Từ đầu thập niên trước, nhiều nhóm của Bộ Quốc Phòng đã lùng sục các văn khố địa phương và lấy đi nhiều tài liệu lịch sử để che giấu bằng chứng về thảm họa Nakba.
Lực lượng quốc tế giám sát việc di tản khỏi Iraq al-Manshiyya, gần Kiryat Gat ngày nay, 3/1949. Sưu tập Benno Rothenberg / Văn khố Nhà nước Israel.
Nhật báo Haaretz, 5/7/2019
Bốn năm trước, nhà sử học Tamar Novick sửng sốt vì một tài liệu bà tìm thấy trong hồ sơ của Yosef Waschitz thuộc Ban Ả Rập của Đảng Mapam cánh tả[2], trong văn khố Yad Yaari tại trụ sở Gival Haviva[3]. Tài liệu này dường như mô tả các biến cố đã xảy ra trong cuộc chiến năm 1948, như sau:
“Safsaf [làng Palestine cũ gần Safed] – 52 ông bị bắt, trói lại với nhau, đào hố rồi bắn. 10 người vẫn còn co giật. Phụ nữ đến, xin thương xót. Tìm thấy xác 6 ông lớn tuổi. Có 61 xác. 3 vụ cưỡng hiếp, một vụ ở phía đông Safed, bé gái 14 tuổi, 4 ông bị bắn chết. Một bị họ dùng dao cắt ngón tay để lấy nhẫn.” Tác giả tài liệu tả nhiều vụ thảm sát và cướp bóc khác do các lực lượng Israel gây ra hồi Chiến tranh Độc lập Israel. Tiến sĩ Novick nói với báo Haaretz: “Tài liệu không có tên và không rõ ai đứng sau nó. Nó cũng bị mất đoạn giữa. Tôi cảm thấy rất bất an. Tôi biết tìm thấy một tài liệu như thế buộc tôi có trách nhiệm làm rõ những gì đã xảy ra.”
Làng Safsaf ở Bắc Galilee bị Israel Defense Forces (IDF)[4] chiếm trong Chiến dịch Hiram[5] cuối năm 1948. Moshav Safsufa[6] thành lập trên đống đổ nát của làng. Nhiều năm sau, Lữ đoàn 7 bị tố cáo đã gây nhiều tội ác chiến tranh tại làng này. Những cáo buộc này được xác nhận qua tài liệu Novick tìm thấy nhưng trước kia các học giả chưa biết đến. Tài liệu cũng có thể góp thêm bằng chứng cho thấy giới lãnh đạo cấp cao của Israel lúc đó biết rõ những gì đang diễn ra.
Novick quyết định hội ý với các sử gia khác về tài liệu này. Benny Morris viết nhiều sách được coi là cơ sở để nghiên cứu về Nakba – “thảm họa” theo cách người Palestine gọi cuộc di cư khổng lồ của người Ả Rập ra khỏi vùng đất trong cuộc chiến 1948 – ông kể với bà rằng ông đã từng bắt gặp nhiều tài liệu tương tự. Ông nói đến các ghi chép của Aharon Cohen, ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng Mapam, dựa trên bản tường trình tháng 11/1948 của Israel Galili, cựu tham mưu trưởng dân quân Haganah[7], sau này trở thành IDF. Morris công bố ghi chép của Cohen về vụ này như sau: “Safsaf, 52 ông bị trói bằng dây thừng. Ném xuống hố rồi bắn. 10 chết. Phụ nữ xin thương xót. 3 trường hợp hiếp dâm. Bị bắt và thả. Một bé gái 14 tuổi bị cưỡng hiếp. 4 người khác bị giết. Nhiều vết dao.”
Chú thích của Morris (trong bài viết cơ bản “Nguồn gốc vấn đề người tị nạn Palestine, 1947-1949”) nói tài liệu này cũng có trong Văn khố Yad Yaari. Nhưng khi Novick quay lại để kiểm tra tài liệu, bà ngạc nhiên thấy nó không còn ở đó.
Người Palestine tị nạn đến Gaza, rồi lên thuyền đi Lebanon hoặc Ai Cập, 1949. Hrant Nakashian/Văn khố Liên Hiệp Quốc, 1949.
Novick nhớ lại: “Ban đầu tôi nghĩ có lẽ chú thích của Morris không chính xác, có lẽ ông ấy nhầm lẫn. Tôi cân nhắc khả năng tài liệu đó biến mất, thế thôi.” Khi bà hỏi những người phụ trách là tài liệu đó ở đâu, họ trả lời nó được giữ cẩn mật trong văn khố Yad Yaari – theo lệnh của Bộ Quốc phòng.
Kể từ đầu thập niên trước, Bộ Quốc phòng có nhiều nhóm rà soát các văn khố ở Israel và lấy đi nhiều tài liệu lịch sử. Nhưng họ không chỉ cất vào hầm kín các tài liệu liên quan đến chương trình nguyên tử của Israel hay quan hệ ngoại giao của đất nước: Hàng trăm tài liệu đã bị cất giấu như một phần của nỗ lực có hệ thống nhằm che đậy chứng cớ vụ Nakba.
Viện Akevot Nghiên cứu Xung đột Israel-Palestine[8] là nơi đầu tiên khám phá ra hiện tượng này. Theo một báo cáo của Viện, ban an ninh mật Malmab của Bộ Quốc phòng (chữ viết tắt tiếng Hebrew của “giám đốc an ninh quốc phòng”)[9] chỉ huy việc này, có hoạt động và ngân sách bí mật. Báo cáo khẳng định Malmab đã lấy tài liệu lịch sử một cách bất hợp pháp và không có thẩm quyền, và trong một số trường hợp đã niêm phong các tài liệu trước đó đã được ban kiểm duyệt quân sự cho phổ biến. Một số tài liệu đã được cho phép công bố bị Malmab cất vào hầm.
Một bài điều tra của báo Haaretz cho thấy Malmab đã giấu lời khai của giới tướng lãnh IDF về việc sát hại thường dân và phá hủy làng mạc, cũng như tài liệu về vụ trục xuất người Bedouin trong thập niên đầu tiên thành lập nhà nước. Haaretz phỏng vấn các giám đốc văn khố công và tư đều cho thấy ban an ninh đã coi văn khố như tài sản của họ, trong một số trường hợp còn đe dọa các giám đốc.
Yehiel Horev, người chỉ huy Malmab hai thập niên đến năm 2007, thừa nhận với Haaretz rằng ông khởi xướng chương trình này, và nó vẫn đang tiếp tục. Ông giữ ý kiến cho rằng che giấu biến cố 1948 là hợp lý, vì phơi bày ra có thể kích động cộng đồng người Ả Rập tại Israel. Khi được hỏi về mục đích của việc lấy đi các tài liệu đã được công bố, ông giải thích rằng mục đích là làm giảm mức độ đáng tin của các nghiên cứu về nguồn gốc vấn đề người tị nạn. Theo quan điểm của Horev, lời tố cáo của nhà nghiên cứu dựa theo một tài liệu gốc khác với lời cáo buộc không thể chứng minh hoặc có thể bị bác bỏ.
Tài liệu Novick đang tìm có thể làm tăng mức độ đáng tin đối với tác phẩm của Morris. Trong khi điều tra, báo Haaretz tìm được đúng tờ ghi chép của Aharon Cohen tóm tắt buổi họp của Ủy ban Chính trị Đảng Mapam về vụ thảm sát và trục xuất năm 1948. Người tham dự buổi họp kêu gọi hợp tác với ban thẩm vấn sẽ điều tra biến cố này. Ủy ban thảo luận một trường hợp liên quan đến “các hành vi nghiêm trọng” tại làng Al-Dawayima, phía đông Kiryat Gat. Một người trong buổi họp đề cập đến toán dân quân bí mật của Lehi lúc đó đã giải tán có dính líu trong vụ này. Hành vi cướp bóc cũng được báo cáo: “Lod và Ramle, Be’er Sheva, không có cửa hàng Ả Rập nào không bị đột nhập. Lữ đoàn 9 nói 7, Lữ đoàn 7 nói 8.”
Gần đoạn cuối của tài liệu: “Đảng phản đối việc trục xuất nếu không cần thiết về mặt quân sự. Có nhiều cách nghĩ khác nhau khi đánh giá thế nào là cần thiết. Tốt nhất là nên làm rõ. Những gì xảy ra ở Galilee – là hành vi kiểu Đức Quốc xã! Mỗi thành viên chúng ta phải báo cáo điều mình biết.”
Phiên bản Israel
Một trong những tài liệu đáng chú ý nhất về nguồn gốc vấn đề người tị nạn Palestine do một sĩ quan của Shai viết ra, tiền thân của cơ quan an ninh Shin Bet[10]. Tài liệu bàn về lý do Israel mất đi rất nhiều cư dân Ả Rập, dựa trên tình hình của từng ngôi làng. Viết vào cuối tháng 6/1948, tài liệu có tựa đề “Cuộc di cư của người Ả Rập ra khỏi Palestine”.
Tài liệu này là cơ sở cho bài viết của Benny Morris năm 1986. Sau khi bài viết công bố, tài liệu bị lấy khỏi văn khố và các nhà nghiên cứu không được xem nó nữa. Nhiều năm sau, Malmab soát lại tài liệu và ra lệnh giữ nó ở chế độ mật. Họ không thể ngờ rằng chỉ vài năm sau, các nhà nghiên cứu ở Akevot lại tìm thấy bản sao của văn bản và đưa nó lọt qua cơ quan kiểm duyệt quân sự – cơ quan này cho phép công bố nó vô điều kiện. Giờ đây, sau nhiều năm che giấu, nội dung chính của tài liệu được tiết lộ tại đây.
Tài liệu dài 25 trang này với lời mở đầu thẳng thừng đồng ý việc di tản các làng Ả Rập. Theo tác giả, tháng Tư “số người di cư gia tăng xuất sắc”, trong khi tháng Năm “được Chúa phù hộ vì thế có rất nhiều địa phương di tản”. Sau đó, báo cáo đề cập đến “lý do người Ả Rập di cư”. Theo lời của nhà nước Israel năm này qua năm khác, chính trị gia Ả Rập chịu trách nhiệm về việc đổ xô di tản ra khỏi Israel, họ đã khuyến khích dân chúng ra đi. Tuy nhiên, theo tài liệu này, 70% người Ả Rập ra đi vì các hoạt động quân sự của người Do Thái.
Trẻ em Palestine chờ UNICEF phát sữa tại tu viện Nữ tu Francisco ở Nazareth, 1/1/1950. Ảnh: AW / UN
Tác giả vô danh của văn bản xếp theo thứ tự quan trọng các lý do khiến người Ả Rập ra đi. Lý do thứ nhất: “Hành vi thù địch trực tiếp của người Do Thái tại các khu định cư Ả Rập”. Lý do thứ hai là ảnh hưởng của hành vi đó đến các làng lân cận. Lý do thứ ba là “hoạt động của các nhóm ly khai”, cụ thể là các nhóm bí mật Irgun và Lehi[11]. Lý do thứ tư người Ả Rập đổ xô ra đi là vì lệnh của các tổ chức và “băng đảng” Ả Rập (tài liệu này quy cho tất cả các nhóm chiến binh Ả Rập); lý do thứ năm là “người Do Thái ‘rỉ tai’ khiến cho cư dân Ả Rập chạy trốn”; và lý do thứ sáu là “tối hậu thư di tản”.
Tác giả tài liệu khẳng định rằng “hẳn nhiên, hành vi thù địch là lý do chính khiến dân chúng di tản.” Ngoài ra, “Loa phát thanh tiếng Ả Rập rất hiệu quả khi dùng đúng cách.” Về các hoạt động của Irgun và Lehi, báo cáo cho rằng “nhiều người ở các làng miền trung Galilee bắt đầu chạy trốn sau vụ bắt cóc các nhân sĩ ở Sheikh Muwannis [một làng phía bắc Tel Aviv]. Người Ả Rập thấy rằng thỏa thuận với Haganah vẫn chưa đủ vì còn phải coi chừng người Do Thái khác [là đám dân quân ly khai].”
Tác giả nhận thấy tối hậu thư di tản được dùng nhiều ở miền trung Galilee, dùng ít hơn ở vùng núi Gilboa. “Hẳn nhiên, tối hậu thư có hiệu lực như ‘lời khuyên hữu nghị’ đưa ra sau khi có một số chuẩn bị tình thế qua các hành vi thù địch trong vùng.”
Một phụ lục của tài liệu mô tả lý do cụ thể của việc đổ xô di tản khỏi hàng chục địa điểm của người Ả Rập: Ein Zeitun – “làng chúng tôi bị triệt phá”; Qeitiya – “quấy rối, đe dọa”; Almaniya – “hành động của chúng tôi, nhiều người bị giết”; Tira – “lời khuyên hữu nghị của người Do Thái”; Al’Amarir – “sau khi bọn ly khai cướp bóc và giết người”; Sumsum – “tối hậu thư”; Bir Salim – “nhà trẻ mồ côi bị tấn công”; và Zarnuga – “xâm chiếm và trục xuất”.
Ngòi nổ ngắn
Đầu thập niên 2000, Trung tâm Yitzhak Rabin phỏng vấn một loạt cựu viên chức chính phủ và quân đội như một phần của dự án ghi lại hoạt động của họ lúc làm việc cho nhà nước. Cánh tay dài của Malmab cũng chộp lấy các bài phỏng vấn này. Báo Haaretz có bản gốc của một số cuộc phỏng vấn, so sánh nó với bản được Israel công bố cho công chúng hiện nay, sau khi phần lớn nội dung bị coi là bí mật.
Những chỗ bí mật đó bao gồm lời kể của chuẩn tướng (hưu trí) Aryeh Shalev về việc trục xuất cư dân tại ngôi làng mà ông gọi là “Sabra” qua bên kia biên giới. Trong đoạn cuối bài phỏng vấn, các câu sau đã bị xóa: “Có một vấn đề rất nghiêm trọng ở thung lũng. Nhiều người tị nạn muốn quay lại thung lũng, về Tam giác [khu tập trung các thị trấn và làng mạc Ả Rập ở miền đông Israel]. Chúng tôi trục xuất họ. Tôi gặp họ để thuyết phục họ đừng muốn về. Tôi có giấy tờ vụ việc này.”
Một trường hợp khác, Malmab quyết định giấu đoạn này trong bài phỏng vấn của nhà sử học Boaz Lev Tov với thiếu tướng (hưu trí) Elad Peled:
Lev Tov: “Chúng ta đang nói về một nhóm … phụ nữ và trẻ em?”
Peled: “Ừ. Ừ. Đúng.”
Lev Tov: “Ông không thấy họ khác hay sao?”
Peled: “Vấn đề rất đơn giản. Cuộc chiến giữa hai nhóm dân. Họ từ nhà họ đi ra.”
Lev Tov: “Nếu còn nhà, họ có nơi nào để về không?”
Peled: “Chưa là quân đội mà, mới là băng nhóm. Chúng tôi thực ra cũng là băng nhóm. Chúng tôi ra khỏi nhà rồi lại về nhà. Họ ra khỏi nhà rồi lại về nhà. Hoặc là nhà của họ, hoặc là nhà của chúng tôi.”
Lev Tov: “Day dứt là chuyện của thế hệ gần đây thôi à?”
Peled: “Ừ, hôm nay. Khi tôi ngồi trên ghế bành ở đây rồi nghĩ về những gì đã xảy ra, đủ loại suy nghĩ ùa về trong đầu.”
Lev Tov: “Lúc đó không như vậy sao?”
Peled: “Nè, để tôi kể cho ông nghe một chuyện thậm chí ít tử tế và tàn nhẫn hơn, về vụ đột kích lớn ở Sasa [làng Palestine ở Bắc Galilee]. Mục đích thực sự là ngăn cản họ, nói với họ là ‘Các bạn thân mến, Palmach [“lực lượng xung kích” của Haganah] có thể xâm nhập mọi chỗ, các bạn cũng không tránh được đâu.’ Chỗ đó là trung tâm của khu định cư Ả Rập. Mà chúng tôi làm gì? Trung đội của tôi cho nổ tung 20 căn nhà với tất cả mọi thứ ở đó.”
Lev Tov: “Trong lúc người ở đó đang ngủ à?”
Peled: “Tôi đoán vậy. Chuyện gì ở đó, chúng tôi đến, chúng tôi vào làng, gài bom bên cạnh từng căn nhà, sau đó Homesh thổi kèn, vì chúng tôi không có radio, đó là tín hiệu rút lui [cho lính của chúng tôi]. Chúng tôi chạy ngược về, lính công binh ở lại, họ cho nổ, tất cả đều thô sơ. Họ châm ngòi hoặc rút kíp nổ, tất cả mấy căn nhà đó biến mất.”
Lính IDF áp giải người Palestine ở Ramle, 1948. Sưu tập của Benno Rothenberg / Văn khố IDF và Cơ quan Quốc phòng
Bộ Quốc phòng muốn giấu công chúng một đoạn trong cuộc trò chuyện giữa tiến sĩ Lev Tov với thiếu tướng Avraham Tamir:
Tamir: “Tôi từng làm việc dưới quyền Chera [thiếu tướng Tzvi Tzur, về sau là tổng tham mưu trưởng IDF], tôi quan hệ công tác rất tốt với ông ấy. Ông ấy cho tôi tự do hành động – không hỏi – và tình cờ tôi phụ trách tham mưu và tác chiến trong hai vụ làm theo chính sách của [Thủ tướng David] Ben-Gurion. Một vụ khi có báo cáo người tị nạn đi từ Jordan tới các làng bỏ hoang [ở Israel]. Thế là Ben-Gurion đưa ra chính sách chúng tôi phải phá sập [các làng] để họ không còn nơi nào trở về. Nghĩa là, tất cả các làng Ả Rập, hầu hết nằm trong [khu vực do] Bộ tư lệnh Trung ương quản lý, hầu hết.”
Lev Tov: “Mấy ngôi làng vẫn còn đứng à?”
Tamir: “Những làng chưa có dân Israel[12] sống. Có những nơi chúng tôi đã có dân định cư Israel, như Zakariyya và mấy nơi khác. Nhưng hầu hết vẫn là những làng bỏ hoang.”
Lev Tov: “Mấy làng đó còn nguyên à?”
Tamir: “Còn nguyên. Cần phải làm sao cho họ không còn chỗ quay về, vì thế tôi huy động tất cả tiểu đoàn công binh của Bộ tư lệnh Trung ương, trong 48 tiếng, tôi san phẳng hết các làng đó. Chấm hết. Không còn chỗ nào để về.”
Lev Tov: “Tôi đoán là không chút do dự.”
Tamir: “Không do dự. Chính sách mà. Tôi huy động lính, tôi thi hành và tôi hoàn tất.”
Đống thùng dưới hầm
Hầm của Trung tâm Nghiên cứu và Tài liệu Yad Yaari nằm ở tầng sát bên dưới mặt đất. Hầm thực ra là một phòng nhỏ kiên cố, có hàng đống thùng tài liệu mật. Kho lưu trữ cất giữ tài liệu của phong trào Hashomer Hatzair, phong trào Kibbutz Ha’artzi, đảng Mapam, đảng Meretz và các tổ chức khác, chẳng hạn như Peace Now[13].
Giám đốc văn khố là Dudu Amitai, cũng là chủ tịch Hội Chuyên viên Văn khố Israel. Theo Amitai, Malmab thường đến xem văn khố từ năm 2009 đến 2011. Nhân viên văn khố cho biết các nhóm an ninh – gồm hai nhân viên đã về hưu của Bộ Quốc phòng không được đào tạo về văn khố – mỗi tuần đến hai hoặc ba lần. Họ tìm tài liệu có những chữ như “nguyên tử”, “an ninh”, “kiểm duyệt”, đồng thời dành khá nhiều thời giờ cho Chiến tranh Độc lập và số phận của các làng Ả Rập trước 1948.
Amitai nói: “Cuối cùng, họ đưa chúng tôi một bản tóm tắt nói họ tìm thấy mấy chục tài liệu nhạy cảm. Chúng tôi thường không tách nhỏ các bộ hồ sơ, vì vậy hàng chục hồ sơ, nguyên bộ, bị đưa vào hầm của chúng tôi và bị xóa khỏi danh mục công khai.” Một hồ sơ có thể chứa hơn 100 tài liệu.
Một hồ sơ bị niêm phong liên hệ tới chính quyền quân sự kiểm soát đời sống công dân Ả Rập ở Israel từ 1948 đến 1966. Trong nhiều năm, các tài liệu này cất chung trong một hầm, không cho học giả tham khảo. Gần đây, theo yêu cầu của Giáo sư Gadi Algazi, nhà sử học Đại học Tel Aviv, Amitai đã đích thân xem xét hồ sơ và nói không có lý do gì để không bóc niêm phong, bất chấp ý kiến của Malmab.
Theo Algazi, có thể có một số lý do khiến Malmab quyết định giữ bí mật hồ sơ. Một lý do liên quan đến một phụ lục mật trong báo cáo của ủy ban kiểm tra hoạt động của chính quyền quân sự. Báo cáo này gần như chỉ đề cập đến các vụ tranh chấp quyền sở hữu đất đai giữa nhà nước và công dân Ả Rập, hầu như không chạm đến vấn đề an ninh.
Một lý do khác có thể là báo cáo năm 1958 của ủy ban cấp bộ giám sát chính quyền quân sự. Trong một phụ lục mật của báo cáo, đại tá Mishael Shaham, một sĩ quan cấp cao trong chính quyền quân sự, giải thích rằng một lý do không nên bỏ thiết quân luật là cần hạn chế quyền làm việc của công dân Ả Rập và ngăn chặn tái thiết các làng đã bị phá hủy.
Lý do thứ ba cho việc giấu hồ sơ liên hệ đến chứng cớ lịch sử chưa hề được công bố về việc trục xuất người Bedouin. Vào đêm trước khi Israel thành lập, gần 100.000 người Bedouin sống ở Negev. Ba năm sau, họ giảm xuống còn 13.000. Vào những năm trong và sau chiến tranh độc lập, một số vụ trục xuất xảy ra ở miền nam đất nước. Trong một trường hợp, các quan sát viên Liên Hiệp Quốc báo cáo rằng Israel đã trục xuất 400 người Bedouin thuộc bộ tộc Azazma và đưa bằng cớ về các mái lều bị đốt cháy. Bức thư trong hồ sơ mật mô tả một vụ trục xuất tương tự đến tận năm 1956, như nhà địa chất Avraham Parnes kể lại:
Di tản khỏi Iraq al-Manshiyya, gần Kiryat Gat ngày nay, 3/1949. Sưu tập của Benno Rothenberg/IDF và Kho lưu trữ Cơ quan Quốc phòng
“Một tháng trước, chúng tôi đi khảo sát lũng Ramon[14]. Người Bedouin ở khu vực Mohila với đàn gia súc và gia đình họ đến gặp chúng tôi và mời chúng tôi ăn với họ. Tôi trả lời chúng tôi có rất nhiều việc phải làm và không có thời giờ. Trong chuyến đi tuần này, chúng tôi lại nhắm hướng Mohila. Thay vì gặp người Bedouin và đàn gia súc của họ, chỉ có sự im lặng chết chóc. Hàng chục xác lạc đà rải rác trong vùng. Chúng tôi được biết là ba ngày trước, IDF đã ‘siết’ [‘screwed’] người Bedouin, gia súc của họ bị giết – lạc đà bị bắn, cừu bị ném lựu đạn. Một người Bedouin mở miệng oán trách đã bị giết, số còn lại bỏ chạy.”
Lời khai tiếp tục: “Hai tuần trước, họ được lệnh ở lại tại chỗ họ đang ở, sau đó họ được lệnh dọn đi, và để thúc đẩy, 500 con thú bị giết… Cuộc trục xuất được thi hành ‘hiệu quả.’” Lá thư còn trích dẫn lời một người lính nói với Parnes, theo lời anh ta: “Họ sẽ không đi nếu chúng tôi không diệt [screwed] đàn thú của họ. Một cô khoảng 16 tuổi tiến đến chúng tôi. Cô ta đeo chuỗi hạt hình rắn bằng đồng. Chúng tôi giật chuỗi hạt rồi mỗi đứa tụi tôi lấy một hạt làm kỷ niệm.”
Bức thư ban đầu gửi cho MK Yaakov Uri[15], thuộc đảng Mapai (tiền thân của đảng Lao Động), ông chuyển nó cho Bộ trưởng Phát triển Mordechai Bentov (đảng Mapam). Uri viết cho Bentov: “Lá thư của anh ta khiến tôi sửng sốt”. Bentov chuyển lá thư này đến tất cả bộ trưởng trong nội các, viết rằng: “Theo tôi, chính phủ không thể bỏ qua những sự thật nêu trong lá thư”. Bentov nói thêm, vì nội dung đáng sợ của lá thư, ông yêu cầu các chuyên viên an ninh kiểm tra độ tin cậy của nó. Họ xác nhận rằng nội dung “nói chung là đúng sự thật”.
Viện cớ nguyên tử
Trong thời gian nhà sử học Tuvia Friling đứng đầu văn khố Israel, từ 2001 đến 2004, Malmab lần đầu tiên tấn công tài liệu văn khố. Ông nói ban đầu chỉ là chiến dịch ngăn chặn tiết lộ bí mật nguyên tử, nhưng sau đó biến thành chương trình kiểm duyệt quy mô lớn.
Giáo sư Friling nói: “Tôi từ chức sau ba năm, và đó là một trong nhiều lý do. Việc mật hóa tài liệu về cuộc di cư của người Ả Rập năm 1948 là một ví dụ điển hình làm tôi lo ngại. Hệ thống và kho lưu trữ đâu phải là tay sai của nhà nước trong quan hệ với công chúng. Nếu có điều gì không thích … thì đó là đời mà. Một xã hội lành mạnh cũng học từ những sai lầm của chính nó.”
Tại sao Friling cho phép Bộ Quốc phòng vào văn khố? Theo ông, lý do là để cho phép công chúng được đọc tài liệu lưu trữ qua internet. Khi thảo luận về hệ quả của việc số hóa tài liệu, có người tỏ ra lo ngại là có thể nhầm khi cho công chúng xem một số tài liệu về một “đề tài nhất định”. Đề tài đó, tất nhiên, là chương trình nguyên tử của Israel. Friling khẳng định Malmab chỉ có quyền tìm tài liệu về đề tài đó.
Nhưng hành vi của Malmab chỉ là một ví dụ trong vấn đề lớn hơn, Friling lưu ý: “Năm 1998, quyền bảo mật [các tài liệu cũ nhất trong] văn khố của Shin Bet và Mossad[16] đã hết hạn. Trong nhiều năm, hai cơ quan này coi thường chủ tịch văn khố. Khi tôi nhận nhiệm vụ, họ đòi tăng thời gian bảo mật tất cả tài liệu [từ 50] lên 70 năm, một điều thật lố bịch – hầu hết tài liệu đều có thể được công khai.”
Năm 2010, thời hạn bảo mật được tăng lên 70 năm; tháng Hai năm ngoái, thời hạn này lại được tăng lên 90 năm, bất chấp phản đối của Hội đồng Văn khố Tối cao. Friling nói: “Nhà nước có thể áp đặt chế độ bảo mật cho một số tài liệu của họ. Vấn đề là lý do an ninh có phải là cái cớ để che giấu hay không. Trong nhiều trường hợp, nó trở thành trò đùa.”
Theo quan điểm của Dudu Amitai thuộc Viện Yad Yaari, chế độ bảo mật của Bộ Quốc phòng phải được xét lại. Ông nói trong thời gian ông điều hành Viện, một trong các tài liệu bị cất trong hầm là lệnh của một ông tướng IDF ban hành vào lúc đình chiến hồi Chiến tranh Độc lập, ra lệnh cho lính của ông không được hãm hiếp và cướp bóc. Amitai đang định sẽ xem lại các tài liệu cất trong hầm, nhất là tài liệu năm 1948, và công khai bất cứ tài liệu nào có thể công bố. “Chúng tôi sẽ làm một cách thận trọng và có trách nhiệm, nhưng ý thức rằng Nhà nước Israel phải học cách đối phó với những mặt không mấy dễ chịu trong lịch sử của mình.”
Trái với Viện Yad Yaari, nơi các nhân viên cấp bộ không đến nữa, họ vẫn tiếp tục lục lọi tài liệu ở Yad Tabenkin, trung tâm nghiên cứu và lưu trữ tài liệu của Phong trào Kibbutz Thống nhất[17]. Giám đốc Aharon Azati thỏa thuận với Malmab là tài liệu chỉ được chuyển vào hầm nếu họ thuyết phục được ông tin cất đi là hợp lý. Tuy nhiên, ở Yad Tabenkin, Malmab mở rộng phạm vi tìm kiếm ra ngoài chương trình nguyên tử để bao gồm các bài phỏng vấn của nhân viên văn khố với các thành viên cũ của nhóm xung kích Palmach, thậm chí lục lọi tài liệu lịch sử về khu định cư trong vùng lãnh thổ chiếm đóng.
Ví dụ, Malmab quan tâm đến cuốn sách tiếng Hebrew “Một thập niên thận trọng: Chính sách định cư tại các vùng lãnh thổ 1967-1977”, Yad Tabenkin xuất bản năm 1992, tác giả là Yehiel Admoni viết về thập niên ông làm giám đốc Ban Định cư của Do Tháiish Agency[18]. Cuốn sách đề cập đến kế hoạch định cư người tị nạn Palestine tại Thung lũng Jordan và việc đem 1.540 gia đình Bedouin ra khỏi khu vực Rafah thuộc Dải Gaza năm 1972, kể cả chiến dịch của IDF lấp các giếng nước. Trớ trêu thay, trong vụ người Bedouin, Admoni trích lời cựu Bộ trưởng Tư pháp Yaakov Shimshon Shapira nói: “Chẳng cần thổi phồng lý do an ninh lên. Toàn bộ vụ Bedouin không phải là một chương vẻ vang của Nhà nước Israel.”
Người tị nạn Palestine bỏ làng của họ, địa điểm không rõ, 1948. UNRWA (United Nations Relief and Work Agency for Palestine Refugees in the Near East)
Theo Azati: “Chúng ta ngày càng khép chặt. Mặc dù đây là thời đại của cởi mở và minh bạch, nhưng rõ ràng có các thế lực đang kéo theo hướng ngược lại.”
Bí mật trái phép
Khoảng một năm trước, cố vấn pháp lý của Văn khố Nhà nước, luật sư Naomi Aldouby, viết một tham luận tiêu đề “Hồ sơ bị đóng trái phép trong Văn khố Công”. Theo bà, giám đốc mỗi văn khố công có độc quyền ấn định chính sách cho phép tham khảo văn khố.
Tuy nhiên, bất chấp ý kiến của Aldouby, trong phần lớn trường hợp, nhân viên lưu trữ gặp các quyết định vô lý của Malmab đều không phản đối – thí dụ, cho đến năm 2014, khi nhân viên Bộ Quốc phòng đến văn khố Viện Nghiên cứu Harry S. Truman tại Đại học Hebrew ở Jerusalem. Người đến thăm ngạc nhiên vì giám đốc lúc đó là Menahem Blondheim không cho họ xem văn khố – nơi lưu trữ bộ sưu tập của cựu bộ trưởng và nhà ngoại giao Abba Eban và thiếu tướng (hưu trí) Shlomo Gazit.
Blondheim kể: “Tôi nói với họ là các tài liệu đó đã cũ mấy chục năm, tôi không thể tưởng tượng có vấn đề an ninh nào để hạn chế quyền tham khảo của các nhà nghiên cứu. Đáp lại, họ nói ‘Giả sử tài liệu ở đây có bằng chứng cho thấy các giếng nước đã bị bỏ thuốc độc trong Chiến tranh Độc lập thì sao?’ Tôi trả lời ‘Ôi dào, thì đem mấy người đó ra tòa xử.’”
Lời từ chối của Blondheim khiến họ đi gặp viên chức cấp cao hơn của bộ, nhưng lần này ông tỏ thái độ khác và đe dọa rõ ràng. Cuối cùng, hai bên đi đến thỏa thuận.
Benny Morris không ngạc nhiên về hành vi của Malmab. Ông nói: “Tôi biết. Không chính thức, không ai thông báo cho tôi, nhưng tôi tỏ thái độ đó khi thấy các tài liệu trước kia tôi từng xem bây giờ bị niêm phong. Có tài liệu từ Văn khố IDF mà tôi đã dùng cho một bài viết về Deir Yassin[19] bây giờ bị niêm phong. Khi tôi đến văn khố, tôi không còn được xem bản gốc nữa, vì vậy tôi nói thẳng trong một chú thích [trong bài viết] rằng Văn khố Nhà nước đã từ chối quyền tham khảo các tài liệu mà tôi đã phổ biến 15 năm trước.”
Malmab chỉ là một ví dụ về cuộc chiến đang diễn ra về việc tham khảo văn khố ở Israel. Theo giám đốc điều hành Viện Akevot là Lior Yavne: “Văn khố IDF là kho lưu trữ lớn nhất ở Israel, bị niêm phong gần như kín mít. Khoảng 1% tài liệu được công khai. Văn khố Shin Bet, nơi chứa các tài liệu vô cùng quan trọng [đối với học giả], thì đóng hoàn toàn, ngoại trừ một số ít tài liệu.”
Một báo cáo của Yaacov Lozowick, cựu giám đốc Văn khố Nhà nước, viết khi ông nghỉ hưu, đề cập đến sự kiểm soát chặt chẽ của giới chức quốc phòng đối với tài liệu lưu trữ của đất nước. Ông viết: “Một nền dân chủ sẽ không che giấu thông tin vì điều đó có thể làm xấu mặt nhà nước. Trên thực tế, cơ quan an ninh ở Israel, và ở một mức độ nào đó, cả ngành ngoại giao, đang cản trở việc thảo luận [công khai].”
Nhóm ủng hộ việc che giấu đưa ra một số lập luận, Lozowick ghi lại: “Phơi bày sự thật có thể cho kẻ thù vũ khí liên tục tấn công chúng ta và làm suy yếu quyết tâm của bạn bè; nó có thể kích động người Ả Rập; nó có thể làm suy yếu lập luận của nhà nước tại tòa án; và những điều tiết lộ có thể bị diễn giải là tội ác chiến tranh của Israel.” Tuy nhiên, ông nói, “Tất cả những lập luận này phải bị bác bỏ. Đây là nỗ lực che giấu một phần sự thật lịch sử để dựng lên một phiên bản thuận tiện hơn.”
Malmab nói gì
Yehiel Horev nắm giữ bí mật của cơ quan an ninh trong hơn hai thập niên. Ông đứng đầu ban an ninh của Bộ Quốc phòng từ 1986 đến 2007 và dĩ nhiên ông tránh xa sự chú ý. Điều đáng công nhận là giờ đây ông đồng ý nói chuyện thẳng thắn với báo Haaretz về kế hoạch lưu trữ.
Horev nói: “Tôi không nhớ nó bắt đầu khi nào, nhưng tôi biết tôi là người khởi sự. Nếu tôi không nhầm, nó bắt đầu khi mọi người muốn công bố các tài liệu trong văn khố. Chúng tôi phải lập các nhóm kiểm tra tất cả tài liệu sẽ công bố.”
Dân tị nạn Palestine ở vùng Ramle, 1948. Boris Carmi / Văn khố IDF và Cơ quan Quốc phòng.
Qua trao đổi với các giám đốc văn khố, rõ ràng phần lớn tài liệu bị đặt trong chế độ mật liên quan đến Chiến tranh Độc lập. Việc giấu các biến cố năm 1948 có là một phần mục đích của Malmab không?
“‘Một phần mục đích’ nghĩa là gì? Vấn đề này được xem xét tùy theo nó có gây hại đến quan hệ ngoại giao và quốc phòng của Israel hay không. Điểm quan trọng là ở đó. Tôi nghĩ nó vẫn còn chính đáng. Từ năm 1948 đến nay không có hòa bình. Tôi có thể sai, nhưng theo hiểu biết của tôi, xung đột Ả Rập-Israel vẫn chưa giải quyết. Vì vậy, vấn đề rắc rối có thể vẫn còn.”
Khi được hỏi những tài liệu đó có thể gây rắc rối gì, Horev nói công dân Ả Rập ở Israel có thể kích động. Theo ông, mọi tài liệu phải được xét kỹ và mọi trường hợp phải được quyết định dựa trên hệ quả của nó.
Nếu không biết đến các biến cố 1948 thì chúng ta còn có thể cãi là cách làm này đúng. Nhưng thực tế đâu phải vậy. Nhiều chứng cớ và nghiên cứu về lịch sử vấn đề người tị nạn đã phổ biến. Vậy thì che giấu có ích gì?
“Vấn đề là nó có gây hại hay không. Đây là vấn đề rất nhạy cảm. Không phải tất cả mọi thứ về vấn đề người tị nạn đều đã được công bố, và có đủ loại chuyện. Một số người nói không có ai tự bỏ chạy, chỉ có trục xuất. Người khác lại nói là tự bỏ chạy. Chuyện không trắng đen rõ ràng. Tự bỏ chạy khác với bị trục xuất cưỡng bức. Sự việc khác. Lúc này tôi không thể nói có nên bảo mật hoàn toàn hay không, nhưng vấn đề đó chắc chắn phải được thảo luận trước khi quyết định công bố cái gì.”
Trong nhiều năm, Bộ Quốc phòng đặt chế độ mật đối với một tài liệu chi tiết mô tả lý do ra đi của những người trở thành người tị nạn. Benny Morris đã viết về tài liệu này rồi, vậy thì lý do gì để giấu kín nó?
“Tôi không nhớ tài liệu chị đang nói đến, nhưng nếu ông ấy trích dẫn nó mà bản thân tài liệu lại không có ở đó [tức là ở nơi Morris nói là có], thì bằng chứng của ông ta không đủ mạnh. Nếu ông ta nói, ‘Ừ, tôi có tài liệu đó,’ thì tôi không cãi được. Nhưng nếu ông ta nói nó có ở đó, thì điều đó có thể đúng mà cũng có thể sai. Nếu tài liệu đã có bên ngoài, rồi bị niêm phong trong văn khố, tôi sẽ nói rằng như vậy là ngu. Nhưng nếu ai trích dẫn từ đó … thì tính hợp lệ của bằng cớ mà ông ta trích dẫn là khác như ngày với đêm.”
Trong trường hợp này, chúng tôi đang nói đến học giả được trích dẫn nhiều nhất khi nói đến người tị nạn Palestine.
“Việc chị nói ‘học giả’ chẳng nghĩa lý gì với tôi. Tôi biết nhiều người trong giới học thuật cứ phun ra lung tung mấy đề tài mà tôi biết từ A tới Z. Khi nhà nước đặt chế độ mật, các công trình đã xuất bản sẽ kém giá trị, vì họ không có tài liệu.”
Nhưng cất giấu tài liệu dựa trên chú thích trong sách chẳng phải là cố khóa cửa chuồng sau khi mấy con ngựa đã chạy tung ra rồi hay sao?
“Tôi đã cho chị một ví dụ là không hẳn như vậy. Nếu ai viết là con ngựa màu đen, nếu con ngựa không ở bên ngoài chuồng, chị không thể chứng minh nó đúng là đen.”
Có quan điểm pháp lý cho rằng hoạt động của Malmab trong các văn khố là bất hợp pháp và không được phép.
“Nếu tôi biết văn khố nào có tài liệu mật, tôi có quyền nói cảnh sát tới đó tịch thu tài liệu. Tôi cũng có thể nhờ tòa án. Tôi không cần nhân viên văn khố cho phép. Nếu có tài liệu mật, tôi có thẩm quyền hành động. Này, có chính sách đấy. Tài liệu bị niêm phong đâu phải vô cớ. Dù vậy, tôi không nói với chị là mọi thứ bị niêm phong đều có 100% lý do chính đáng [để bị niêm phong].”
Bộ Quốc phòng từ chối trả lời các câu hỏi cụ thể liên quan đến cuộc điều tra và chỉ đưa ra câu trả lời sau đây: “Giám đốc an ninh của cơ quan quốc phòng hoạt động với trách nhiệm bảo vệ bí mật nhà nước và lợi ích an ninh của mình. Malmab không cung cấp chi tiết về cách hoạt động hoặc nhiệm vụ của mình.”
Lee Rotbart giúp tìm hình ảnh cho bài viết này.
Hagar Shezaf là ký giả tại West Bank của nhật báo Haaretz (Ḥadshot Haaretz, The Land of Israel), Tel Aviv, Israel.
Bản dịch này dựa theo bản phổ biến trên Britain Palestine Project, “Burying the Nakba: How Israel Systematically Hides Evidence of 1948 Expulsion of Arab”, ngày 22/2/2020, https://britainpalestineproject.org/burying – the – nakba/.
[1] Nakba: một chữ Ả Rập, nghĩa đen là “thảm họa”, nói về hành động của người Do Thái, từ 1948 đến nay, đối với người Ả Rập Palestine khi trục xuất và cướp đoạt tài sản, đồng thời ngăn cản sinh hoạt chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và nhân quyền của họ. Chữ Nakba đối với người Palestine tương tự như chữ Holocaust đối với người Do Thái.
[2] Mapam Party: một đảng cánh tả ở Israel, thành lập tháng 1/1948, giải tán năm 1997, nhập vào đảng Meretz, lập trường dân chủ xã hội và thế tục, chủ trương giải pháp hai nhà nước Israel và Palestine. Năm 2024, Meretz nhập vào đảng Lao Động thành đảng Dân chủ.
[3] Yad Yaari: thành lập năm 1983, lưu trữ tài liệu về HaShomer Hatzair (phong trào thanh niên Zionist thành lập năm 1913) và Kibbutz Haartzi (liên minh 85 kibbutz thành lập năm 1927).
Givat Haviva: một cơ quan của Kibbutz Federation ở Israel, thành lập năm 1949.
[4] Israel Defense Forces, IDF: thành lập ngày 26/5/1948 theo chỉ thị của thủ tướng đầu tiên của Israel là David Ben-Gurion, sau khi Israel tuyên bố độc lập ngày 14/5/1948. Lúc đầu IDF tập hợp các đội dân quân như Haganah, Irgun, Lehi… trong các khu định cư người Do Thái ở Palestine; ngày nay IDF là bộ quốc phòng của Israel.
[5] Operation Hiram: diễn ra từ ngày 29 đến 31/10/1948, kết quả là vùng Bắc Galilee, được Liên Hiệp Quốc chia cho người Ả Rập, bị Israel chiếm và hơn 50.000 người Palestine bị trục xuất và trở thành người tị nạn chạy qua nước khác.
[6] Moshav: khu định cư người Do Thái, lập theo kiểu mẫu của nhóm Zionist cánh tả hai thập niên đầu thế kỷ 20. Người trong moshav có đất riêng nhưng làm việc tập thể, khác với kibbutz mỗi người tự canh tác đất của mình.
[7] Haganah: tổ chức dân quân Zionist thành lập năm 1920, giải tán ngày 28/5/1948 để gia nhập vào IDF sau khi Israel tuyên bố độc lập.
[8] Akevot Institute for Israeli-Palestinian Conflict Research: tổ chức phi chính phủ, thành lập năm 2014, lưu trữ tài liệu cho mục đích nghiên cứu, tự do thông tin, thúc đẩy minh bạch và bảo vệ nhân quyền. Văn phòng đặt tại Haifa, Israel.
[9] Malmab: Director of Security of the Defense Establishment, tiếng Hebrew là Ha-Memune al ha-bitahon be-Ma’arechet Ha-Bitahon.
[10] Shin Bet: cơ quan an ninh quốc nội, có nhiệm vụ chống khủng bố, phản gián và bảo vệ yếu nhân của Israel, thành lập năm 1949.
[11] Irgun và Lehi: hai tổ chức dân quân Zionist, chủ trương cực kỳ bạo động. Irgun thành lập năm 1931 khi tách ra khỏi Haganah, nhập vào IDF năm 1948. Lehi thành lập năm 1940, nhập vào IDF năm 1948.
[12] “Israelis”: Tamir nói đến người Do Thái trên đất Palestine trước khi có quốc gia Israel. Khái niệm “công dân Israel” chỉ có sau khi nhà nước Israel thành lập và kiểm tra dân số.
Năm 1922, Anh quốc điều tra dân số tại Palestine, kết quả có 757.182 người, gồm 590.890 Hồi giáo (78%), 83.794 Do Thái (11%) và 73.024 Kitô (9,6%).
Năm 1947, vùng Palestine có khoảng 1,8 triệu người, gồm 1,2 triệu Ả Rập (60% Hồi giáo và 8% Kitô) và 600.000 (31%) Do Thái.
Năm 2023, Israel có 9,8 triệu dân, gồm 73% Do Thái; 21% người Ả Rập Palestine theo đạo Hồi hay Kitô; và 6% các sắc tộc khác.
[13] Peace Now: tổ chức phi chính phủ tại Tel Aviv, Jerusalem, cổ động cho giải pháp hai nước Palestine và Israel. Từ đầu thập niên 1990, Peace Now tuyên bố các khu định cư bất hợp pháp của người Do Thái, nhưng được nhà nước Israel làm ngơ, là rào cản lớn nhất đối với giải pháp hai nước và hòa bình trong khu vực. Peace Now chủ trương khác với một số nhóm Do Thái Chính thống, như Neturei Karta và Satmar Hasidim… coi họ là công dân của nước Palestine và chống lại sự hiện hữu của nhà nước Israel.
[14] Ramon Crater: tiếng Ả Rập là Wadi al-Raman, thung lũng sâu 500 mét, dài 40 km, rộng 2-10 km, trong sa mạc Negev, thuộc Israel ngày nay.
[15] MK Yaakov Uri (1888-1970): dân biểu quốc hội Israel (Member of Knesset).
[16] Mossad: cơ quan gián điệp Israel, có nhiệm vụ thu thập tin tình báo, chống khủng bố, hoạt động bí mật.
[17] United Kibbutz Movement (UKM): lập năm 1981, lập trường gần với Đảng Lao Động. Năm 1999, UKM nhập chung với Kibbutz Artzi thành Kibbutz Movement có tổng cộng khoảng 230 kibbutz.
[18] Do Tháiish Agency for Israel: tên gọi trước đó là Do Tháiish Agency for Palestine, lập năm 1929, là một phần của World Zionist Organization (1897 đến nay), tổ chức phi lợi nhuận lớn nhất của người Do Thái trên thế giới, chủ trương tái lập quê hương của người Do Thái trên lãnh thổ Palestine, khuyến khích và trợ cấp cho người Do Thái trở về Palestine. Văn phòng hiện nay đặt tại Jerusalem.
[19] Deir Yassin: một làng có khoảng 600 người Ả Rập Palestine, cách Jerusalem 5 km về phía tây. Deir Yassin tuyên bố trung lập, thỏa hiệp bất bạo động với các nông trại Do Thái kế cận, tự phòng vệ và không cho phép quân Ả Rập nơi khác vào làng. Ngày 9/4/1948, người Do Thái tấn công, san bằng và giết 107 cư dân Ả Rập, trong đó có 30 trẻ em.