Trang chính » Đối Thoại, Quan Điểm Email bài này

Trả Lời Nhà Văn, Dịch Giả Đinh Từ Bích Thuý

(về phản hồi liên quan đến bài “Đọc Kiều của Trương Vĩnh Ký, nghĩ về ngôn ngữ Việt & một vài khía cạnh biến đổi ngữ âm, ngữ nghĩa trong tiếng Việt” của Bùi Vĩnh Phúc) (*)

 

the-human-condition-1935 rene magritte
René Magritte, The Human Condition (Hoàn Cảnh Con Người), 1935
Simon Spierer Collection (Geneva, Switzerland)

 

Xin cám ơn nhà văn, dịch giả Đinh Từ Bích Thuý đã có lòng quý mến và gửi những nhận xét tích cực và đáng quý về bài viết.

Về cách dùng chữ “gã” trong “hai gã” của Trương Vĩnh Ký để nói về hai chị em Kiều và Vân qua cụm từ “hai nhan sắc đẹp đẽ xinh tốt quá chừng.”, tôi nghĩ đó là cách nói của con người (đặc biệt của người Nam bộ) thời đó. Bình dân, đơn sơ, mộc mạc. Dĩ nhiên, họ cũng có thể gọi Kiều hay Vân là “cô ả”. Thậm chí là “con”, là “nó”, là “đứa”, như có những chỗ Trương Vĩnh Ký đã dùng như vậy để nói về Kiều và/hay Vân (“con đầu lòng hai đứa gáiTúy kiều vuối Túy vân…”, “Túy kiều vùng khóc lên, mẹ nghe được hỏi làm sao vậy, thì nó nói chuyện chiêm bao lại cho mẹ nó nghe.”, “Bữa ấy Túy kiều ra dạo vườn hoa chơi dưới gốc cây đào, anh ta nghe hơi córa, thì chạy ra, trèo vách dòm vô. Con kia nghe động đã tuốt vô đóng cửa lại rồi.”). Lối nói, cách dùng từ như thế cho thấy phong cách giản dị, xuề xoà, không câu nệ, gò bó, hay không chải chuốt gì của người miền Nam giai đoạn ấy. Trong bài, tôi cũng đã phần nào so sánh cách dùng đó với cách dùng những từ như va, y, cậu, hắn mà người Việt đã dùng, thậm chí dùng cho đến bây giờ nơi một số người hay một số vùng miền.

Nhưng, điều đáng nói, và tôi đã có dịp trình bày trong bài, là trong chữ Nôm, chữ 妸 được dùng để chỉ cả hai chữ “ả” và “gã”. Có nghĩa là người ta có thể phiên âm chữ 妸 thành “ả” hay “gã”. (Xem Từ điển Viện Hán Nôm). Và chữ “gã”, như thế, vào thời đó, theo cách phiên âm của Trương Vĩnh Ký, là một đại từ ngôi thứ ba số ít, trung tính, có thể dùng để chỉ cả nam và nữ. Chỉ đến sau này, nó mới biến nghĩa đi để chỉ một người đàn ông nào đó với ý xem thường. Trương Vĩnh Ký đã phiên âm và dùng chữ trong chu cảnh văn hoá của giai đoạn ấy.

Về Thomas Jefferson và bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Nước Mỹ: Đúng là Jefferson đã đưa ra những ý/lý tưởng đẹp và quan trọng (“tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng”, “những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm”, “quyền được Sống, được Tự Do và mưu cầu Hạnh Phúc”) từ ảnh hưởng của John Locke, một triết gia Anh, với bản Second Treatise of Government của Locke được viết vào năm 1689 vào thời điểm cuộc Cách Mạng Vinh Quang (Glorious Revolution) của Anh quốc, lật đổ triều đại của James II. Các đại biểu Mỹ lúc ấy đã sửa đổi chút ít bản nháp Tuyên Ngôn của Jefferson, nhưng cũng cắt bỏ khoảng 25 phần trăm phần cuối, ở đó Jefferson đã đề nghị bãi bỏ chế độ nô lệ và việc buôn nô lệ (slave trade), đồng thời lên án vua Anh vì tiếp tục cho phép việc buôn nô lệ. Sau này, Jefferson đã than thở là văn bản Tuyên Ngôn Độc Lập do ông soạn bị các đại biểu “ngoạm” và “cắn xé tả tơi”.

Ngay từ thời tuổi trẻ, Jefferson đã cho rằng chế độ nô lệ là không đúng. Và ông đã được đánh giá tốt cho việc tìm cách lên án chế độ nô lệ, hay ít nhất là việc buôn nô lệ, trong bản Tuyên Ngôn mà ông soạn. Ông tin, như triết gia Tô-cách-lan Francis Hutcheson, rằng tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng về mặt đạo đức (morally equal), và rằng Tạo hoá không sinh ra “chủ” hay “nô”. Vấn đề khó giải thích được là ông vẫn giữ lại đa số nô lệ của mình cho đến hết đời. Có vẻ là Jefferson chống đối chế độ nô lệ trên mặt nguyên tắc, nhưng ông không thấy một cách nào rõ rệt để chấm dứt nó một cách ổn thoả một khi nó đã được thiết định. Nếu chế độ nô lệ được xoá bỏ toàn bộ ngay lập tức, ông sợ là thành kiến của người da trắng và nỗi cay đắng của người da đen sẽ đẩy quốc gia vào một trận chiến mang tính tàn sát, huỷ diệt, mà, rốt cục, người da trắng sẽ thắng. Ông sợ rằng nếu người da đen được giải phóng, họ sẽ không có chỗ nào để đi và không có phương tiện gì để có thể tự tồn tại, sống còn. Chưa kể là chính Jefferson và các chủ đồn điền miền Nam cũng vẫn còn dựa vào sức người nô lệ về mặt kinh tế. Câu “All men are created equal”, thật sự, chỉ là một ước vọng, một khát vọng, một hướng về, hướng tới. Nhiều phần chính khát vọng đó đã đưa đến cuộc Nội Chiến Nam-Mỹ, xoá bỏ chế độ nô lệ, và sau đó cho đến bây giờ, tiếp tục kích thích người da đen (và cả người phụ nữ Mỹ cũng như những người gốc thiểu số) tranh đấu cho những quyền mà họ thấy cần phải có cho họ.

Tóm lại, tôi nghĩ, trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Mỹ, chữ “mọi người” (“all men”) trong câu “mọi người sinh ra đều bình đẳng”, một cách lý tưởng, được hiểu là bao gồm tất cả nam và nữ, da đen cũng như da trắng, v.v., trong khát vọng, mong ước, và hướng tới của nó, của xã hội, đất nước Mỹ. [ Chữ “man”/”men” này có gốc Proto-Indo-European (PIE) là *man, sang Proto-Germanic là *mannaz hay *manwaz, sang Old English là “mann”, “man”, để chỉ chung con người, nam cũng như nữ. Chữ “homme”/”hommes” hiện tại của Pháp cũng vậy. Từ PIE *ǵʰmṓ , sang Proto-Italic *hemō, sang Old Latin hemō, sang Latin homō, hominem, sang Old French home, hom, hume, homme, sang Middle French homme , đều chỉ chung con người, bất luận nam nữ ]. Bản Tuyên Ngôn, dù sao, không phải là một phần của một văn kiện căn bản mang tính pháp lý của nước Mỹ, như bản Hiến Pháp (the Constitution) hay bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền (the Bill of Rights). Chữ nghĩa của nó, dù sao, phản ánh những lý tưởng của nước Mỹ. Và, thật sự, giữa “hiện thực thô nhám” và ước mơ, khát vọng, luôn có một khoảng cách để con người nỗ lực hướng tới.

Ngôn ngữ được phát biểu trong những chu cảnh văn hoá và xã hội, và trong những nỗ lực riêng của con người. Từ đó, nó có thể có những chỗ vênh khi so với thực tại, hoặc khi được xét trong những hệ quy chiếu khác nhau về không gian hay thời gian. Điều đó, một mặt, là do “hoàn cảnh sống của con người” (“human conditions”); mặt khác, nó cũng thúc đẩy con người tiếp tục điều chỉnh hướng sống, điều kiện sống của mình để mỗi ngày mỗi sống xứng đáng hơn, “thật” hơn, “đúng” hơn, trong khát vọng của con người nói chung.

Một lần nữa, cám ơn sự quý mến và những chia sẻ đáng quý của nhà văn, dịch giả Đinh Từ Bích Thuý.

Trân trọng,

Bùi Vĩnh Phúc

12/30/18

(*) Xem bài chủ, “Đọc Kiều của Trương Vĩnh Ký, nghĩ về ngôn ngữ Việt & một vài khía cạnh biến đổi ngữ âm, ngữ nghĩa trong tiếng Việt” (kỳ 3) của BVP, và phản hồi của ĐTBT, tại https://damau.org/archives/51737 . Các phần 1, 2, và 4, đọc tại https://damau.org/archives/51698 , https://damau.org/archives/51705 , và https://damau.org/archives/51752 .

 

bài đã đăng của Bùi Vĩnh Phúc


1 bình luận »

  • black raccoon viết:

    ả, gã, y, va, mầy, tao, mi, tớ …

    Theo tôi, những nhân xưng đại danh từ trên không phân biệt nam nữ hay sang tiện khinh trọng. Tùy. Ngay trong thời đại hiện tại cũng vậy.

    Mình về mình nhớ ta chăng
    ta về ta nhớ hàm răng ai cười
    (Ca dao)

    Bó thân về với triều đình
    hàng thần lơ láo phận mình ra sao
    (Kiều)

    Chữ mình dùng khá là hay trong tiếng Việt từ xưa. Ở trong Nam, tiếng mình dùng giữa đôi vợ chồng trẻ hoặc trung niên rất thân mật và tình tứ.

    Nhưng mà, cũng tiếng mình đó, có khi dùng không hay lắm. Nhà văn Vũ Khắc Khoan đã tỏ ra khó chịu khi nghe một người đàn ông đứng tuổi xưng mình mình cậu cậu với ông. Tôi cũng thấy vậy. Và không rõ tại sao. Có lẽ tiếng “mình” xưng giữa vợ chồng hoặc tự xưng với chính mình thì hay.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)