Trang chính » Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Truyện ngắn Email bài này

Bắn voi


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 31.01.2019

AWAAQAHQ-P967389

Walking with Elephants của Josh Byer



Ở Moulmein,[1] phía nam Miến Điện, tôi bị rất nhiều người ghét – đó là lần duy nhất trong đời mà tôi giữ vai trò đủ quan trọng để bị gặp chuyện sau đây. Tôi là sĩ quan cảnh sát của một tiểu khu trong thị trấn, và cảm giác chống người Âu ở đó rất cay đắng một cách mơ hồ và bâng quơ. Không ai có gan đứng lên nổi loạn, nhưng nếu một phụ nữ Âu châu một mình vào chợ thì có thể sẽ có kẻ nhổ nước bã trầu lên váy bà ta. Là sĩ quan cảnh sát, tôi hẳn nhiên là mục tiêu bị họ quấy nhiễu mỗi khi họ thấy chọc phá mà có vẻ vẫn an toàn. Khi một gã người Miến láu cá ngáng cho tôi ngã trên sân bóng đá và trọng tài (một anh Miến khác) ngó qua hướng khác thì đám đông sẽ rú lên cười rất khó chịu. Điều này xảy ra nhiều lần. Rốt cuộc tôi gặp khắp nơi các khuôn mặt da vàng châm chọc của bọn thanh niên, lời chửi bới hét sau lưng khi tôi đã cách xa một quãng an toàn, làm tôi rất bực mình. Bọn chú tiểu là tệ nhất. Trong thị trấn có mấy ngàn đứa, và hình như chẳng đứa nào có việc gì làm ngoài chuyện đứng ở góc đường để chế giễu người Âu.

Trong loại việc như vậy, ta có điều kiện để thấy thật cặn kẽ điều đê tiện của đế quốc. Bọn tù khốn khổ chen chúc trong các xà lim hôi hám của trại giam, khuôn mặt tái xám sợ hãi của những kẻ bị án tù lâu, những cái mông đầy vết sẹo bị quất bằng thanh tre – tất cả tạo nên một cảm giác tội lỗi đè nặng lên tôi không thể chịu nỗi. Nhưng tôi chẳng làm gì được trong hoàn cảnh này. Tôi còn trẻ, ít học, và tôi phải suy nghĩ giải quyết vấn đề của mình trong im lặng hoàn toàn như mọi người Anh sống ở phương Đông phải chịu. Thậm chí tôi không biết là Đế quốc Anh đang hấp hối, tôi lại càng không biết rằng nó còn khá hơn nhiều so với các đế quốc trẻ hơn đang định chiếm chỗ nó. Tôi chỉ biết mình bị kẹt giữa lòng căm ghét của tôi đối với cái đế quốc tôi phục vụ và sự bực tức của tôi đối với bọn oắt con xấu tính đang định làm cho tôi không thể chu toàn công việc của mình. Trong đầu tôi, một mặt tôi nghĩ Tất cả những điều này thật rắc rối và bực mình. Vì lúc ấy tôi đã khẳng định rằng chủ nghĩa đế quốc là tồi tệ, và tôi nên bỏ việc và cuốn gói càng sớm càng tốt. Về mặt lý thuyết – tất nhiên là thầm kín – tôi hoàn toàn ủng hộ người Miến và hoàn toàn chống lại kẻ áp bức họ là người Anh. Tôi ghét cay ghét đắng không thể kể xiết công việc mình đang làm. chính quyền Anh ở Ấn[2] như một chế độ bạo ngược không thể đánh đổ, như một thứ kìm kẹp, in saecula saeculorum,[3] lên ý chí của bọn thần dân quy phục. Mặt khác tôi nghĩ rằng niềm vui lớn nhất trên thế giới là đâm chiếc lưỡi lê vào bụng một anh thầy chùa. Những cảm nghĩ ấy là phó phẩm tất nhiên của chủ nghĩa đế quốc; nếu không tin bạn cứ hỏi bất cứ viên chức Anh-Ấn nào ngoài giờ làm việc.

Một hôm xảy ra một sự kiện làm tôi thoát khỏi u mê bằng con đường vòng vèo. Bản thân nó chỉ là một biến cố nhỏ, nhưng nó cho tôi thoáng thấy rõ hơn bản chất thật sự của chủ nghĩa đế quốc – động cơ thật sự của nhà nước chuyên chế. Một hôm sáng sớm ông phó thanh tra đồn cảnh sát ở bên kia thị trấn gọi điện thoại cho tôi, nói rằng một con voi đang phá chợ. Ông nhờ tôi đến giải quyết. Tôi không biết mình có thể làm được gì, nhưng tôi muốn xem chuyện gì xảy ra vì thế tôi cưỡi ngựa đi. Tôi mang theo khẩu súng trường Winchester 10,8 ly, cũ và quá nhỏ để giết voi, nhưng tôi nghĩ tiếng súng có thể làm nó sợ. Trên đường đi nhiều người Miến chặn tôi lại và kể những điều con voi đã làm. Rõ ràng đó không phải là voi hoang, mà là con voi đực đã thuần “lên cơn dữ”. Nó bị xích như mọi con voi đã thuần phải bị xích lúc “lên cơn”, nhưng tối hôm trước nó bứt xích thoát ra. Anh quản tượng là người duy nhất có thể đối phó với nó trong tình trạng đó, anh đuổi theo nhưng đi sai hướng và bây giờ đã mười hai tiếng trôi qua. Sáng nay con voi bỗng lại xuất hiện trong thị trấn. Dân Miến không có vũ khí và hoàn toàn bất lực. Voi đã phá cái chòi tre của người ta, giết một con bò, tấn công sạp trái cây và ăn ngấu nghiến rau trái. Nó cũng gặp chiếc xe rác thành phố, và khi anh lái xe nhảy ra bỏ chạy, nó lật ngược chiếc xe rồi đập phá dữ tợn.

Ông phó thanh tra gốc Miến và một số cảnh sát Ấn đang đợi tôi ở khu phố đã thấy con voi. Khu đó rất nghèo, chòi tre bẩn thỉu chằng chéo, mái lợp lá dừa, quanh co lên triền đồi dốc. Tôi nhớ sáng hôm ấy nhiều mây, ngột ngạt lúc bắt đầu mưa. Chúng tôi khởi sự hỏi dân con voi đã đi qua chỗ nào, và như thông lệ chẳng có được thông tin gì chắc chắn. Ở phương Đông cứ như thế; chuyện nghe từ xa luôn luôn có vẻ rõ ràng, nhưng càng tới gần nơi xảy ra sự việc thì càng trở nên mơ hồ. Một số người nói con voi đi hướng này, kẻ khác nói nó đi hướng kia, một số còn cam đoan là thậm chí chẳng nghe voi viếc gì. Lúc tôi sắp cho rằng toàn bộ sự việc là nói phét thì chúng tôi nghe tiếng la hét cách đó không xa. Tiếng hét lớn, chướng tai: “Xéo đi, đồ ranh con! Xéo đi lập tức!” rồi một bà cụ cầm roi xuất hiện ở góc một căn chòi, dữ tợn xua đuổi đám trẻ con trần truồng. Phía sau có mấy bà khác, tặc lưỡi và la hét. Hẳn nhiên có điều gì bọn trẻ không nên xem. Tôi đi vòng qua căn chòi, thấy xác một ông nằm sóng soài trong bùn. Ông ta người Ấn, một anh cu li gốc Dravidian, hầu như trần truồng, có thể mới chết không lâu. Người ta nói con voi bất chợt vòng qua góc chòi rồi tấn công ông, dùng vòi đánh ông, lấy chân dẫm lên lưng ông và dí ông xuống đất. Bây giờ đang mùa mưa, mặt ông vạch một rãnh sâu ba tấc, dài hai mét trên đất mềm. Ông nằm sấp, hai cánh tay dang ra, đầu vẹo ngược qua một bên. Mặt ông lấm bùn, hai mắt mở to, hàm răng nhe ra nhăn nhở với vẻ đau đớn khôn xiết. (Nhân đây, đừng bao giờ bảo với tôi rằng người chết có vẻ an lành. Hầu hết các xác chết mà tôi đã gặp đều có vẻ độc ác.) Bàn chân con thú khổng lồ đã cọ xát và lột da lưng ông gọn gàng như người ta lột da thỏ. Ngay khi thấy xác chết, tôi lập tức bảo một anh lính tới nhà người bạn gần đó để mượn khẩu súng bắn voi. Tôi đã cho con ngựa quay về, không muốn nó phát điên vì sợ rồi hất tôi ngã khi nó ngửi thấy mùi voi.

Vài phút sau anh lính trở lại với khẩu súng trường và năm viên đạn, trong khi đó một số người Miến đến báo với chúng tôi rằng con voi đang ở ruộng lúa bên dưới, chỉ cách vài trăm mét. Khi tôi tiến tới, gần như toàn thể dân khu vực lũ lượt ra khỏi nhà và đi theo tôi. Họ đã thấy khẩu súng, và mọi người hào hứng reo lên rằng tôi sắp bắn con voi. Khi voi phá nhà của họ thì họ chẳng buồn để ý, nhưng bây giờ thì khác, nó sắp bị bắn. Bắn voi là trò vui đối với họ, cũng như đối với đám dân Anh. Vả lại, họ muốn lấy thịt. Điều này khiến tôi cảm thấy bứt rứt một cách mơ hồ. Tôi không có ý định bắn con voi – tôi chỉ nhắn đi lấy khẩu súng để tự vệ nếu cần – và khi có đám đông đi theo thì ta luôn có cảm giác bồn chồn. Tôi đi xuống đồi, cảm thấy dáng vẻ như thằng hề, súng vác vai, và đoàn quân chen lấn theo sát gót càng lúc càng đông. Tới chân đồi, xa khỏi các căn chòi, nơi ấy có con đường lót vỉ sắt, bên kia đường là hàng ngàn mét ruộng lúa lầy lội bỏ hoang, chưa cày nhưng sũng nước của trận mưa đầu mùa và lốm đốm cỏ thô. Con voi đứng cách đường tám chục mét, sườn bên trái của nó đưa về phía chúng tôi. Nó hoàn toàn không để ý tới đám đông đang tới gần. Nó đang nhổ các bụi cỏ, đập vào đầu gối cho sạch rồi nhét vào miệng.

Tôi dừng lại trên đường. Khi thấy con voi, tôi biết chắc rằng mình không nên bắn nó. Bắn một con voi đã thuần để làm việc là một điều nghiêm trọng – tương tự như phá hủy một bộ máy khổng lồ đắt giá – và dĩ nhiên không nên bắn nếu có thể tránh được. Và ở quãng cách đó, con voi đang ăn một cách an bình có vẻ hiền lành như con bò. Khi ấy tôi nghĩ và bây giờ tôi cũng nghĩ rằng nó đã qua “cơn dữ”, vì thế nó chỉ lang thang vô hại cho đến khi anh quản tượng trở về bắt nó. Hơn nữa, tôi chẳng muốn bắn nó chút nào. Tôi quyết định sẽ quan sát nó một lát để chắc rằng nó không hung dữ trở lại, rồi tôi về.

Nhưng khi ấy tôi liếc quanh đám đông đi theo mình. Một đám rất đông, ít nhất là hai ngàn người và mỗi lúc mỗi nhiều thêm. Họ chắn cả hai đầu đường một quãng rất dài. Tôi nhìn cái đám mặt da vàng nhô trên áo xống sặc sỡ – mọi khuôn mặt đều vui mừng và hào hứng vì trò vui này, tất cả chắc chắn con voi sẽ bị bắn. Họ nhìn tôi như nhìn một gã phù thủy sắp biểu diễn xảo thuật. Họ chẳng ưa tôi, nhưng với khẩu súng thần kỳ trong tay thì tôi cũng đáng để coi trong chốc lát. Và tôi chợt nhận ra rằng rốt cuộc tôi sẽ phải bắn con voi. Người ta trông đợi tôi bắn và tôi phải bắn. Tôi có thể cảm thấy hai ngàn ước muốn của họ ép tôi tiến tới, khôn cưỡng. Và trong khoảnh khắc này, lúc tôi đứng đó với khẩu súng trong tay, lần đầu tiên tôi hiểu sự rỗng tuếch, sự phù du của thế lực da trắng cai trị phương Đông. Tôi, một gã da trắng cầm súng, đứng trước đám dân bản xứ không vũ khí – dường như tôi là vai chính của vở tuồng; nhưng trên thực tế tôi chỉ là con rối nực cười bị ý muốn của các khuôn mặt da vàng phía sau xô đẩy lôi kéo. Trong khoảnh khắc ấy, tôi hiểu rằng khi gã da trắng trở nên bạo ngược thì hắn sẽ hủy hoại tự do của chính hắn. Hắn trở nên một thứ hình nộm rỗng tuếch, điệu bộ, một hình ảnh sahib[4] quen thuộc. Vì là kẻ cai trị nên cả đời hắn phải cố gắng gây ấn tượng với “dân bản xứ”, vì thế ở mỗi biến cố căng thẳng hắn phải làm những gì “dân bản xứ” trông đợi ở hắn. Hắn đeo mặt nạ, và mặt hắn phải phồng ra để vừa vặn với nó. Tôi phải bắn con voi. Tôi đã cam kết sẽ bắn khi sai lính đi lấy khẩu súng. Một sahib phải cư xử như một sahib; hắn phải ra vẻ cương quyết, phải biết hắn nghĩ gì và phải làm những việc nhất định. Đi hết đoạn đường này, với khẩu súng trong tay, với hai ngàn người bám sát gót, rồi nhu nhược rút lui, không làm gì – không, không thể như thế. Đám đông sẽ cười tôi. Và cả đời tôi, đời của mỗi gã da trắng ở phương Đông, là một cuộc đấu tranh dai dẳng để không bị chê cười.

Nhưng tôi không muốn bắn con voi. Tôi nhìn nó đập mớ cỏ lên đầu gối với vẻ chăm chú như bà ngoại mà loài voi thường có. Bắn nó đối với tôi dường như là sát nhân. Ở tuổi đó tôi không câu nệ việc giết thú vật, nhưng tôi chưa bao giờ bắn một con voi và chưa bao giờ muốn. (Không hiểu sao hình như giết một con thú lớn luôn luôn trầm trọng hơn). Vả lại, con thú này còn có chủ nó. Con voi sống đáng giá ít nhất một trăm bảng Anh; nếu chết, giá trị nó chỉ là bộ ngà, có thể năm chục bảng. Nhưng tôi phải hành động nhanh. Tôi quay sang mấy ông người Miến có vẻ từng trải đã có mặt ở đó khi chúng tôi tới, và hỏi họ về thái độ của con voi ra sao. Họ đều nói giống nhau: nó chẳng chú ý tới ai nếu để nó yên, nhưng nó có thể tấn công nếu anh đến quá gần nó.

Đối với tôi đã hoàn toàn rõ là tôi phải làm gì. Tôi nên tiến tới cách nó độ 25 mét để thử phản ứng của nó. Nếu nó tấn công thì tôi bắn. Nếu nó không chú ý tới tôi, thì cứ an tâm để yên nó cho đến khi anh quản tượng về. Nhưng tôi cũng biết rằng tôi sẽ không làm như thế. Tôi bắn súng trường không giỏi, và đất bùn nhão làm lún mỗi bước chân. Nếu con voi tấn công và tôi bắn hụt, thì rất có khả năng tôi sẽ chẳng khác gì con ếch dưới bánh xe lăn đường. Nhưng lúc ấy tôi chẳng nghĩ gì đến mạng mình, mà chỉ nghĩ tới những bộ mặt da vàng chăm chú phía sau. Vì lúc ấy đám đông đang nhìn tôi, nên tôi không có cảm giác sợ bình thường, như lẽ ra tôi sẽ phải sợ nếu tôi chỉ có một mình. Một gã da trắng không được sợ hãi trước mặt “dân bản xứ”, vì thế nói chung hắn không sợ. Ý nghĩ duy nhất trong đầu tôi là nếu sự việc trở nên tồi tệ thì hai ngàn dân Miến này sẽ thấy tôi bị đuổi theo, bị bắt kịp, bị dẫm lên dẹp lép thành cái xác nhăn nhở như ông Ấn Độ trên đồi. Và nếu điều ấy xảy ra thì rất có thể một số kẻ trong bọn họ sẽ cười. Như thế không được.

Chỉ còn một cách duy nhất. Tôi nhét đạn vào băng đạn và nằm xuống đường để nhắm bắn tốt hơn. Đám đông trở nên rất im lặng, và một tiếng thở sâu, nhẹ, vui mừng thoát ra khỏi vô số cuống họng, như thể khán giả rốt cuộc thấy màn sân khấu kéo lên. Rốt cuộc họ sẽ được xem trò vui. Khẩu súng Đức xinh đẹp có ô nhắm chữ thập. Khi ấy tôi không biết khi bắn voi thì nên bắn từ lỗ tai này qua lỗ tai kia. Con voi đang đưa ngang sườn về phía tôi, vì thế tôi nên nhắm thẳng vào lỗ tai nó, nhưng tôi đã nhắm nhích ra phía trước vài phân, nghĩ rằng bộ óc nằm quá ra đằng trước.

Khi tôi bóp cò, tôi không nghe tiếng nổ và không cảm thấy súng giật – ta không bao giờ cảm thấy khi đạn trúng đích – nhưng tôi nghe tiếng hò reo vui mừng độc ác từ đám đông vang lên. Trong khoảnh khắc ấy, trong tích tắc ngắn ngủi ấy, chỉ đủ để viên đạn bay tới đích, ta có thể nghĩ rằng con voi đã trải qua một biến đổi bí ẩn và khủng khiếp. Nó không cựa quậy, không ngã xuống, nhưng mọi đường nét trên cơ thể nó đã biến đổi. Nó bỗng có vẻ bị đánh mạnh, bị teo lại, già đi vô cùng, như thể sức va chạm kinh khủng của viên đạn đã làm nó tê liệt mà không quật ngã nó. Cuối cùng, dường như rất lâu sau – tôi dám nói có thể là năm giây sau – đầu gối nó bủn rủn khuỵu xuống. Miệng nó nhỏ nước. Dường như nó già đi vô chừng. Ta có thể tưởng nó già cả ngàn tuổi. Tôi lại bắn đúng chỗ cũ. Trúng phát đạn thứ hai nó không ngã xuống, mà lại chầm chậm tuyệt vọng gượng dậy, run rẩy đứng thẳng lên, bốn chân bủn rủn và cái đầu cúi gục. Tôi bắn lần thứ ba. Viên đạn ấy dứt điểm. Ta có thể thấy đau đớn làm cả thân mình nó giật lên, đánh gục sức lực còn lại trên bốn chân nó. Nhưng khi ngã xuống nó có vẻ gượng lại trong tích tắc, vì khi hai chân sau khuỵu xuống thì hình như nó lại sừng sững vươn lên như tảng đá khổng lồ đang lật nhào, vòi nó giơ lên trời như thân cây. Nó rống lên, lần đầu tiên và là lần duy nhất. Rồi nó ngã xuống, bụng nó đưa về phía tôi, một tiếng sầm như rung chuyển mặt đất tới tận chỗ tôi đang nằm.

Tôi đứng lên. Đám dân Miến đã chạy băng qua bùn, vượt qua tôi. Rõ ràng con voi sẽ không bao giờ đứng lên được nữa, nhưng nó chưa chết. Nó thở rất nhịp nhàng từng tiếng hổn hển dài hừng hực, sườn to ụ của nó phập phồng đau đớn. Miệng nó mở to – tôi có thể thấy sâu bên trong cổ họng màu hồng nhạt. Tôi chờ một hồi lâu cho nó chết, nhưng hơi thở của nó không yếu đi. Cuối cùng tôi bắn hai phát đạn còn lại vào chỗ tôi nghĩ phải là tim của nó. Máu đặc sệt trong thân nó tuôn ra như tấm vải nhung đỏ, nhưng nó vẫn không chết. Cơ thể nó thậm chí không giật khi bị đạn bắn, hơi thở đau đớn tiếp tục không ngừng. Nó hấp hối, rất chậm và đau đớn cùng cực, nhưng nó đang ở trong một cõi nào đó cách xa tôi, nơi thậm chí không một viên đạn nào có thể làm hại nó thêm nữa. Tôi cảm thấy mình phải chấm dứt tiếng động khủng khiếp này. Dường như thật khủng khiếp khi thấy con thú khổng lồ nằm đó, không còn sức để cử động nhưng cũng không còn sức để chết, và thậm chí không thể kết thúc nó. Tôi cho người về lấy khẩu súng trường nhỏ của tôi, rồi bắn hết viên đạn này tới viên đạn khác vào tim và cuống họng nó. Dường như đạn không tác dụng. Tiếng hổn hển đau đớn tiếp tục đều đều như tiếng tích tắc đồng hồ.

Cuối cùng, không chịu được lâu hơn nữa tôi bèn bỏ đi. Về sau tôi nghe nói phải nửa giờ sau nó mới chết. Đám người Miến mang dao phay và rổ rá tới thậm chí trước khi tôi bỏ đi, và người ta bảo tôi rằng chiều hôm ấy họ đã lóc thịt nó đến tận xương.

Tất nhiên sau đó có những cuộc tranh cãi vô tận về việc bắn con voi. Người chủ voi tức giận, nhưng ông ta chỉ là người Ấn và chẳng làm gì được. Vả lại, về mặt pháp lý tôi đã làm đúng, vì phải giết một con voi điên, như giết con chó điên, nếu chủ nó không kiểm soát được nó. Đám người Âu có nhiều ý kiến đối nghịch. Cánh già nói tôi đúng, cánh trẻ nói bắn con voi chỉ vì nó giết một đứa cu li là điều ngu xuẩn thấy mồ tổ, vì con voi đáng giá hơn bất cứ thằng khốn cu li gốc Coringhee[5] chết tiệt nào. Và về sau tôi rất mừng là đứa cu li đã bị voi giết, vì như thế tôi đúng về mặt pháp lý và nó cho tôi đủ lý do để bắn con voi. Tôi thường tự hỏi liệu có ai nhận ra được rằng tôi đã bắn con voi chỉ để khỏi bị coi là thằng ngốc.

 


Dịch theo bản tiếng Anh “Shooting An Elephant”, in lần đầu tiên trên tạp chí văn học New Writing cuối năm 1936


[1] Ngày nay là Mawlamyine, thành phố lớn thứ tư của Miến Điện, thuộc bang Mon, cách Yangon 300 km về phía đông nam, nằm ở cửa sông Thanlwin.

[2] “British Raj”, năm 1885, đế quốc Anh sáp nhập Miến Điện vào Ấn để cai trị. Chữ Raj tiếng Hindi, ngôn ngữ chính ở Ấn, nghĩa là vương quốc.

[3] Tiếng Latin nghĩa là “vĩnh viễn”.

[4] Một tước hiệu trang trọng mà dân Ấn dùng để gọi người Âu thời thuộc địa.

[5] Người lao động, phần lớn thuộc sắc dân Telugu, ở đông nam Ấn Độ, di cư qua Miến Điện bằng đường biển để kiếm sống hồi cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.

bài đã đăng của George Orwell


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)