- Da Màu Magazine - https://damau.org/en -

mẹ ái mộ ca sĩ randy travis

Souvankham Thammavongsa (1978 – ) là nhà văn, nhà thơ Canada gốc Lào. Tuyển tập truyện ngắn của cô, “How to Pronounce Knife’”(tạm dịch “Phát Âm Chữ Knife Như Thế Nào”), trong đó có truyện ngắn “Mom Is in Love with Randy Travis” được chuyển ngữ dưới đây, xuất bản vào năm 2020. Cô đã được giải thưởng O. Henry vào năm 2019 cùng nhiều giải thưởng khác và đang hoàn tất cuốn tiểu thuyết đầu tay của mình.Tạp chí văn học The Walrus gọi cô là “một trong những tiếng nói độc đáo mới xuất hiện trên thi đàn Canada trong thế hệ đương thời.”

Điều duy nhất mà mẹ tôi thích ở xứ sở mới mẻ chúng tôi đang tá túc là âm nhạc của nó. Người ta cho chúng tôi một cái radio nhỏ trong thùng quà chào mừng của chương trình định cư người tị nạn. Trong thùng còn có những món khác như quần đi tuyết, vớ, đồ lót mới, nhưng cái radio là món mẹ tôi quý nhất. Đó là một cái máy kim loại có khung để chọn đài. Nút điều chỉnh âm thanh chỉ có ba nấc, không vặn thêm được chút nào về bên phải nữa. Mẹ tôi nâng cái radio bé tí lên ngang tai như một cái vỏ ốc để nghe. Người dẫn chương trình lúc nào cũng nói vắn tắt giữa các bài hát và lâu lâu lại buông ra một tràng cười. Trong bất cứ ngôn ngữ nào, tiếng cười vẫn là tiếng cười. Giọng cười của ông ta nghe nhẹ nhàng, kín đáo và mời gọi. Người ta có cảm tưởng là ông ta cũng đang một mình ở nơi nào đó. Với lòng biết ơn được nghe giọng nói con người và những bài ca làm bầu bạn với mình, mẹ tôi nghe radio khá đều đặn lúc tôi đi học và ba tôi đi làm.

Mẹ tôi đặc biệt thích nhạc đồng quê Mỹ vì loại nhạc này gợi cho bà nhớ đến cách trò chuyện với nhau của cánh phụ nữ trong gia đình bà. Nghe thật thân quen. Những lời cầu xin, những chuyện gẫu, những mơ ước về cuộc sống ở thành thị, hình dung ra cuộc sống ở một nơi chưa hề đặt chân đến. Các bài hát thường kể về một câu chuyện mà ai cũng đồng cảm được—những bài nói về trái tim tan vỡ, về tình yêu, về một kẻ nào đã hứa hẹn yêu mình mãi mãi và mãi mãi, Amen. Mẹ tôi không hiểu chữ Amen nghĩa là gì, bà chỉ đoán nó là chữ người ta nói ở cuối câu để ai cũng biết là câu đó đã kết thúc. “Cho tôi ba quả táo, Amen,” bà thường nói vậy trong tiệm tạp hoá ở góc đường. Vì thế, hàng xóm của chúng tôi tưởng rằng bà rất ngoan đạo, mặc dầu gia đình tôi theo đạo Phật, và bà thường đi nhờ xe với họ đến nhà thờ mỗi Chủ Nhật. Bà kết bạn khá dễ dàng, lúc nào cũng sẵn một nụ cười, chẳng bao giờ mắc cỡ về chuyện tập nói tiếng Anh của mình.

Ở nhà thờ, mẹ tôi kể lại cho chúng tôi nghe là mọi người được ăn một cái bánh nhỏ và nhấp một ngụm rượu vang đỏ, thì giờ còn lại là để nghe một người đàn ông nói. Bà không hiểu ông ta nói gì, chỉ thấy là ông nói rất lâu. Có lúc, để khỏi thấy đôi tay thừa thãi, bà lại với lấy cuốn sách nặng trĩu trước chỗ ngồi, mở ra đọc. Mặc dầu chẳng hiểu mọi người đang ê a hát cái gì, bà cũng nhép miệng theo. Giống như trong một buổi lễ nhập quốc tịch vậy. Có hiểu lời tuyên thệ của mình hay không thì người ta cũng phải mấp máy môi.

Một thời gian sau, dường như mẹ tôi chẳng còn mặn mà gì với việc đi nhà thờ nữa. Bà cũng không giải thích vì sao. 

Lúc ba tôi lãnh được tấm ngân phiếu đầu tiên, ông muốn sắm một món gì đó thật ra không cần thiết. Bây giờ chúng tôi đã sống trên một đất nước mới rồi. Chúng tôi phải táo bạo nghĩ ra việc sở hữu một món gì xa xỉ. Mẹ tôi đề nghị mua một chiếc xe để ba tôi khỏi phải đón xe buýt đi làm, nhưng như vậy thì không đủ tiền. Hai ông bà lại tính đi ăn ở một nhà hàng sang trọng như đã từng được bạn bè mời đến, nhưng lại không thích cách nhà hàng làm món bí-tết chiên từng miếng thật dày với bơ. Không có nước mắm với các thứ gia vị cay và rau thơm trên bàn. Hai ông bà bàn với nhau mua một cái khung giường gỗ để đặt tấm nệm lên, nhưng giường là để ngủ chứ không phô trương ra được. Thật là nhiều thứ ba tôi có thể mua với đồng lương đầu tiên của ông, thế rồi cuối cùng ông quyết định mua một cái máy quay đĩa. Ở Lào, chỉ có dân nhà giàu mới có thứ máy móc đó.

Mẹ tôi rất thích cái máy hát vì bà có thể điều khiển nó theo ý mình. Với cái radio, bà phải đợi mãi mới nghe được những bài hát mình thích. Có bài bà phải chờ hàng mấy ngày trời mới được nghe. Bây giờ bà chỉ việc đặt đầu kim xuống cái đĩa hát màu đen rồi ngắm nghía nó quay tròn, quay tròn, sung sướng nghe những bài ca ưa thích bất cứ lúc nào bà muốn. Bà không trở lại với cái radio nữa.

Sau này, lúc chúng tôi sắm được ti-vi và VCR, mẹ tôi còn thu lại các chương trình trao giải thưởng nhạc đồng quê. Sau khi tên của những người được đề cử đã xướng lên, bà la to tên người mình chọn. Nếu mẹ tôi chọn sai người, bà cố nhớ tên những ai thắng giải trong từng hạng mục rồi cho chương trình chạy lại và la lên những tên đoạt giải thưởng. Khi Dolly Parton được đề cử, bà chọn cô ta, và lần nào bà cũng chọn đúng. Mẹ tôi thường la lớn, “Tôi đã thắng rồi!” Tôi thật tình không hiểu tại sao bà lại làm như vậy. Bà chỉ thắng vì nói đúng tên người đoạt giải mà thôi.

Những bài hát mẹ tôi yêu thích nhất là do Randy Travis trình bày. Mỗi lần chúng tôi thấy có chương trình nhạc mới của ca sĩ này trên truyền hình, mẹ tôi lại vội vàng bấm nút “Record”, và bà quên đi hết mọi thứ khác trên đời. Thế rồi bà khám phá ra những món ăn đông lạnh cho bữa ăn tối. Chỉ việc hâm nóng chúng lên trong vòng mấy phút. Trong một thời gian ngắn, tôi rất thích các món ăn này. Bạn bè tôi ở nhà họ cũng ăn những món giống như vậy. Tôi thích ăn khoai tây nghiền, bắp, thịt bí-tết và gà nướng. Ba tôi thì không ưa mấy món đó. Ông chỉ thích gỏi đu đủ, padaek[1], cải chua, huyết đông và xôi. Nhưng các món đó làm thường mất đến vài hôm, mua nguyên liệu thì phải đón đến mấy chuyến xe buýt mới đến chợ ở Phố Tàu. Rất tốn thì giờ để muối cá làm mắm, chặt gà ra từng miếng nhỏ và ngâm nếp cho mềm. Thì giờ đó mẹ tôi muốn dùng để nghe Randy Travis hát.

Ba tôi thì khác hẳn Randy Travis. Chẳng ai để ý đến ông là ai và làm ăn sinh sống ra sao. Ông không bao giờ nói đến hai chữ yêu thương hay biểu lộ bất cứ cảm xúc nào. Vào dịp sinh nhật của mẹ tôi, ông cho bà vài tờ hai chục đô-la. Không có được một tấm thiệp hay ra ngoài ăn uống đâu đó. Ba tôi cho rằng cứ hiện diện bên chúng tôi là đủ để nói lên tình thương của ông dành cho gia đình. Ông nghĩ rằng sự im lặng của mình chính là tình thương yêu, tính giản dị của ông cũng là tình thương yêu. Nói lên tình cảm một cách ồn ào, biểu lộ một cách công khai là một điều trơ trẽn. Ông thấy cứ rên rỉ lên là mình thương yêu ai thì thật quá đáng. Randy Travis là hạng người nào, sung mãn, bảnh bao, đầy danh vọng và tiền tài, mà chẳng bao giờ phải rơi nước mắt về bất cứ chuyện gì trên đời hay sao?

Một buổi sáng nọ, mẹ tôi đưa tiền để tôi mua tờ tạp chí Bob dành cho giới trẻ để chúng tôi lấy được địa chỉ của Randy Travis ở bìa sau. Bà mang ra một tấm thiệp có in trái tim màu hồng, nhờ tôi viết giùm vài dòng cho anh ta vì bà không biết đọc hay viết bằng tiếng Anh. Lúc đó tôi mới khoảng đâu bảy tuổi nên không biết phải viết ra sao. Tôi thì hiểu gì về ngôn ngữ của tình yêu giữa người lớn với nhau? Trong lúc mẹ tôi xoắn mấy lọn tóc quanh các ngón tay và cười khúc khích, tôi đứng đó, chẳng biết bắt đầu viết bằng câu gì. Tôi không thích điệu bộ đó của mẹ tôi và sợ nếu Randy Travis trả lời thì không biết chuyện gì sẽ xảy ra cho ba tôi.

Thế là tôi viết xuống, Tôi không thích anh.

Mẹ tôi sẽ không bao giờ biết được tôi đã viết những gì.

Tôi nói với bà là tôi viết Tôi yêu anh mãi mãi và mãi mãi, y như trong bài hát của anh ta.

Mẹ tôi cười và ký tên ở dưới.

Chúng tôi cứ gởi hết tấm thiệp này đến tấm thiệp khác cho Randy Travis, và dù chẳng hề có hồi âm, mẹ tôi vẫn tiếp tục gởi. Tôi cố gắng nghĩ đến những điều có thể viết bằng cách nhớ lại những câu mà lũ học trò thường viết trong nhà vệ sinh ở trường hay xịt bằng sơn lên bốn bức tường gạch của toà nhà nơi chúng tôi đang ở. Mày xấu như ma mút. Cút về nước của mày đi. Đồ thua cuộc. Đôi khi tôi không kịp viết gì thì mẹ tôi đã ký tên vào tấm thiệp, bỏ nó vào phong bì dán lại rồi nhét nó vào cái khe đen ngòm của cái hộp thư ở góc đường trước nhà. Chắc chúng tôi đã gởi đi hàng trăm tấm thiệp như thế, tốn rất nhiều tiền tem và phong bì, và mẹ tôi cứ mong nhận được hồi âm. Thật chẳng khác gì những gì mẹ đã làm để đến được đất nước này, bà bảo thế.

Tất nhiên là tôi đã mách lại với ba tôi chuyện hai mẹ con tôi làm, mong ông có thể làm mẹ tôi ngừng lại nỗi ám ảnh này. Càng này nó càng trở nên quá đáng. Đến lúc này thì tôi đã từ chối không giúp mẹ nữa, viện cớ phải lo học hành, những tưởng như vậy sẽ không còn chuyện thư từ, nhưng bà vẫn tự tiếp tục gởi thiệp đi, với vỏn vẹn chữ ký của bà trên thiệp. Tôi cho ba tôi xem một trong những tấm thiệp ấy. Ông chỉ vào chữ ký của mẹ tôi. Nó xoắn xuýt, vặn vẹo như một cái bánh pretzel. Ông cười bảo mẹ tôi, “Randy Travis đọc tiếng Anh. Anh ta sẽ thấy tên của em như là một hình vẽ đố vui. Địa chỉ mà em lấy được đó, có trời mà biết họ đang làm gì với nó. Có điều chắc chắn là thiệp nào rồi cũng chui vào sọt rác mà thôi.”

Vậy mà mẹ tôi vẫn tiếp tục gởi thiệp đi, ký tên mình bằng chữ Lào. Randy Travis là tất cả những gì bà có thể tơ tưởng và nói đến. Khi cái ống nước của bồn rửa trong nhà bếp bị nghẹt mà ba tôi không biết cách sửa, mẹ tôi bảo, “Ồ, em đánh cược với anh là Randy Travis biết sửa cái này đó.” Rồi trong một bữa ăn tối, bà chợt nói lớn, “Em đánh cược là Randy Travis rất muốn dùng bữa tối với em!” Bà còn thường nhìn qua cửa sổ, trông lên trời, mặt trăng, mặt trời, hay một đám mây và mơ màng nói, “Randy Travis chắc là cũng đang nhìn những gì em đang ngắm nghía ngay lúc này đây. Cho dù anh ấy đang ở bất cứ nơi nào.”  

Không thể nào tránh khỏi việc ba tôi trở nên chán ngán vì lúc nào cũng phải nghe kể lể Randy Travis như thế này, Randy Travis như thế nọ, để rồi cuối cùng ông buồn rầu bảo mẹ tôi, rằng người đàn ông ấy là người nổi tiếng, và rằng cuộc sống của chúng mình sẽ chẳng bao giờ liên quan gì đến cuộc sống của anh ta. “Anh ta thậm chí còn không biết là chúng ta có mặt trên cõi đời này. Ngay cả là một đốm sáng nhỏ li ti, chúng ta cũng không được như thế đối với anh ta,” ba tôi bảo vậy. Đoạn ông đưa tay lên ngang mặt, cong bàn tay thành một vòng tròn quanh con mắt, rồi từ từ co các ngón lại để cuối cùng thành một cái nắm tay siết chặt. Nhưng chẳng ai có thể kéo mẹ tôi ra khỏi mối tình của bà dành cho Randy Travis. Nó như một vùng tối mênh mông phủ chụp lấy bà, và chúng tôi chỉ biết chờ đợi một ánh sáng nào sẽ chiếu xuyên qua đó. Mẹ tôi còn bắt đầu ăn mặc như Dolly Parton, nghĩ rằng đây là mẫu phụ nữ mà Randy Travis ưa thích. Bà nhuộm tóc vàng, làm xoắn lại từng lọn và búi ngược lên. Bà vặn nhạc của Randy Travis,  đến ngồi bên cửa sổ, mắt chăm chăm chờ đợi về phía dưới đường, như thể anh ta sắp lái xe đến rước bà đi.

Những mong có được một mảnh tình vốn dành cho Randy Travis, ba tôi cũng bắt đầu mang đôi giày bốt cao-bồi mà mẹ tôi mua cho ông trong một lần đi garage sale. Chẳng bao lâu, ông đã mặc thêm quần jeans với áo nỉ, đi đứng ra kiểu như Randy Travis. Ông ngoéo một ngón cái vào một cái dây để luồn nịt trên lưng quần jeans, khệnh khạng đứng thẳng một chân, còn chân kia duỗi ra ở đầu gối, đưa về phía trước. Thấy ba tôi thay đổi như vậy, mẹ tôi vui lắm. Nhưng khi bà bà yêu cầu ông cất giọng hát, ông thất bại một cách thảm hại.

Ông không phát âm được các chữ trong bài hát.

Nụ cười rạng rỡ đầy hy vọng trên gương mặt của mẹ tôi biến mất, nhưng ba tôi vẫn cứ hết sức cố gắng, gân cổ lên hát điệp khúc, nhấn mạnh vào các nguyên âm trong lời ca, nhái giọng miền nam. Rõ ràng ông không phải là một ngôi sao. Không phải là ca sĩ hàng đầu. Ông chỉ biết đóng đồ gỗ nội thất vào thùng cạc-tông làm kế sinh nhai. Ai mà chịu trả tiền để nghe ông hát, nhưng ông không lấy thế làm điều. Ông chỉ đang rán sức làm những gì mẹ tôi mong muốn.

Một hôm, ba tôi nói cả nhà chúng tôi sẽ đi xem một buổi trình diễn của Randy Travis. Ông bảo, “Mẹ con muốn vậy. Cha con mình phải làm điều này cho bà.” Ông thuê một chiếc xe, chở chúng tôi xuống miền nam. Vào thời đó làm gì có chuyện mua đồ qua mạng như bây giờ. Phải đến nơi mua vé ngay tại chỗ.

Mẹ tôi vô cùng háo hức, bà nấu những món ăn mà ba tôi ưa thích. Trước hôm đi ba ngày, bà ngâm nếp, nấu chín rồi xới vào một cái thip khao[2], bọc vải lại để giữ ấm. Bà làm món gỏi đu  đủ, trộn tôm khô xay nhỏ vào, chiên hai con chim cút và gói lại trong giấy bạc. Hồi giờ tôi chưa bao giờ thấy món ăn Lào đẹp như thế. Ăn mãi thức ăn đông lạnh dành-cho-bữa-tối-xem-TV, các món ăn truyền thống này chẳng khác nào bữa tiệc chào mừng trở về tổ ấm. Được sắp xếp khéo léo bên nhau, màu sắc của các món ăn thật rực rỡ, chói lọi, hương vị nồng nàn và thấm thía. Mỗi lần ăn như nhân dịp gì rất đặc biệt. Như nhắc nhở mẹ tôi về nguồn cội và tình yêu của bà. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao ba tôi chỉ khăng khăng đòi ăn những món này.

Tôi không nhớ rõ về cuộc hành trình hôm ấy cho lắm, trừ tấm bảng màu xanh đỏ có ghi con số 75. Chúng tôi cứ theo nó mà đi, ròng rã mấy ngày trời. Tôi cũng chẳng thấy gì nhiều qua khung kính cửa xe. Toàn là những sợi đây điện màu đen như những cái gạch dưới trong bầu trời xanh lơ, và rồi là chính gương mặt đen đủi của tôi phản chiếu trong lớp kính, chằm chằm ngó lại mình.

Tại buổi nhạc hội, chúng tôi ngồi mãi tít trên cao, ở vòng ngoài cùng của hàng khán giả, đến nỗi tôi không chắc có thật là Randy Travis đang đứng trên sân khấu hay không. Mặt của anh ta nhỏ xíu như đầu một cái kim. Tôi nheo mắt lại, lấy ngón tay cái và ngón trỏ của mình để đo kích thước của anh ta từ chỗ ngồi của chúng tôi. Không hiểu sao, tôi khép khoảng trống giữa hai ngón tay có chứa hình ảnh của anh ta lại cho đến lúc không còn nhìn thấy người ca sĩ đó nữa. Nhưng lúc anh ta cất giọng hát, tôi hé con mắt còn lại của mình và chợt nhận ra đó chính là Randy Travis trên sân khấu. Rõ ràng đó là giọng hát từ trong những cái đĩa ở nhà tôi.

Randy Travis không di chuyển nhiều trên sân khấu. Anh ta hầu như chỉ đứng một chỗ, vừa hát vừa đàn. Trông anh ta có vẻ nhút nhát, mắt cứ nhìn xuống trong lúc đám đông đứng bật dậy để vỗ tay. Anh gật gù đón nhận sự hoan nghênh đó, rồi hát qua bài khác. Anh ta không nhìn hẳn vào một ai. Không hát riêng cho người nào. Anh nhìn vào đám đông, và ánh đèn sân khấu làm gương mặt anh bừng lên bằng một thứ ánh sáng tôi chưa bao giờ từng được thấy. Như thể anh ta đang lấp lánh, lấp lánh. Có lúc, anh vẫy tay về phía chúng tôi ngồi, và mẹ tôi vẫy tay đáp trả lại. Nhưng chúng tôi chỉ là một cái chấm đen trong mắt anh ta. Tôi nghĩ đến số tiền mà ba tôi đã tiêu để mang chúng tôi đến buổi nhạc hội này. Những giờ khắc dài dằng dặc ông đã bỏ ra để khuân vác, đóng thùng các món đồ đạc, chở đến nhưng ngôi nhà mà chúng tôi không bao giờ có thể mua được. Nhà của những người có đủ tiền để ngồi gần xem Randy Travis hơn. Từ chỗ chúng tôi ngồi, ánh đèn sân khấu chiếu sáng phần đầu họ trông vô cùng rạng rỡ.

Khi đêm nhạc kết thúc, cùng với các cô gái tuổi choai choai, chúng tôi đứng đợi bên chiếc xe buýt du lịch, nhưng tôi thấp bé quá, không thể nhìn thấy gì ngoài tấm lưng của những người đứng trước mặt. Tôi chỉ thấy được ba tôi với lấy tay mẹ nhưng không nắm được. Ông đành xỏ hai tay vào túi quần và cúi gằm xuống đất, nhìn vào đôi giày bốt của mình.

Bây giờ hồi tưởng lại, tôi thấy không ngạc nhiên chút nào, chỉ vài năm sau đó, mẹ tôi dã tìm ra một thứ khác để dồn hết tâm trí vào. Lần này là những cái máy kéo trong sòng bạc. Bà ngồi sát vào những cái máy lấp loáng ánh đèn màu đang nuốt hết hy vọng của bà, hết đồng cắc này đến đồng cắc khác. Tôi biết mẹ tôi là người luôn nuôi hy vọng; cũng nhờ đó mà chúng tôi đến được xứ sở này. Bà có một thói quen mới là không về nhà nữa, hầu như đêm nào cũng ngủ trong xe, tại bãi đậu xe của một sòng bài nào đó, trong khi ba tôi phải thức để chờ bà về. Chẳng bao lâu, chúng tôi được báo là bà đã ngã gục trong bãi đậu xe. Ai thì cũng có lúc chết, và không cần phải có duyên cớ gì. Cuộc sống vốn dĩ là như thế.

Nói ra thì thật không phải, nhưng quả tình là tôi thấy nhẹ nhõm giùm cho mẹ tôi.

Tháng trước là sinh nhật lần thứ bốn mươi hai của tôi. Tôi ghé thăm ba tôi trong căn chung cư cũ kỹ ngày trước. Mọi thứ vẫn vậy, duy chỉ có khung cảnh ngoài cửa sổ là có khác đi. Chỗ ngày xưa có một công viên, bây giờ là một toà nhà cao lớn. Ánh sáng không còn vào được trong nhà nữa. Ba tôi rút cái ví ra, cái ví bằng da màu nâu, đã sờn quanh các mép. Nó đựng đầy những tờ biên lai, những đồng xu và vài viên kẹo bạc hà. Ông lấy một nắm bạc hai mươi đô-la, chìa ra cho tôi, nhưng tôi gạt đi, bảo không cần tiền. Ông hỏi tôi ăn gì chưa, tôi nói chưa, nên ông đi chiên cá với gừng xay nhuyễn rồi mang ra một đĩa gỏi đu đủ và xôi. Hai cha con không nói với nhau nhiều. Món mắm cá cũng giống như là dấu vân tay—ai cũng có thể biết món đó từ đâu đến và do người nào làm. Ba tôi cho thêm thịt cua vào mắm, món mắm màu đậm đặc, sền sệt, lên men đã nhiều năm. Mẹ tôi không làm mắm kiểu đó.

Sau bữa ăn tối, hai cha con tôi ra phòng khách để xem truyền hình. Ông tình cờ mở ra đài nhạc đồng quê, có chương trình đặc biệt của Randy Travis. Chúng tôi nghe vài bài hát của anh ta, đoạn ba tôi đứng dậy, mở máy karaoke của ông lên. Tôi đâm lo cho ông, chưa quên ngày xưa ông đã hát hỏng ra sao, lúc ông còn chưa nhớ được lời ca hay phát âm từng chữ một. Bây giờ thì nhờ cái máy, ông đã biết phải làm gì. Tôi là khán giả duy nhất của ông, ngồi thật gần. Nhạc đệm bắt đầu, rồi cái chấm trắng nhảy nhót trên từng chữ trong lời ca. Lúc ba tôi mở miệng hát, tôi kinh ngạc đến sững sờ.

——————————————————————

[1] Mắm cá truyền thống của người Lào

[2] Loại rổ người Lào dùng đựng xôi

This publication was supported in whole or in part by funding provided by the State of California, administered by the California State Library in partnership with the California Department of Social Services and the California Commission on Asian and Pacific Islander American Affairs as part of the Stop the Hate program. To report a hate incident or hate crime and get support, go to CA vs Hate.

Tác phẩm này đã được hỗ trợ toàn phần hoặc một phần bằng nguồn tài trợ từ tiểu bang California, do Thư Viện Tiểu Bang California quản lý với sự hợp tác của Bộ Xã hội và Ủy ban đặc trách Cộng đồng Người Mỹ gốc Á Châu và Quần đảo Thái Bình Dương cho dự án Stop the Hate (Ngăn Chặn Lòng Thù Hận). Để báo cáo mọi sự việc liên quan đến tội ác do thù ghét và những hành động kỳ thị chủng tộc, và để nhận lãnh hỗ trợ, xin vui lòng truy cập trang mạng của Bộ Dân Quyền (Civil Rights Department) Tiểu Bang California, CA vs Hate.