm chăn ngồi trên cái giường có thể trôi theo và chìm xuống con sông ̣đục ngầu ẩn náu trong xóm nghèo cuả thành phố. Thật tình tôi không nhớ anh nó tên gì, qua Mai Khang. Ký ự́c kêu gọi lên cái tên “Vịnh” cho thằng bé. Tại sao thế nhỉ?
Tên nó cũng phải có dấu nặng như tên tôi. “Nguyện”? Nếu “Nguyện” là mong ước, thì “Vịnh” là biề̉u tượng để so sánh qua ngôn ngữ của thơ — Vịnh là the process of affiliation giữa hình ảnh và ngôn ngữ. Vịnh nối hình ảnh của ngôn ngữ với vật thể. Có lẽ tôi chỉ muốn thằng bé ốm thương hàn trong ký ức của tôi mang tên Vịnh chứ không thề là Vinh hay Vĩnh. Cũng như “Mai Khang” hay “Quyên” là những cái tên mang sự yên tĩnh không dấu của vần bằng, không lên giọng, mà cũng không xuống giọng. Những cái tên con gái này, tôi chắc chắn có trong sổ khai sinh cuả hai người bạn gái từ trường tiể̀u học Đồ Chiểu, chứ không bao giờ chỉ̉ là hoài niệm chủ quan của chính tôi.
Bùi Chí Vịnh, cái tên du nhập vào khung trời ký ức cuả tôi, bám theo hình ảnh thầng bé trọc đầu đắp hùm hụp tấm chăn, trong căn nhà lụp xụp nghèo nàn trên con sông đen ngòm ngay trung tâm thành phố thủ đô đường Công Lý:
Bùi Chí Vinh, nhà văn, nhà thơ, theo lời kể cuả Quyên, và theo mạng lưới bây giờ?
Ở bên này đại dương, bạn bè độc giả Viêt Nam cũng đã gọi tôi bằng danh từ ấy.
Khoảng cách hai bên đường Công Lý, tụ lại cũng chỉ thành ngòi bút.
***
Tôi sẽ mở cánh cưả quá khứ…
Mai Khang, bộ đồng phục trắng, cổ lá sen, tay cầm bình mực tím, tóc bum-bê, nhỏ bé gầy xanh, cũng như tôi, không khoàng cách, trường Đổ Chiểu, chào cờ, quét lớp, giơ tay trả lời cô giáo…Băng qua bên kia đường Công Lý, xe chạy như nêm, con hẻm nhỏ bên kia, hay lối thênh thang bên này…chúng tôi, hai đứa bé, đã từng đi bên nhau.
…Mai Khang, my friend…Your brother…Do you remember at all? I am writing this in English, now my language of survival.
Trường tiểu học mang tên tác giả Lục Vân Tiên, cuối thập niên sáu mươi, con đường mang tên Công Lý, và sốt thương hàn… bầy trẻ nhỏ…
Tụ lại cũng chỉ là ngòi bút.
Bây giờ thì tôi đang viết bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của quá khứ.
Tiếng gì thì tiếng, cũng vẫn là ngòi bút mà thôi.
***
Tôi tìm ra cái tên Bùi Chí Vinh (không có dấu nặng) trên mạng lưới. Tôi biết rằng có hỏi thăm Mai Khang chắc cũng chỉ bằng không.
Let bygone be bygones. Let bygones be gone.
***
Tôi tìm thấy bài thơ dưới đây, qua mạng lưới. Và tôi hoạ lại như sau (tôi không nói chuyện thơ phản kháng; mà tôi chỉ nêu điểm tụ chung, mẫu số chung giữa con người chính là cây bút—sự ghi nhận hiện tại và quá khứ: hành trang nhật ký, hồi ký, và sáng tạo):
Nguyên tác cuả Bùi Chí Vinh, trích dưới đây:
Quang Trung bỏ núi Tây Sơn xuống
Hoảng hốt vì gương vỡ chẳng làn
Nguyễn Du chỉ một đêm dạo phố
Đoạn Trường ngồi viết lại Tân Thanh
Thuý Kiều phát triển nhiều như thế
Thảo nào đất nước hóa lầu xanh
Nhà tù phát triển nhiều như thế
Kẻ sĩ làm sao dám học hành
Ta làm thơ mà lòng đứt ruột
Suốt đời bao tử chạy loanh quanh
Lãnh tụ nói: đói quên nghi kỵ
Ơn ấy ngàn năm sáng sử xanh!”
fair- use exception to copyright
Dương Như Nguyện
Hoạ Thơ của Bùi Chí Vinh
Quang Trung ngã ngựa muà xuân ấy
Khúc chiết Ai Tư Vãn ngọn ngàn
Nguyễn Du thất thểu vì…Gia Tĩnh
Đoạn Trường lem luốc cả Tân Thanh
Thuý Kiều? Thơ thẩn ăn sương tối
Quê nhà? Ngưng Bích hóa lầu xanh
Nhà tù la liệt hơn măng mọc
Sĩ tử làm sao dám học hành
Cắn nửa câu thơ mà đứt ruột
Lấp đầy bao tử với gian manh
Lãnh tụ nói nhiều, dân hoc điếc
Sử có xanh đâu? Lá rụng cành
dương như nguyện ©Nov2016; self-edited ©2025
###
*Từ tiếng Pháp “Interne”, sinh viên thực tập.

