Trang chính » Giới thiệu tác giả, Giới thiệu tác phẩm, Phê Bình Email bài này

TỪ HỎA NGỤC ĐẾN THIÊN ĐƯỜNG GIẢ (kỳ 2)

 

cover CP

 

III – Bổ Túc Lý Lịch Cho Loài Di Dân

 

            Tuy xuất bản sau Nghĩa Đen, tập thơ này mang cùng một tâm trạng và có lẽ được sáng tác cùng thời. Bổ Túc Lý Lịch Cho Loài Di DânNghĩa Đen trong hành trình người di tản. Tập thơ mở đầu bằng một thứ melting pot khốn khổ. Cái “đàn nguyên âm phụ âm cõng đội tiếng mẹ” trong Nghĩa Đen đã tới trại tị nạn thì dù muốn dù không cũng phải cõng đội đủ thứ và “động từ giới từ tĩnh từ” đánh vần kiểu nào rốt cuộc cũng không ngoài ngôn ngữ kodakcolor, esperanto loạn xạ, chung cho “Triều Châu Quảng Đông Khơ me Lào Trung Nam Bắc“, chung cho những đồng cắc lẻ, những túi xách linh tinh lỉnh kỉnh. Kodakcolor, xanh đỏ tím vàng, mang cùng một nghĩa, tươi cùng một màu. Màu xanh. Màu của môi trường mới, của thế giới mới? Hay của “tương lai trống hoác“? Chỉ biết, đã “buộc chặt vào bao tử” giấy phép thông hành và lên máy bay thì người tị nạn

 

             giã từ những lá cờ đỏ

 bắt tay tấm giấy bạc xanh

            keep it up

(Lật Trang Đời)

 

            Xin đừng hiểu lầm thi sĩ. Người ta ra đi vì nhiều lý đó. Nhưng ra đi vì lý do gì đi nữa cũng khó thoát khỏi quỹ đạo của tờ giấy bạc xanh. Mà không ra đi cũng thế. Không ra đi có thể còn tệ hơn như đã thấy trong Nghĩa Đen và …trong chuyện thời sự Việt Nam. Cũng không nên nghĩ oan cho tờ giấy xanh: nói theo kiểu Phương Sinh, nó chỉ là tờ giấy xanh, ký hiệu của một sự đổi chác nào đó, nếu không có những ngòi bút vô hình chấm mực hay vấy máu viết vẽ lên trên dòng chữ phù phép, nét họa thần tiên. Vải đỏ là vải đỏ nếu lòng người không nhuộm cho nó màu vàng của dân tộc, màu đỏ của lễ hội hay của máu.

            Mâu: biểu tượng, lá cờ đỏ. Thuẫn: thần tượng, giấy bạc xanh. Từ đề đến phản đề, trên con đường biện chứng, người tị nạn đi tìm tự do sẽ thấy được cái họ tìm? Người tín đồ ra đi để “giữ đức tin” sẽ giữ được niềm tin? Hay rồi ma đưa lối, quỹ dẫn đường sẽ đẩy họ vào cái “vũ điệu hai chiều”, tổng đề của hành khúc mới một chiều kết thúc tập thơ? Từ đám 30 tháng Tư đến bọn H.O. chân ướt chân ráo, từ đám du học năm xưa đến lũ boat people hôm nay, kẻ một năm, người mười năm, hai mươi năm,… chủ, thợ, sang, hèn, Công giáo, Phật giáo, thân cộng, chống cộng, thượng tọa, linh mục, đức ông, đại đức… thành viên cá nhân hay tập thể của một cuộc thi đua tàn nhẫn

            da vàng da đỏ

            da trắng da đen          

            bệnh viện hò hẹn nghĩa trang

            ngân hàng bắt tay sòng bạc

            (Hành Khúc Mới)

 

phải gắng sức mà trèo, nhắm lá cờ xanh cao chót vót trên kia. Chẳng có con đường nào khác nếu muốn thành hậu duệ của lạc đà. Không biết chen lấn “mỗi năm một bậc /cầu thang thăng tiến”, chỉ sơ ý đôi chút với những chuyện không đâu như ký ức, lá vàng…là trượt cẳng như chơi. Mà trượt là rơi xuống “phía dưới tối tăm“, phía của “địa ngục đói nghèo“. Giữa hai bài đầu và cuối tập, 28 bài còn lại “bổ túc” cho cái lý lịch khởi đầu bằng tấm giấy bạc xanh, hình ảnh của đất hứa American Dream, và tiếp tục cũng vẫn một tấm giấy bạc xanh nhưng là biểu tượng khắc khe của một thiên đường giả. Đất Hứa cũng là đất hứa! Thiên đàng Bắc Mỹ có khi là một sòng bạc tàn nhẫn. Tấm giấy bạc xanh, mặt trái của lá cờ đỏ?  Sài Gòn Boston…/ Manila Vancouver…/ Paris Bangkok” … đâu đâu cũng những “mâm cỗ bàn vung vãi thịt người“;  “cộng sản tư bản / kéo màn hạ màn”  (Chuyện Phào). Chỉ có thế? Có thế, mà không phải thế.

            So với Nghĩa Đen, Bổ Túc Lý Lịch Cho Loài Di Dân có gì như bi đát hơn. Trong Nghĩa Đen, tuyệt vọng còn là tình cảm mạnh, trong Bổ Túc Lý Lịch Cho Loài Di Dân, hình như tuyệt vọng đã nhường chỗ cho vô vọng. Có thể coi tập thơ như bản điếu văn cho một cái gì đã chết. Trên một bình diện nào đó, loài di dân đã chết. Người ta đã “hội nhập”. Người ta đã quen đi và người ta đã quên đi! Quên đi trong chính nỗi nhớ niềm đau được tẩm liệm bằng thứ văn chương phù chú hay những điệu nhạc phòng trà. Người ta “bắt chước mấy bà tiên / vung đũa thần ráp lại y nguyên / thi ca / độc giả / ánh trăng“; người ta dùng những khuôn sáo cũ như là bùa hộ mệnh, rồi nhảy vào những “vũ điệu quay cuồng” của cuộc đời nhàm chán. Chỉ còn biết cạnh tranh dân chủ trong các cuộc thi đua “hoa hậu”. Trí nhớ càng ngày càng đầy “quảng cáo“, mỗi mùa Xuân về lại xóa thêm đi chứng tích của thời gian (Tấm Ảnh mới nhất của Mùa Xuân) để người ta “hồn nhiên”  “quay mặt với thiện ác giả chân”  (Bổ Túc Lý Lịch Cho Loài Di Dân).

            Và nếu còn chút chi rơi rớt đáy lòng thì đã có sẵn kế hoạch để vô hiệu hóa những tình cảm không đâu bằng cách sắp xếp chúng theo qui định của đời sống mới. Ngày xưa, nơi quê nhà làm gì có tổ chức và lãnh đạo (như ngắm trăng có tổ chức trong Ly Thân của Trần Mạnh Hảo). Bây giờ, trong thế giới tự do, thế giới của khoa học kỹ thuật tối tân, đi đúng nằm ngồi cũng cần coi những chỉ trình và rà soát bộ nhớ:

 

tôi thả óc liên tưởng

qua bên kia trái đất

nơi chéo góc trại giam

gần cổng tha ma

để nó ngồi buồn năm phút

rồi thu hồi trở lại …

(Liên Tưởng Mùa Xuân)

 

            Hội nhập tới mức đó là siêu lắm. Vì tới mức đó, tức là tự thị trường hóa, vi tính hóa trong một nếp sống làm bằng phế thải, bằng rác rưởi và mảnh vụn của mọi giá trị đã tàn phai. Một mùa đông dài của tình cảm, của tâm hồn bắt đầu… Sống như cổ máy, sống như đã chết:

 

chẳng phải    Đồng Nai

                         Hương giang

 

đang cứng lạnh từng phần

như chi thể người sắp chết

dòng nước xám kia là sông Charles

 

phi trường Logan

mỗi phút một chuyến bay

 

văn minh  

         thị trường

                        súng đạn

                                                                     

đến rồi đi

 

nền công nghiệp đóng hộp

mọi nỗi niềm còn lại

                                      chính là mùa đông dài

(Bài  Thơ  Của  Người  Chờ  Quốc  Tịch)

 

            Hình ảnh mùa đông trong Bổ Túc Lý Lịch Cho Loài Di Dân là hình ảnh của khô cứng tàn tạ, mất mát và tan rã. Tất nhiên không phải do ảnh hưởng khí hậu! Ngay từ Chú Thích Cho Những Ngày Câm Nín  đã có “vết cắn mùa đông”, vết cắn của thời gian và thời cuộc. Trong bài ” Báo Cáo với Thời Gian” của tập Chú Thích Cho Những Ngày Câm Nín, Phuơng Sinh đã nói về mùa xuân đui mù, mùa hè lãng tai, mùa thu tàn phai, như tất cả chỉ là mùa đông điên dại. Trong Bổ Túc Lý Lịch Cho Loài Di Dân, khi “mùa xuân trộm đạo quay về” thì “nỗi đau lớn ngày càng nhỏ đi” và “các niềm hy vọng bị mất cắp”  (Tấm Ảnh Mới Nhất của Mùa Xuân); khi “đêm hè cất tiếng hát phiền muộn với lũ đồ vật phế thải” thì trăng đã chột và “những tờ báo hôm nay rơi / vỡ tan / trên trang báo năm qua”  (Bản Tin từ Trăng Chột); trước khi thổi lên ngọn gió cuối thu thì ” sự thật là điều trước đó chúng đã lãng quên”, đã từ lâu chúng “vĩnh biệt các thứ kỷ niệm với người chết” để “ráo riết đuổi chụp / ý nghĩa chấp chới của tờ giấy bạc”  (Năm Mười Nghìn Lẻ Một). Cứ thế thì một ngày kia:

 

các xa lộ sẽ tuần tự đưa các người

đến giấc mơ nằm trong tủ kính lắm màu

khi ấy viện thẩm mỹ sẽ xóa sạch vết nhăn trên mặt

cũng như nếp hằn trong ý nghĩ của đàn bà

còn đàn ông rảnh rỗi thì đi lượm

từng hòn đá ném hụt trong quá khứ

 

chất chồng

làm đài tưởng niệm tập thể

nỗi trống vắng những mùa đông sắp tới

(Ghi  Chép  Vụn)

 

         Nhưng không chỉ có thế, không hẳn có thế. Lý lịch loài di dân lênh đênh hơn nhiều. Chính trong mùa đông cứng lạnh có “nỗi trống vắng“. Trống và vắng đúng là cơ may cho thân phận di dân. Tâm trạng người di tản là tâm trạng lạc lối. Lúc còn ở nhà, muốn đi thật xa. Khi đã đi xa lại thấy quá xa. Tới nơi, thấy rằng cái chiêm bao thành hiện thực cũng chẳng ra gì, nơi đất hứa này cũng có bọn ăn xin gảy đàn / một tên khùng thuyết giảng (Lạc  Lối). Không phải hỏa ngục đâu, nhưng cũng chẳng phải thiên đàng. Nơi đây cũng có những vấn đề trầm trọng của nơi đây

 

 Pan Am vừa sập tiệm tháng trước

cả lục địa này sớm muộn cũng thế thôi

 (Tối  Thứ  Năm)

 

   Có điều sập tiệm hay không, người lạc lối tới đây vẫn “hết lối quay về“(Lạc Lối), và sẽ vĩnh viễn bơ vơ nơi đất khách, sẽ mãi mãi là  “Người Tuyết mồ côi“, là “quả tim không địa chỉ” của một “cuộc đời mắc cạn“. Và cuộc đời mắc cạn của người di tản nằm trong sự mắc cạn của cả một thế giới đảo điên, của một cuộc sống đầy bất trắc. Hoàn cảnh người di tản có lẽ giúp họ cảm nhận mãnh liệt hơn sự trống rỗng của thế giới hiện đại và nếp sống tha hương giúp họ thấm thía hơn một sự thiếu vắng không chỉ dành riêng cho họ:

 

quăng bánh sinh nhật cho thủy triều

vứt gia phả vào sa mạc

 

Halloween  trái bí tha hương

Halloween  cỏ bồng vô tổ quốc 

Halloween  da vàng gói quả tim không địa chỉ

Halloween  chân đất lê giày vớ lưu đày

 

quạ đen tha mất đũa thần

bà tiên trông ngóng đám mây

 

Halloween  hoàng tử ăn mày

Halloween  công chúa mồ côi

 

trên cái giường phù thủy

nheo nhóc đàn con chó sói

(Tàn  Mùa  Dạ  Hội)

 

            Không cần đi xa mới thấy mình bật rễ, ở nhà cũng có thể nhận ra số phận “lưu đày“. Nhưng nơi đất khách tình tự “mồ côi” dễ nhận ra hơn. Mồ côi, lạc lối, lưu đày là những thực trạng xã hội nhưng trước hết là những tình tự của lòng người về một sự trống vắng mà hoàn cảnh có thể khơi dậy nhưng không thể tạo ra. Những tình tự ấy chứng tỏ vẫn còn một cái gì bất diệt:

 

thà hoàn toàn mất hết lương tri

hơn là còn một tí

làm sao khấu hao phần còn lại đó

hỡi các anh các chị ?

(Ghi  Chép  Vụn)

 

            Cái phần không thể khấu hao, không thể thị trường hóa, không có cách nào cho vào máy vi tính, chính vì cái phần đó mà lá vàng vẫn là lá vàng:

 

một tiếng bảy đồng / một phút mấy cents

một cent mấy chiếc lá vàng?

(Khúc Dạo Chiều Thứ Sáu)

 

            Tiền nào mua được nỗi buồn của mùa thu?

 

lá vàng chẳng phải nước mắt mùa thu

lá vàng là lệ khô của Mỹ châu

(Tối Thứ Năm)

 

            Lệ khô của Mỹ châu, thì có kém gì nước mắt của Mỵ Châu? Hoàn cảnh khác, cùng một nỗi buồn. Buồn đi với nhớ:

 

sưu tập những áng mây sầu

nhâm nhi cơn say đất trích

 

mỗi ngày đọc báo nghe tin

 

các hoa khôi ngày trước bây giờ

gõ đũa đập bát xua mấy con ruồi

 

đêm qua nằm mơ

nhìn cò rạc từng đàn vỗ cánh bay

nỗi hoài hương là vũng ao tù còn trơ lại

 

tỉnh dậy tôi vẫn nhớ rõ ràng

 

hình ảnh mình

ôm khẩu súng hết đạn

 

lặn hụp dưới đó

tìm những niềm đau mới

(1993)

   

Những niềm đau mới hay những niềm đau cũ? Cũ, mới chẳng có nghĩa lý gì ở đây. Cái “còn một tí” là cái mới từ ngàn xưa.  “Trải qua một cuộc bể dâu”  … thời nào, nơi nào cũng có những người than như vậy, giữa đám người “hồn nhiên”. Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra… Thái độ cuồng nộ này, đám đông thường coi là quá khích.  “Có tiền mua tiên cũng được”, người đời hay nghĩ thế, dĩ thực vi tiên mà. Nhưng chiếc hài của Cendrillon (Trích Điếu Văn cho Tính Hồn Nhiên), con thuyền tị nạn rong rêu nằm trong đáy ký ức, câu thơ lục bát và nàng Bạch Tuyết với trăng rằm … thuộc loại khác.

            Đọc Phương Sinh thấy anh rất bi quan nhưng không tiêu cực. Đó là thứ bi quan không nhẫn nhục, không nhượng bộ, giàu tính phản kháng. Nói cách khác, đây là thái độ lạc quan của người đứng trước vực thẳm. Lạc quan nhưng không ảo tưởng.

            Sisyphe phải ngày ngày bê một tảng đá lên tận đỉnh núi, nhưng chưa tới đỉnh tảng đá lăn xuống, để chàng lại phải vần nó lên cho nó lăn xuống một cách ác độc và vô nghĩa. Có thể chúng ta là một lũ Sisyphe. Nhưng biết đâu chẳng có ngày cùng nhau xây được lâu đài trên đỉnh núi? Tại sao ta không

leo lên ngựa sắt

nhổ một bó tre già

đập nát

lũ nhà xe mua trả góp

 

rồi phóng thẳng lên cực Bắc

lắp tên bắn rụng

mặt trời

(Phác Thảo cho Một Nỗi Buồn, tiếp và hết)

            Được vậy sẽ hết cái án chung thân vần đá như những con dã tràng. Sẽ không còn phải kêu lên như Hamlet:  “The time is out of joint!” Nhưng thử bi quan hơn: ta không có tre già ngựa sắt, ý chí của ta hoàn toàn bất lực, ta mãi mãi đẩy nó lên nhưng tảng đá khổng lồ kia cứ mãi mãi lăn xuống, thời cuộc cứ mãi mãi đảo điên, chiến tranh vẫn tiếp nối chiến tranh, thù hận vẫn đẻ ra thù hận, áp bức và bất công tiếp tục chồng chất,  “máu pha thêm máu.” Cho dù có thế đi nữa, không ai cấm nổi những tiếng “thét câm” làm chứng cho sự có mặt của con người. Đứng dưới chân núi, Sisypha vẫn có thể nhìn lên, kiêu hãnh. Phật tại tâm. Tâm khác nhìn khác. Nhìn khác thì đời khác.

            Trách nhiệm và ước mơ của thi nhân phải chăng là ở sự “khác” ấy? Khi lịch sử biến đổi, tiếp tục nâng niu một cái “khác” để con người vẫn giữ được cái “còn một tí” nó làm cho mình “khác” mình để mình vẫn còn là mình và có khả năng tiếp nhận người khác, hơn nữa khả năng nhận diện hay ít ra tiến tới cái “khác”.

            Trên đường tìm sự thật thi ca“, lời tâm niệm của Phương Sinh, có thể hiểu là tìm cái “khác”, sống “khác” để sống cho ra hồn, nghĩa là để hồn – cái “còn một tí”  – có thể bộc lộ trong cuộc sống.

 

Chú Thích

 

            Thơ Phuơng Sinh có nhiều lối hiểu. Theo tôi, có ít ra ba lối đọc. Tầng nhẹ nhất là tầng thời sự. Rồi đến tầng suy tư lý luận. Sau cùng là tầng của thi ca. Ba tầng ấy lồng vào nhau.

Đọc từ góc độ thời sự, người ta sẽ chất vấn Phuơng Sinh về nhiều chuyện, thậm chí chụp mũ. Chính Phương Sinh cũng biết thế. Trong một đôi bài, nhà thơ phải kín đáo đính chính, chẳng hạn mấy câu trong bài Đọc Thơ Trên TiVi (tập Nghĩa Đen):

 

thơ tôi không vòng vo biện hộ tranh cãi

cũng chẳng có khả năng chở che giải thoát ai

phía sau những hình tứ cầu kỳ này

hoàn toàn vắng bóng mật vụ, tình báo, cửa hậu

 

            Mấy câu thơ nầy đủ chứng tỏ tình cảnh nhiễu nhương của “loài di dân”. Không đáng lưu ý. Khi người ta lẫn thơ với báo, lẫn thông tin với tuyên truyền, đồng hoá yêu nước với yêu xã hội chủ nghĩa hoặc nghĩ rằng yêu nước chỉ là chống cộng v.v.  … và bắt văn học phải phục vụ chính trị thì có lưu ý cùng chả làm gì được.

            Đứng từ quan điểm phê bình và lý luận, người đọc nhận ra những trào lưu, những ảnh hưởng (chủ nghĩa hư vô, triết lý hiện sinh, văn chương cuồng nộ, văn học phản kháng) và có thể đặt những câu hỏi có tính cách triết lý. Chẳng hạn “từ cái chết của lũ sớ cây rã mục bầm đen. Màu trắng chỉ là sự ngụy trang“, thì khởi điểm là rã mục bầm đen; nhưng nếu”giấy trắng tự bản chất là sự lừa dối đầu tiên và sau cùng” thì tất cả là ngụy trang, là lừa dối, kể cả cái rã mục bầm đen. Vậy thì ngụy trang bắt nguồn từ đâu? Khởi điểm, vòng tròn, bản chất là những khái niệm gặp nhiều trong ba tập thơ. Giữa ba khái niệm ấy có sự trục trặc. Đã là vòng tròn tất không khởi điểm. Nếu có ngụy trang có thể đi tìm bản chất, nhưng tất cả là ngụy trang thì tìm đâu ra bản chất? Tôi thích đọc ở tầng thứ ba, tầng của thi nhân trong lòng thời cuộc. Phương Sinh là một thi sĩ hoàn toàn hiện đại, sống sâu xa thời cuộc bằng chính lòng mình. Từ kinh nghiệm riêng tư của người di tản, tại một nơi có thể coi như trung tâm của “thế giới mới”, Phương Sinh đã vượt hẳn những gì có tính cách cục bộ để hiện diện với con người thời đại. Không cần biết thân phận người di tản, không cần biết Việt Nam người đọc vẫn cảm được thơ Phương Sinh. Không phải vì Phương Sinh quên Việt Nam hay bỏ loài di dân. Trái lại. Chính vì không lo khẳng định tính cách Việt Nam, Phương Sinh đã Việt Nam một cách chân thực và hiện đại.

 

        Đỗ Mạnh Tri

 

bài đã đăng của Đỗ Mạnh Tri


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)