đôi dòng về Anna Akhmatova

akhmatova Anna Akhmatova (1889-1966) là bút danh của Anna Andreyevna Gorenko. Chào đời tại Odessa, Akhmatova được biết tới trong không khí của một thôn trang có tên Tsarskoye Selo nằm gần Petersburg và sau đó trong không khí thơ ca của thủ phủ đô hội này. Bà lập gia đình cùng nhà thơ Nikolai Gumilyov, người sáng lập trường phái thơ Acme (Cao Đỉểm) – một cuộc hôn nhân ngắn, đầy bão táp; và là bạn thân thiết nhất với Osip Mandelstam, một nhà thơ Acme khác mà sau này cùng chia xẻ hoạn nạn, đã chết trong nhà tù. Đây là ba tên tuổi sáng giá nhất của trường phái Acme, dẫu rằng đối với nhiều người thì chính những tác phẩm của Anna Akhmatova mới mang trọn vẹn tinh thần của thi phái, thủy chung từ đầu tới cuối – một nghịch lý khi xét tới sự nhấn mạnh cao độ về chất cứng cáp nam tính trong tuyên ngôn thơ ban đầu của nhóm.

Chủ đề lớn nhất trong giai đoạn đầu thi nghiệp của Akhmatova là tình yêu từ quan điểm người nữ, mà theo bà là một tình yêu không diễm lệ, không sướt mướt, tuyệt đối không bị lừa gạt bởi tình cảm bi lụy. Qua những bài thơ vần cô đúc, mang tính truyện cao, Akhmatova nói nhiều tới không-tình-yêu hơn là tình yêu, thứ tình giả như, thứ tình có lẽ đã; những cuộc không-gặp-gỡ của tình nhân hơn là những gặp gỡ (tiếp đầu ngữ “không” xuất hiện khá thường trong thơ bà).

Dẫu rằng năm tập thơ xuất bản trong giai đoạn mười năm từ 1912 đến 1922 đã đĩnh đạc đưa Anna Akhmatova vào trang đầu của thơ Nga hồi đầu thế kỷ thì chính vụ xử tử chồng bà, nhà thơ Nikolai Gumilyov, vào năm 1921 (về tội danh bị cho là mưu toan phản cách mạng) đủ để cấm chỉ mọi xuất bản trong 20 năm sau đó. Trong suốt thời gian này Akhmatova vẫn tiếp tục viết và được giới phê bình ngưỡng mộ tiếp tục nhắc tới – nhưng bà không được phép in thêm một tập thơ nào.

Một sắc thái mạnh nhất trong thơ Akhmatova là tình yêu của bà và sự đồng nhất bản thể, một sự đồng nhất hầu như bí nhiệm, với nước Nga. Dù bà thông hiểu những người rời nước Nga vào giai đoạn kìm kẹp và khủng bố thời Stalin, bỏ ra ngoài để được tự do sống và viết, thì bà lên án sự bỏ rơi của họ đối với những đồng bào của mình trong cơn hoạn nạn; di cư rời bỏ nước Nga là chuyện không thể có đối với bà, cho cá nhân bà. Cuộc xâm lăng nước Nga của Hitler trong thế chiến thứ hai đã thúc đẩy giòng thơ ái quốc sâu đậm mạnh mẽ ở Akhmatova, một giòng thơ yêu nước khó tìm thấy dù là ở ngôn ngữ nào. Nó chứa đựng tính bi phẫn dữ dội của Milton và “tính cứng cáp, nam tính” mà những nhà thơ Acme khác cũng không sánh được. Tâm niệm mình là công dân thế giới, bà lên tiếng bằng thơ khi London của Shakespeare bị phóng pháo cơ Đức tập kích. Những bài thơ thời chiến của bà được người dân Nga nhớ thuộc lòng, nó khiến cho giới thẩm quyền văn nghệ Liên Sô phải nới dãn, và trong một giai đoạn ngắn bà được in bài vở trở lại. Tuy nhiên, đến năm 1946, khi chiến tranh kết thúc, cuộc tương thân bầu bạn giai đoạn giữa Liên Sô và Tây Phương cũng đóng lại, thì Akhmatova là một cái tên bị đưa ra đầu bản chịu sự tố cáo (chung với Zoshchenko và Osip Mandelstam – dù đã mất). Qua miệng lưỡi đao thủ của một quan văn dưới trướng Stalin lúc ấy bà bị gọi là một “kết hợp của nữ tu và gái đĩ.”

Akhmatova sống được với công việc dịch thuật, nghiên cứu – vốn liếng của một tư chất thông minh, độc lập. Bà là người khảo cứu Pushkin thấu đáo nhất; bà hiểu đời sống và văn nghiệp của Pushkin như bà là bạn thân thiết đồng thời của nhà thơ cũng từng sống ở thôn trang Tsarkoye Selo này vậy. Phong thái cao nhã của Anna Akhmatova gắn liền với thực chất là bà được sự ngưỡng mộ, không chỉ từ bạn đọc Nga, bạn văn, giới phê bình, mà còn cả ở những quan văn Sô Viết có nhiệm vụ trấn áp bà.

Hai tuyển tập thơ của Akhmatova được xuất bản trở lại vào năm 1958 và 1961, nhưng hai danh tác ở thể loại thơ dài – là Requiem (Cầu Hồn), về giai đoạn chồng mất, con trai bị lao tù, đáy cùng của cuộc Khủng Bố Kinh Hoàng; và Poem Without a Hero (Bài Thơ Không Anh Hùng), một quán niệm ký mật về người và vụ việc, đã tới trong đời – thì chỉ có thể xuất bản sau khi Liên Sô sụp đổ. Giữa thập niên 1960 Akhmatova được phép xuất ngoại hai lần: tới Ý để nhận một giải văn học quốc tế, và tới Oxford để nhận một học vị danh dự.

[Tiểu sử từ Tuyển tập Văn chương Nga Thế kỷ Hai Mươi Thu Gọn (The Portable Twentieth – Century Russian Reader), NXB Penguin, 1985, Clarence Brown biên tập.]

bài đã đăng của Anna Akhmatova


@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)