Trang chính » Biên Khảo, Dịch Thuật, Học Thuật, Lịch Sử, Sang Việt ngữ, Văn hóa Email bài này

việt nam khai quốc: nhà tấn với lâm ấp (chương 3, phần 4)

Champa statue

Tượng Phật trong viện bảo tàng Chàm ở Đà Nẵng. Địa thế của king đô Champa nằm cùng khu vực của nước Lâm Ấp vào thế kỷ thứ 3 sau Thiên Chúa

Năm 270 Phạm Hùng, vua Lâm Ấp, bị tử trận trong trận giao chiến với Đào Hoàng, Thứ Sử Giao Châu, Phạm Miễn, con trai Phạm Hùng lên kế nghiệp cha tiếp tục lèo lái Lâm Ấp trở nên một nước thịnh vượng và ổn định. Năm 284, Phạm Miễn gửi sứ bộ chính thức của Lâm Ấp sang yết kiến Tấn triều để nối lại bang giao bị gián đoạn từ lúc Lâm Ấp tiếp kiến Lữ Đại vào năm 226, sau khi Lữ Đại giết con trai Sĩ Nhiếp là Sĩ Huy và lên làm Thứ Sử Giao Châu cũng vào năm đó. Nhờ giao hảo với Trung Quốc Lâm Ấp ngày càng phát triển và thực hiện được nhiều tiến bộ quan trọng. Nhưng khi Phạm Miễn băng hà vào năm 336, thì ngôi vua Lâm Ấp bị lọt vào tay một người gốc Trung Quốc tên là Văn.

Theo sử sách ghi lại thì Văn ra đời ở vùng hạ lưu sông Dương Tử và bị đem bán làm nô lệ ngay từ khi còn nhỏ. Bao phen lưu lạc, Văn có một thời làm người hầu cho một hoàng tử Lâm Ấp. Đến tuổi thanh niên, sẵn máu giang hồ, Văn bỏ trốn và theo một thương nhân Lâm Ấp đi buôn bán xa. Thời vua Min ở Trung Quốc (313-316), Văn theo đoàn thương buôn lên tận kinh đô Lạc Dương của Trung Quốc lúc đó đang bị các bộ tộc bắc phương tràn xuống xâm lược và chiếm đóng.

Chứng kiến tận mắt những biến cố tại Lạc Dương giúp Văn hiểu rõ ràng rằng Tấn triều phương Bắc đang đứng trước nguy cơ sụp đổ. Đố là một dịp may hiếm có cho một ngoại nhân giàu óc tưởng tượng như Văn rắp tăm xưng hùng ở phương Nam. Sau khi từ Lạc Dương về, Văn nhanh chóng thực hiện các tham vọng của y bằng cách giúp xây một cung điện nguy nga cho Phạm Miễn theo kiểu Trung Quốc. Văn còn được Phạm Miễn tin dùng trong việc cai quản và xây dựng cả những công sự chiến đấu và giám sát việc chế tạo vũ khí để rồi sau đó được phong chức tổng chỉ huy quân đội Lâm Ấp. Càng về già vua Phạm Miễn càng tùy thuộc nhiều vào Văn nên khi Phạm Miễn chết, Văn gạt bỏ các hoàng tử kế vị và ngang nhiên lên ngôi vua.

Dẹp tan một số phản kháng ngoài biên giới Lâm Ấp, năm 340 Văn nhanh chóng sai sứ thần sang triều cống Tấn triều và yêu cầu dùng rặng Hoành Sơn làm biên giới như một cách gián tiếp sát nhập Nhật Nam vào Lâm Ấp. Dĩ nhiên nhà Tấn bác bỏ đề nghị này mặc cho Tấn triều đã chẳng còn khả năng đô hộ Nhật Nam. Được thể vào năm 344, Văn xua quân đánh phá Nhật Nam, Cửu Đức, và Cửu Chân để dò xem thái độ Tấn triều như thế nào.

Song song với tham vọng của Văn, tình hình xôi đậu ở biên giới Lâm Ấp và Nhật Nam, trung tâm giao thương quan trọng giữa Trung Quốc và các vùng phía nam và phía tây, còn trở nên căng thẳng hơn do việc cai trị sai trái của các thứ sử Tấn triều. Đầu tiên là việc Thứ Sử Khương Trang bổ nhiệm một người bà con tên là Thao Tập làm Thái Thú Nhật Nam. Thao Tập tham lam bắt các thương nhân nộp tiền mãi lộ lên đến 50% giá trị các món hàng. Mặc dù sau khi Thao Tập chết, Tạ Trạc lên thay và cho giảm tỉ lệ ấy xuống còn khoảng 30%, và rồi người kế vị Tạ Trạc là Hạ Hầu Lam bãi bỏ hẳn việc nộp tiền mãi lộ này nhưng vì Hầu Lam tham ô và nhũng nhiễu quá đỗi nên làn sóng phẫn nộ của dân chúng vẫn không suy giảm.

Lợi dùng tình thế nhiễu nhương và bất mãn này năm 347, Phạm Văn đưa quân Lâm Ấp bắc tiến với cờ xí chiêng trống mở đường loan báo rằng :” Cuộc tấn công là do sự phẫn nộ của các lân bang đối với cách hành xử sai trái của Tấn triều.” Văn tự xưng là người đứng ra bảo vệ các nhóm thương nhân từ khắp nơi đến buôn bán hoặc dừng chân ở Nhật Nam. Việc Văn đem quân tiến chiếm Nhật Nam đúng là do sự phẫn uất của quần chúng một phần nhưng thật ra là do tham vọng mở rộng đất đai mà Lâm Ấp đã ấp ủ từ lâu như sử sách đã chép rằng ” Lâm Ấp đất hẹp nên luôn để mắt đến Nhật Nam.” Văn tiến vào Nhật Nam, bắt Thái Thú Hạ Hầu Lam và đem hành hình Hầu Lam dưới cờ để mua lòng dân chúng. Sau khi chiếm được Nhật Nam, Văn lại đề nghị với Chu Phiên, Thứ Sử Giao Châu ấn định rặng Hoành Sơn làm biên giới nhưng Chu Phiên phản đối bằng cách đem quân, dưới quyền chỉ huy của Đô Đốc Lưu Hùng, tiến xuống Nam. Nhưng Lưu Hùng bị Văn đánh bại. Năm 348, Văn lại đưa quân đánh phá Cửu Đức và Cửu Chân, áp đảo quân Tấn đóng ở đấy, giết được khoảng 5.000 đến 6.000 người; lên đến 80-90% binh sĩ của hai quận này. Thấy thế năm 349, lực lượng hỗn hợp của Quảng Châu và Giao Châu, dưới quyền chỉ huy của Đô Đốc Đặng Tuấn, tìm mọi cách nỗ lực phản công. Hai bên giao tranh một trận lớn ở hải cảng lớn Lô Dung, nay là cửa sông Gianh, phía Bắc Nhật Nam. Đô Đốc Tuấn bị thua và phải rút về Cửu Chân nhưng không may cho Văn bị thương nặng và chết trong năm ấy.

Con của Văn là Phạm Phật lên nối ngôi và tiếp tục chính sách của cha. Năm 351, Phạm Phật lại đem quân tiến lên phía Bắc và bao vây Thái Thú quận Cửu Chân là Quán Thúy. Đô đốc Đặng Tuấn và Thứ Sử mới là Dương Bình vội kéo quân xuống giải vây cho Quán Thúy. Khi quân tiếp viện của Tấn triều đến gần, bất ngờ Thúy phá được vòng vây khiến quân của Phạm Phật phải bỏ chạy. Thấy thế quân của Tuấn và Bình đuổi theo và đánh bại Phạm Phật ở nam Nhật Nam. Khi quân Tấn kéo đến gần kinh đô Lâm Ấp, Phạm Phật đầu hàng, ngỏ lời xin lỗi và thề sẽ không gây hấn nữa và quân Tấn đồng ý lui binh về biên giới.

Tuy nhiên những cuộc hành quân khiêu khích vẫn thỉnh thoảng xảy ra vì Phạm Phật vẫn nuôi tham vọng mở mang bờ cõi về phía bắc. Năm 352, Thứ Sử Nguyên Phu đem quân trừng phạt Lâm Ấp và tiêu diệt được hơn 50 đồn lũy. Tuy nhiên phần vì tình hình biên giới đã bớt căng thẳng và  phần chính là vì cuộc chiến tranh phòng thủ đã biến thành một cuộc chiến nhằm dành vinh quang và lợi lộc cho các quan quân Tấn nên các thủ lãnh địa phương không còn sốt sắng trợ giúp quân Tấn nữa.

Năm 358, dưới sự giám sát của Đằng Hàn, Thứ Sử Quảng Châu, và Ôn Phóng Chi, Thứ Sử Giao Châu, quân Tấn lên kế hoạch quy mô tiến đánh Lâm Ấp. Nhưng kế hoạch này bị Đỗ Bảo, Thái Thú Giao Chỉ và Nguyên Lang, một pháp quan của Giao Châu cực lực phản đối. Không muốn bất đồng lan rộng, Phóng Chi ra lệnh giết cả Đỗ Bảo và Nguyên Lang và năm 359, Phóng Chi kéo quân xuống Nam, bao vây được Phạm Phật trong kinh đô Lâm Ấp và bắt Phạm Phật phải tuyên thệ trung thành. Từ đó miền biên giới được yên ổn được một thời gian dài. Trong thập kỷ 370, Phạm Phật nhiều lần gửi sứ bộ ngoại giao yết kiến Tấn triều để giữ hòa khí và đến năm 380 Phạm Phật qua đời.

Nhìn lại cuộc chiến tranh với Lâm Ấp chúng ta có thể hình dung bối cảnh văn hoá và chính trị của các thủ lãnh địa phương ở Giao Châu vào lúc đó. Đầu tiên Giao Châu phản ứng bằng nhiều cuộc nổi dậy chống lại Tấn triều. Nhưng năm 348, khi Lâm Ấp tiến chiếm Nhật Nam và tàn phá lên mãi tận Cửu Chân, sử sách không ghi nhận các phản ứng hoặc tranh thủ thời cơ nổi dậy chống lại Tấn triều của người Việt mà ngược lại giới cầm quyền địa phương lại đi theo các quan chức Tấn để đẩy lui quân Lâm Ấp về bên kia biên giới. Chỉ sau khi tình hình chiến tranh với Lâm Ấp đã bớt đi và việc hạch sách nhũng nhiễu để thị oai của Tấn triều tái diễn thì các thủ lãnh địa phương mới lợi dụng cơ hội này để chống lại những đòi hỏi của Tấn triều với Giao Châu. Chúng ta có thể ước đoán rằng thiện chí hợp tác của dân chúng Giao Châu với miền Bắc là do tác động của việc người Tấn di dân và tiến quân xuống miền nam trên giới cầm quyền địa phương.

Tuy nhiên, việc hợp tác giữa các thủ lãnh địa phương ở Giao Châu với sự cai trị của Tấn triều chẳng được bao lâu vì ảnh hưởng của việc Tấn đem quân chống sự bành trướng từ Lâm Ấp xẹp xuống mau lẹ khi những đe doạ ấy giảm bớt đi.

GIA ĐÌNH HỌ ĐỖ

Vào thập niên 370, việc cai trị của nhà Tấn ở Giao Châu lỏng lẻo hẳn đi. Năm 377, quan Thứ Sử Kinh Châu thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ, nắm quyền quân sự năm châu: hai châu thuộc Tứ Xuyên, Quế Châu, Quảng Châu, và Giao Châu. Vài tháng sau, một châu khác nữa ở về phía Đông được thêm vào quyền chỉ huy bao la và có tính cách lễ nghi ấy. Trong khi đó thì triều đình Tấn đang phải chịu bất lực trước một quan đại thần nắm mọi quyền sinh sát và ngay cả quyền truất phế và lập vua theo ý mình. May là viên quan đại thần này chết sớm nên nhà Tấn mới còn lây lất thêm cho mãi đến biến cố Lưu Du. Lúc đó ở Tây Tạng có một người tên là Phù Kiên (357 -385) thống nhất được miền Bắc Trung Quốc. Năm 383, Phù Kiên kéo quân xuống tấn công nhà Tấn ở miền nam. Mặc dù nhà Tấn đã may mắn sống còn sau cuộc tấn công này nhưng vẫn tiếp tục bị thao túng bởi các sứ quân địa phương, đáng để ý là cuộc nổi loạn của các nông dân theo Lão Giáo khi họ chiếm được nhiều đất đai, kể cả Quảng Châu. Người có công lớn nhất trong việc dẹp yên được nội loạn ấy là Lưu Du, chính là người sau này cướp ngôi nhà Tấn năm 420, lập ra nhà Tống. Trong suốt thời kỳ rối ren ở phương bắc ấy, Giao Châu lại được hưởng thái bình tương đối và đời sống chính trị ở Giao Châu phát triển mạnh dưới quyền lãnh đạo của gia đình họ Đỗ.

Thứ Sử Giao Châu Ôn Phóng Chi, người đã đánh bại Lâm Ấp năm 359, được kế vị bởi một thứ sử khác tên là Chu Phù mà lai lịch không thấy ai nhắc đến. Sau đó, ghế Thứ Sử bị bỏ trống và Thái Thú Cửu Chân là Lý Tốn lên cầm quyền. Lý Tốn và con trai ông là hai người nổi tiếng về tính can đảm và quả quyết. Quyền thế và ảnh hưởng của hai cha con nhà Lý Tốn trùm lấp Giao Châu.

Năm 380, Tấn triều lại cử Đặng Độn Chi làm tân thứ sử Giao Châu nhưng Lý Tốn quyết định chống lại vì có lẽ ông cho rằng nhà Tấn đang phải bận tay trên đối phó ở phương. Có thể Lý Tốn có cái nhìn chiến lược, nhưng ông lại quên không đếm xỉa đến những địch thủ chính trị ở địa phương đang nóng lòng tranh chức trong đó có Thái Thú Giao Chỉ là Đỗ Viện. Họ chỉ đợi thời cơ để chống lại Lý Tốn lấy cớ rằng ông bất tuân lệnh ban của Tấn triều. Tháng 10 năm 380, Lý Tốn sai hai con trai canh giữ những đường bộ và đường biển quan yếu dẫn vào Giao Châu để chặn đường Độn Chi. Chỉ 9 tháng sau, Lý Tốn bị Đỗ Viên, Thái Thú Giao Chỉ, giết chết.

Nói về nhà họ Đỗ, gốc tự Tràng An. Vào giữa khoảng thời gian nhà Ngô bị sụp đổ năm 280 và Lạc Dương bị mất năm 311, ông nội của Đỗ Viện làm Thái Thú Ninh Phố, một quận ở ngay bên kia biên giới phía bắc Giao Châu và được thành lập bởi nhà Ngô bằng cách cắt một phần đất của quận Uất Lâm và Hợp Phố. Có lẽ là để tránh những rối ren của vụ Vương Chi nổi loạn, nên họ Đỗ dọn xuống Giao Chỉ và định cư ở Chu Diên. Thái Thú Giao Chỉ, Đỗ Bảo, người bị Ôn Phóng Chi giết chết trước khi có chiến dịch năm 359 đánh Lâm Ấp, có thể là phụ thân của Đỗ Viện. Bắt đầu sự nghiệp là một quan chức của chính quyền Giao Châu, Đỗ Viện được thăng lên làm Thái Thú Nhật Nam, Cửu Đức và sau đó là Thái Thú là Giao Chỉ. Khi Lý Tốn nổi dậy năm 380, Đỗ Viện tập hợp được một số tùy tùng tấn công giết được Lý Tốn và nghênh đón Thứ Sử Đặng Độn Chi. Để thưởng công Tấn triều đình phong cho Đỗ Viện chức Vũ Long Tướng Quân.

Quan hệ giữa Đỗ Viện và Độn Chi rất thân thiết và kéo dài tới 20 năm cho tới khi Độn Chi trở về Bắc. Độn Chi vừa đi khỏi, Lâm Ấp lại động binh, phá vỡ cuộc hoà bình 40 năm.

Sau cái chết của Phạm Phật năm 380 là thời kỳ nhiếp chính vì con Phạm Phật là Phạm Hồ Đạt, lên nối ngôi lúc còn nhỏ tuổi. Khi Độn Chi đi khỏi Giao Châu vào đầu năm 399, Hồ Đạt, lúc bấy giờ đã lớn, nhân cơ hội ấy lại hâm nóng những tham vọng của cha và ông nội. Y tiến quân lên Bắc, chiếm ngay được hai quận Nhật Nam và Cửu Đức vì cuộc tấn công hoàn toàn bất ngờ và bao vây được thủ phủ hai quận trước khi quân trú đóng kịp trở tay. Đỗ Viện và người con thứ ba của ông không thể không có phản ứng. Theo tiểu sử của ông chép:

“Cẩn thận và kiên trì trong việc đối đầu với quân Lâm Ấp, hai cha con nhà họ Đỗ đã dùng dùng mưu lược gây cho quân địch rất nhiều thiệt hại. Hết tổn thất này đến tổn thất khác, cuối cùng Hồ Đạt phải rút quân về Lâm Ấp.”

Đây là một thí dụ điển hình về chiến tranh du kích mà có lẽ sau này đã trở thành bản năng tự vệ của các người Việt Nam. Họ Đỗ được kể như là có “gốc gác” Việt Nam nhất trong số những nhóm cai trị ở Giao Châu. Sinh ra và lớn lên trong lòng dân Việt, nhưng Đỗ Viện nổi bật lên là một lãnh tụ trung thành và có tài trong con mắt triều đình nhà Tấn. Sau khi đánh bại được Phạm Hồ Đạt, ông được bổ nhiệm làm Thứ Sử Giao Châu.

Năm 405, Hồ Đạt lại lần nữa đánh phá các vùng biên giới Nhật Nam khiến Đỗ Viện phải phái đội chiến thuyền đến tấn công bờ biển Lâm Ấp để trả đũa vào năm 407. Sau trận này, vùng biên giới Nhật Nam với Lâm Ấp lại được yên ổn vài năm, và các lãnh tụ Giao Châu lại quay sang củng cố thế lực nhưng không quên theo dõi tình hình chính trị rối ren ở phương Bắc, nơi mà những cuộc nổi loạn đang làm rung chuyển giang sơn Trung Quốc.

Năm 410, Thứ Sử Quảng Châu là Lư Tuần làm phản. Ông gửi sứ giả đến tìm Đỗ Viện để bàn việc hợp tác giành độc lập cho Quảng Châu và Giao Châu từ tay Tấn triều. Năm ấy Viện ngoài 84 tuổi. đã tạo dựng được một sự nghiệp vững chắc và chứng tỏ là bầy tôi trung thành của Tấn triều nên ông không thể thông đồng với một ý định phiêu lưu như thế. Vì thế Đỗ Viện sai chém đầu sứ giả của Lư Tuần. Năm sau, ông qua đời và các bộ tướng của ông nhất lòng đưa người con thứ năm của ông là Đỗ Tuệ Độ lên kế vị.

Đỗ Tuệ Độ trước đó là người giữ chức vụ về sổ sách dân số ở Giao Châu. Về sau, ông được bổ làm Thái Thú Cửu Chân. Ngay trước khi phụ thân qua đời, Tuệ Độ đã thiết lập được các quan hệ chặt chẽ với các viên chức ở Giao Châu. Việc ông được bầu lên kế vị cha còn được củng cố hơn nữa với việc Tấn triều chính thức phong ông làm “Đặc Cách Mục Bá” với quyền hành bao trùm tất cả việc quân sự ở Giao Châu và kiêm luôn chức Quảng Châu Thượng Tướng. Chức vị sau chót này hàm ý thúc dục Tuệ Độ ra tay dẹp trừ Lư Tuần đang làm loạn. Nhưng Tuệ Độ chưa kịp xoay trở, vì ngay trước khi chiếu chỉ bổ nhiệm ông tới được Giao Châu, Lư Tuần bị Lưu Du đuổi đánh nên phải chạy xuống phía nam qua ngả Hợp Phố rồi thẳng đường kéo xuống Giao Chỉ. Tuệ Độ đem 6.000 quân chận đánh Lư Tuần ở Thạch Kỳ, một địa điểm nằm trong Giao Chỉ. Lư Tuần bị thua, và quân sư của ông bị bắt nhưng Lư Tuần chạy thoát. Biết được rằng họ Lý vốn thù ghét họ Đỗ, Lư Tuần sai sứ đến gặp các con trai Lý Tốn là Lý Nhiếp và Lý Thoát đề nghị hợp tác. Hai anh em nhà họ Lý bèn kéo khoảng 5-6 ngàn quân bộ lạc Li xuống núi hợp sức với 3.000 lính tinh nhuệ còn sót lại dưới quyền lãnh đạo của Lư Tuần để tiếp tục cuộc phiêu lưu chống lại Tuệ Độ chứ chưa chịu bó tay.

Để đối chọi với liên minh đáng sợ này, Tuệ Độ bèn vội vã phân phát gia tài của ông cho các quan chức trong châu để khuyến khích họ trung thành với mình. Ông lại cử em trai làm Thái Thú Cửu Chân, nơi trung tâm quyền lực của họ Lý đồng thời hiệu triệu dân chúng và chuẩn bị quân đội. Khi Lư Tuần kéo đến Long Biên vào một sáng mùa hè năm 411, Tuệ Độ đã sẵn sàng nghênh chiến. Lư Tuần và quân chủ lực dùng chiến thuyền tiến ngược dòng sông. Tuệ Độ đứng trên mũi thuyền lớn và xua quân lâm trận tong khi bộ binh của ông cung tên sẵn sàng ở hai bên bờ sông. Tất cả các thuyền của Lư Tuấn bị tên lửa của Tuệ Độ bắn bốc cháy khiến quân sĩ bỏ chạy tán loạn. Lư Tuần sau khi bị trúng tên và thấy thế trận của mình đã vỡ bèn nhảy xuống sông tự vẫn.

Trận này Tuệ Độ đại thắng. Thân phụ của Lư Tuần, hai người con, và hai bộ tướng cùng với hai anh em họ Lý và một số lãnh tụ ly khai đều bị bắt và bị xử chém. Để tưởng thưởng công lao, Tấn triều phong cho Tuệ Độ làm “Long Biên Hầu” và ông được hưởng bổng lộc 1.000 hộ. Hai năm sau vào năm 413, Tuệ Độ lại thắng Lâm Ấp một trận quan trọng nữa khi Phạm Hồ Đạt đem quân xâm lăng Giao Châu. Sau nhiều trận đánh giằng dai ở Cửu Chân, hai người con của Hồ Đạt, một bộ tướng, hàng trăm sĩ quan khác, đều bị quân của Tuệ Độ bắt hay giết. Còn Hồ Đạt, cũng mất tích từ đó.

Tuy Hồ Đạt mất tích gây gặp nhiều rối ren trong việc truyền ngôi ở Lâm Ấp trong nhiều năm trời, nhưng việc tấn công cướp phá Nhật Nam vẫn còn tiếp diễn nên năm 415 Tuệ Độ lại phái một bộ tướng đi đánh dẹp. Năm 420 Tuệ Độ thân chinh đem 10.000 quân chinh phạt Lâm Ấp và thắng lợi rất lớn. Hơn một nửa quân của Lâm Ấp bị tiêu diệt và tất cả các đồ đạc tài sản bị Lâm Ấp cướp bóc trước đây đều được thu hồi. Khi Lâm Ấp xin hàng Tuệ Độ đã rộng lượng ra lệnh cho quân sĩ ngưng tấn công ngay và thả tất cả mọi tù binh Lâm Ấp trước khi lui về Nhật Nam. Cũng năm ấy, Đỗ Tuệ Độ sai con út là Hoằng Văn dẫn một đạo quân 3.000 người lên giúp đỡ ngai vàng nhà Tấn đang bị lung lay nhưng Hoằng Văn chỉ vừa kịp đến Quảng Châu thì được tình hình đã ngã ngũ là nhà Tấn đã vào tay nhà Tống, nên quay trở về. Về sau, một trong những chức vụ quan trọng mà nhà Tống phong cho Hoằng Văn là ” Lưỡng Biên Tướng Quân,” có nghĩa là họ Đỗ phải tuần tra hai miền biên giới bắc nam để phòng giặc hoặc những nhóm tìm cách ly khai khác. Gương phản loạn của Lư Tuần khiến họ Đỗ để ý nhiều hơn nữa đến những bất ổn khác nhau và tìm cách ngăn chặn ngay trước khi quá muộn.

Xét về những thành tích quân sự chống phản loạn ở phía Bắc và Lâm Ấp ở phiá Nam chứng tỏ Đỗ Tuệ Độ là một lãnh tụ có tài. Ông còn là một nhân vật đáng chú ý qua một trích đoạn tiểu sử của ông dưới đây:

“Tuệ Độ mặc quần áo vải thô như một thường dân. Ông chỉ ăn rau, sống thanh đạm và giản dị. Ông còn chơi đàn kìm rất hay và luôn cư xử đứng đắn lịch thiệp. Ông nghiêm cấm những hủ tục phóng túng bừa bãi, và chú tâm vào việc xây dựng trường học. Trong những năm đói kém, khi dân bị đói khổ, ông trích lương bổng của mình ra giúp đỡ họ. Ông cai trị rất khôn khéo và thân mật giống như điều khiển một gia đình. Nhã nhặn nhưng nghiêm nghị khiến những người phóng túng hư hỏng và những quân trộm cướp không dám hó hé và cổng thành không hề phải đóng về đêm. Vật gì ai đánh rơi ngoài đường không có người nhặt.”

Điều này thoảng nghe giống như những lời tuyên truyền cho một nhà cầm quyền lý tưởng. Nhưng thật thế, Đỗ Tuệ Độ biết dung hoà Khổng Giáo và Phật Giáo vì có lẽ trong cái mộc mạc khắc khổ của miền biên cương xa xôi này, chân lý dễ được người ta nghe theo hơn là ở các trung tâm quyền lực chốn “triều đình”. Dù sao, Đỗ Tuệ Độ phải có một tư chất đặc biệt nào đó để dân chúng sau này tôn sùng ông như của một thánh nhân huy hoàng như thế. Các đức tính và cách hành xử của Đỗ Tuệ Độ được truyền tụng cho ta thấy rõ các tinh chất của văn minh Trung Quốc đã hội nhập vào văn hoá Việt Nam sau này. Mặc dù được coi là một bầy tôi trung thành của triều đình phương Bắc, ông vẫn là người sinh ra và lớn lên ở Giao Châu. Trong khi lòng trung thành của ông đối với triều đình phần nhiều chỉ là vấn đề nghi lễ, hình thức, qua ông chúng ta vẫn có thể thấy một hình ảnh thu nhỏ của những quan hệ ngoại giao phiền phức giữa Giao Châu và Trung Quốc. Điều đáng nói là sau này họ Đỗ đã không coi Giao Châu là quê hương vĩnh viễn của mình. Con của Tuệ Độ, Hoằng Văn là người kế vị ông, tìm cách tiến cao hơn trong Tống triều khi vội vã rời bỏ đời sống gò bó quê nhà ở Giao Châu lên kinh đô để phải một giá quá đắt là chính mạng sống của mình và không còn ai kế thừa dòng họ Đỗ trong việc cai trị Giao Châu từ đó về sau. Chi tiết việc này là vào năm 427, Hoằng Văn được sắc chỉ Tống triều gọi về kinh để giữ chức Đình Úy và cử Vương Huy Chi làm tân thứ sử Giao Châu thay thế ông. Thế là ước vọng lớn nhất của Hoằng Văn được thoả mãn và ông lập tức lên đường mặc dầu bị lâm bệnh đột ngột. Khi được đề nghị là hãy nán lại, đợi khi bình phục hãy đi thì ông nói: “Nhà ta đã ba đời hưởng lộc vua; ta vẫn luôn luôn muốn được về triều để tâu trình mọi việc về trách nhiệm của ta. Giờ đây ta được đích thân triệu về, tại sao lại trì hoãn ?”

Hoằng Văn mong mỏi được Tấn triều ghi nhận công lao xứng đáng của gia đình ông sau bao năm trấn thủ ở phương trời quê mùa này đến nỗi bất kể bạo bệnh, cùng thân mẫu tháp tùng chăm sóc, ông vẫn lên đường. Đến Quảng Châu thì ông không cưỡng lại bệnh tật nên qua đời. Thế là sau gần nửa thế kỷ, quyền thế của họ Đỗ ở Giao Châu không còn nữa.

Trong suốt thời gian cầm quyền ở Giao Châu, họ Đỗ đã tạo được sự yên ổn cho các quan chức địa phương vì nhà Tấn bị nhiễu nhương và rối loạn không có thời giờ nom dòm đến miền nam. Việc ông lựa chọn không ngả theo việc dành độc lập do Lý Tốn khởi xướng có hai lý do. Trước là vì thế lực quân sự của nhà Tấn sau cuộc chiến tranh với Lâm Ấp vẫn còn. Sau là, mặc dù chỉ là hình thức, đám quan quân sau chiến tranh vẫn còn thanh thế để tiếp tục duy trì ảnh hưởng Tấn triều. Lại xét việc nổi dậy của Lư Tuần, Lý Du cũng chẳng làm gì được trong tình trạng đó và họ Lư cũng chỉ biết trông cậy vào một nhóm đồng minh của họ ở trên núi hầu hậu thuẫn cho phong trào độc lập. Họ Đỗ rõ ràng đã đạt được một sự đồng tâm nhất trí với giới cầm quyền ở địa phương. Trái lại gia đình họ Lý vẫn không xóa được những dị biệt với các thủ lãnh địa phương trong khi tiếp tục tìm cách ly khai khỏi ảnh hưởng phương bắc. Các chế độ nối tiếp nhau của Trung Quốc ngày càng hiểu rõ rằng mầm mống ly khai ấy không thể diệt trừ hết được. Trải qua bao nhiêu thăng trầm, các ước vọng ly khai và độc lập ấy cuối cùng rồi cũng đơm bông kết trái thành một nước Việt Nam độc lập.

bài đã đăng của Keith Weller Taylor


1 bình luận »

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)