Kalynh Ngô, dịch giả Việt ngữ quyển hồi ký Con Gái Người Thợ Nail của Susan Lieu
Tôi dịch xong cuốn The Manicurist’s Daughter của tác giả Susan Lieu lúc Thế vận hội Mùa đông Milano-Cortina 2026 còn tiếp diễn, giữa lúc cả nước tranh cãi, giành nhau về chuyện “uống nước nhớ nguồn” của trường hợp hai ngôi sao đang sáng chói trên bầu trời trượt băng nghệ thuật là Alysa Liu và Eileen Gu.
Thoáng nhìn thì như không có gì liên quan, vì chuyện dịch của tôi liên hệ đến văn học, còn chuyện tranh cãi trên mạng xã hội thì hướng về thể thao. Nhưng tôi cho rằng cả hai điều có sự tương quan rất lớn ở đây. Đó là đề tài di dân – vấn nạn đang gây nhiều tổn thương cho các tiểu bang trú ẩn (sanctuary states, là những tiểu bang đang hạn chế hoặc từ chối sự hợp tác với cơ quan thực thi luật di trú liên bang), gây cảnh chia ly, bất ổn cho những gia đình di dân.
Hai từ “Thợ Nail” – tự nó đã phải gánh vác một trọng trách vô cùng to lớn của lịch sử tị nạn người Việt. Hai từ ấy, vừa định hình một cộng đồng Việt không chỉ ở Mỹ, mà ở khắp mọi nơi trên thế giới. Rồi cũng hai từ ấy, nó nặng oằn vai những nhọc nhằn, chịu trăm bề mỉa mai của người đến sau chưa từng nếm trải vị mặn của đại dương, hoặc xếp hàng dài trong buổi sáng mùa Đông để xin một chiếc áo ấm.
Trên màn hình hiện ra dấu hiệu cho thấy người bên kia đang gõ chữ. Câu hỏi đơn giản “chị làm nghề gì?” vậy mà gần 5 phút con trỏ vẫn nhấp nháy. Người đàn bà ấy đang ngần ngại. Tôi đoán thế. Mãi rồi cũng có câu trả lời.
– Chị làm công việc bình thường thôi.
– Là việc gì?
– Chị làm nail.
– À, làm nail là một nghệ thuật đó. Không phải ai khéo tay cũng làm được đâu.
Sau câu nói này, cuộc nói chuyện cởi mở hơn, và con trỏ máy tính chạy nhanh hơn.
Mẩu đối thoại của một thập niên trước vẫn ám ảnh tôi đến giờ. Lúc đó là lần đầu tiên tôi biết thêm về cuộc sống nội tâm của một người thợ nail, và tôi nghĩ rằng có lẽ phần lớn họ đều mang mặc cảm về nghề nail. Và cũng là lần đầu tiên tôi hiểu rằng, nếu ở Úc, trong cốp xe của người Việt thường có một con dao (để đi cào bào ngư) hoặc phần lớn garage của nhà nào cũng có những chiếc máy may, thì ở Mỹ, “thợ nail” là hai từ phổ biến.
Rồi sau này, vì tính chất công việc, tôi có nhiều cơ hội đi sâu vào thế giới những người thợ ấy. Từ những người vừa đặt chân đến Mỹ sau năm 1975, gọi là thuyền nhân, cho đến những nhóm di dân sau này, đến Mỹ khi một “cộng đồng nail” đã hình thành và lớn mạnh. Khi đó, người ta gọi là “Nail Tộc.” Hai từ này được ra đời với tính cách châm biếm, ỡm ờ. Người thì gọi với ánh mắt giễu cợt. Người thì tuyên bố với nụ cười “Mona Lisa.” Còn tôi, tôi yêu hai từ này. Với tôi, nó thể hiện một cộng đồng, một “sắc tộc” muôn màu, thật đúng nghĩa với nghề nail.
Thợ nail của Nail Tộc, họ đã từng là xương sống của đại gia đình bên kia bờ đại dương. Họ có thể là những kỹ sư, giáo sư, sinh viên năm cuối của đại học, hoặc một nữ sinh nào đó chỉ vừa tan học hôm qua. Hôm nay, họ ra đi với hành trang là đường chân trời và một tương lai bất định. Bằng tất cả nghị lực và kiên cường, họ giữ chặt tất cả sự may mắn cuối cùng, đó là sống sót và đặt chân được đến vùng đất tự do, để tiếp tục sống và tồn tại.
Có lẽ, những lần mà người thân của họ bên Việt Nam có được “Một Chút Quà Cho Quê Hương” là chính từ những ngày cúi mặt, còng lưng trong thế giới Nail Tộc.
Con Gái Người Thợ Nail của Susan Lieu là cuốn nhật ký kể lại chính xác một giai đoạn như thế.
Susan Liêu là người Việt gốc Hoa. Cô sinh ra ở Mỹ, hiện là một nghệ sĩ độc thoại. Cha mẹ cô nói tiếng Việt “100%” và luôn tìm cách để các con của mình không bị mai một nguồn gốc. Họ làm đủ cách trong khả năng, từ việc Susan sẽ bị phạt nếu không nói tiếng Việt ở nhà, cho đến siêng năng lao động để bảo lãnh gia đình từ Việt Nam sang cho anh chị em cô nói tiếng Việt nhiều hơn. Bữa cơm gia đình do bà ngoại của cô đảm trách luôn là những món ăn Việt. Bữa cơm gia đình chính là nơi lưu giữ tiếng Việt.
Trong cuốn hồi ký, cô kể lại bằng ký ức của mình hình ảnh gia đình hơn chục người, mỗi ngày leo vào trong chiếc minivan đến tiệm nail của gia đình – Susan’s Nails. Đến tiệm, họ “mở cửa xe và túa ra như những chú hề bước ra từ chiếc xe nhỏ xíu trong rạp xiếc.” Họ khiêng những bao khăn sạch từ thùng xe mang vào tiệm mỗi sáng. Rồi tối mang về. Những hộp cơm mang theo ăn trưa đựng trong hộp dưa chua bà Ngoại cô giữ lại để dùng. Có người Việt tị nạn nào lại không thấy quen thuộc với hình ảnh này? Họ cần mẫn, lam lũ xây dựng một “đế chế nail” ở Bắc California. Cả gia đình cùng làm việc. Người này may mắn được sang “đế quốc” thì cố gắng làm việc để lo tiếp cho gia đình còn lại bên Việt Nam.
Ở thập niên 80s, với gánh nặng gia đình đông nhân khẩu, bên này, bên kia, mục tiêu của gia đình di dân họ Liêu là những đứa con thành tài, không trở thành gánh nặng cho xã hội. Bên cạnh đó, họ còn phải bảo đảm cuộc sống cho người thân bên kia bờ đại dương được tươm tất. Tính nhẩm vật giá ra tiền đồng như bài toán đầu ngày của những người thợ nail này.
Susan và các anh chị của cô đã bước lên bục cao nhất, chạm tay vào những tấm huy chương vàng, những thành đạt mà chính người cha, người mẹ di dân của cô đã đặt nền móng từ nửa thế kỷ trước. Susan ước mơ trở thành nghệ sĩ hài độc thoại, bằng chính tình yêu cô dành cho người mẹ đã khuất, bằng ý chí đi tìm sự thật về cái chết của bà, Susan đã hóa giải tất cả, để nhận ra cô “thật vinh dự khi làm con của những người tị nạn.”
Con Gái Người Thợ Nail là “tấm huy chương vàng” Susan đã dành tặng cho cuộc chiến đấu kiên cường, bắt đầu từ khi một gia đình di dân – gia đình thợ nail của cô — đặt chân lên xứ sở đã từng là nơi cưu mang “những con người lam lũ khao khát bầu không khí tự do / Những mảnh đời khốn khổ bị ruồng bỏ tại bến bờ ngột ngạt …” như bài thơ đón nhận người tị nạn của Emma Lazarus khắc trên bệ Tượng Thần Tự Do vào năm 1883.
Dù sao, đây vẫn chỉ mới là sự bắt đầu.
Khi bản tiếng Việt của Con Gái Người Thợ Nail hoàn thành, thì những bản tin hàng ngày ở nước Mỹ vẫn tràn ngập về chính sách di trú khắc nghiệt.
Tôi thầm nghĩ, may mắn thay, đã có một giai đoạn mà nước Mỹ đã đón nhận thuyền nhân Việt Nam, đã đón nhận người thợ nail.
