Trang chính » Diễn từ, Giới thiệu tác giả, Giới thiệu tác phẩm, Nghiên Cứu, Nhận Định Email bài này

Đọc Kiều của Trương Vĩnh Ký, nghĩ về ngôn ngữ Việt & một vài khía cạnh biến đổi ngữ âm, ngữ nghĩa trong tiếng Việt (kỳ 2)

 

Kimvankieu
Tranh sơn mài minh họa truyện Kiều của họa sĩ Lê Phổ

.3.

Sau đây, chúng ta thử đi vào ngôn ngữ Truyện Kiều của Trương Vĩnh Ký.

Tóm tắt truyện trước khi đi vào phần phiên âm và chú giải, Trương Vĩnh Ký có phần lời nói đầu (Avant-Propos) viết bằng tiếng Pháp để giới thiệu cuốn sách. Tôi tạm dịch:

“Thơ mà chúng tôi in ra bằng quốc ngữ ở đây là thơ mà tất cả người An Nam đều thuộc nằm lòng trên đầu môi chót lưỡi, đàn ông cũng như là đàn bà, con trai cũng như con gái. Thơ này được tất cả mọi người đều yêu thích và thưởng thức, đối với người biết chữ cũng như với người không biết, kể cả phụ nữ, vì thơ này mang một nền tảng đạo đức được định nghĩa rất khéo, được diễn tả trong mọi liên hệ, thích hợp với mọi hoàn cảnh trong cuộc sống con người. Khi buồn đau, thơ đem lại những niềm an ủi; khi gặp điều may lành, đúng ước nguyện, ta thấy trong thơ hình ảnh hạnh phúc của ta được diễn tả bằng những mầu sắc tươi tắn…

Có nhiều những câu thành ngữ, ngạn ngữ, những lời hay ý đẹp, những nguyên tắc mang tính phổ quát hay đặc thù trong cuộc sống xã hội được trình bày rất rõ ràng, mạch lạc trong thơ. Người ta thấy trong thơ một bức họa tuyệt vời của cuộc bể dâu, thăng trầm thế sự, những uẩn khúc quanh co như một mê đồ của kiếp nhân sinh. (…)” (4)

Trong phần trình bày về tích truyện, Trương Vĩnh Ký dùng tiếng “An Nam ròng”, là lời ăn tiếng nói của con người Nam bộ trong cuộc sống lúc ấy. Chẳng hạn như:

“Đời Gia tĩnh nhà Minh, có họ Vương làm quan viên ngoại, sinh được ba đứa con, con út trai là Vương quan, con đầu lòng hai đứa gáiTúy kiều vuối Túy vân, hai gã nhan sắc đẹp đẽ xinh tốt quá chừng, lại thêm học hành thông minh, lịch sự đủ đều, cầm, kì, thi, họa chẳng thua ai.

Lúc ấy nhằm tiết tháng ba, người ta hay đi tảo mộ. Ba chị em mới rủ nhau đi chơi xuân, đi qua khỏi suối, Túy kiều thấy cái mồ con Đạm tiên, không ai giẫy cỏ, không ai viếng thăm, thì nghĩ lại cái điều hồng nhan bạc phận mà khóc, hồn Đạm tiên về hòa thơ vuối Túy kiều. Vừa chiều tối, ba chị em dắc nhau ra về, gặp Kim trọng là bạn học với Vương quan, chào hỏi chuyện văn, hai chị em lạ khép nép giấu mặt.

Về nhà Túy kiều đêm nằm trằn trọc, chiêm bao thấy Đạm tiên về nói chuyện về nỗi đoạn trường đến sau. Túy kiều vùng khóc lên, mẹ nghe được hỏi làm sao vậy, thì nó nói chuyện chiêm bao lại cho mẹ nó nghe. Thì mẹ nó la biểu nó đừng có tin chiêm bao mộng mị, có thật vào đâu. (…)

Bữa ấy Túy kiều ra dạo vườn hoa chơi dưới gốc cây đào, anh ta nghe hơi có nó ra, thì chạy ra, trèo vách dòm vô. Con kia nghe động đã tuốt vô đóng cửa lại rồi. Ngó quanh ngó quất thấy cây trâm giắt nơi nhánh đào, liền với tay lấy trâm cầm về. Sáng ngày ra Túy kiều dậy chải-gở biết mất trâm mới ra mới kiếm. (…)

Cách ít bữa tới ngày ăn lễ sanh nhựt ông ngoại Túy kiều, cả hai ông bà và hai em Túy kiều đều đi, để chị va ở nhà coi nhà. Chị ta ở nhà một mình thong thả, đeo đồ vào đánh áo đánh quần, đóng cửa, ra phía sau, tuốt qua nhà Kim trọng. Leo qua gặp Kim trọng dắc vào nhà, ở đó trò chuyện, làm thơ, làm phú, đánh đờn đánh địch, thề nguyền với nhau cho một ngày một đêm; khuya lại Kim trọng muốn xáp việc, mà va không cho. Sáng ra từ giã trở về, Kim trọng được thơ nói chú chết, nên lo về chịu tang. (…) (Phần in đậm do tôi nhấn mạnh- BVP)

++Trước khi phân tích một vài lối dùng từ cổ, cũng như cách diễn tả theo lối “An Nam ròng”, phản ánh lời ăn tiếng nói của người dân thời ấy, mà Trương Vĩnh Ký đã ghi lại, ta hãy xét cách chuyển tên của Thuý Kiều và Thuý Vân của TVK ở đây.

Đầu lòng hai ả Tố-nga
Tuý-kiều là chị, em là Tuý-vân

Tại sao lại là “Tuý” mà không phải là “Thuý”?

Trước khi xét phần ngữ âm, ta thử xét phần ngữ nghĩa. Nếu xét “Thuý Kiều”, “Thuý Vân” như một tên riêng, ta có thể quan tâm hoặc không quan tâm đến ý nghĩa của chúng. Nếu quan tâm, nhiều tên của người trong ngôn ngữ Việt có những ý nghĩa rất hay. Tôi có những người học trò/sinh viên có tên rất hay và ý nghĩa. Chẳng hạn như “Tường Vân” (Mây lành), hay “Cát Nguyện” (Lời ước nguyện tốt lành), “Vân Dung” (có thể nghĩ là “dung nhan của mây”, một hình ảnh đẹp và lạ; thật ra, tên được lấy từ câu thơ “Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung” của Lý Bạch, kết hợp chữ đầu và chữ cuối của câu thơ, theo lời kể của người học trò mà tôi biết bố mẹ ông bà là những người tài giỏi về văn học nghệ thuật và âm nhạc). Miền Nam trước 1975 có một nhà biên khảo, lấy bút hiệu là Thạch Trung Giả (“giả” theo nghĩa là “người”, như “học giả”, “biện giả”, v.v.). Vậy tên ấy có nghĩa là “Người ở trong đá”. Nó làm ta nghĩ đến cụm từ “Ngọc trong đá” (“thạch trung ngọc”. Thật sự, Thạch Trung Ngọc cũng là tên một nhân vật, anh em với Thạch Phá Thiên, trong truyện “Hiệp Khách Hành” của Kim Dung). Có thể nhà biên khảo có ý xem như mình vẫn đang “ở ẩn” trong một tảng đá còn thô, góc cạnh và xù xì, chưa được người đời biết đến (?) Trở lại chữ “Vân”, Phật Giáo hay dùng từ “vân tập” , rất hay và đầy ý nghĩa. Nó mang ý “nhóm lại, tụ lại, đông như mây”, như trong câu “Kính mời quý Phật Tử, quý đạo hữu và mọi người hoan hỉ vân tập về chùa”. Tôi cũng thích từ “vân hà” , nghĩa là “mây trắng và ráng đỏ” (Từ điển Đào Duy Anh), hay “mây có màu sắc đỏ đẹp” (Từ điển Nguyễn Quốc Hùng).

Vậy thì, nếu xét về mặt ý nghĩa, Thuý Kiều 翠翹,theo Hán-Việt Từ Điển của Đào Duy Anh, ngoài nghĩa là tên nhân vật chính trong truyện Kim Vân Kiều, còn có nghĩa là món đồ trang sức trên đầu người phụ nữ Tàu xưa. Từ đó, tôi nghĩ, “Thuý Kiều”, với biện pháp hoán dụ, có thể có nghĩa là một người nữ đẹp. Và, thật sự, chữ “Kiều” 翹, trong văn cảnh mà chúng ta đang khảo sát, ngoài việc để chỉ cô Kiều trong truyện, cũng có nghĩa là một người con gái đẹp. Chữ “Thuý” 翠, ngoài việc chỉ tên hai nàng Thuý trong truyện Kiều, có nghĩa chính là màu biếc (như trong từ “thuý lục”). “Thuý Vân” có thể là một áng mây xanh, đẹp; suy rộng ra, chỉ sự thướt tha, xinh đẹp, dịu dàng. Ngoài ra, còn có từ “Thuý vân thảo” là một thứ cây rêu, lá như vẩy cá, được người ta trồng làm cảnh.

Còn “Tuý Kiều”, “Tuý Vân”, nếu giả dụ “Tuý” được viết là 粹, với bộ mễ 米, thì nó có nghĩa là nàng Kiều, nàng Vân, trong trắng (vì “tuý” ở đây có nghĩa là “nguyên chất”, như trong “tuý bạch”/trắng phau; hay “nguyên không pha”, như trong “tuý nhi bất nhiễm”; là phần tốt nhất, như trong “tinh tuý”). Còn nếu “Tuý” được viết là 醉, với bộ dậu 酉, nó sẽ liên hệ đến “say”. Như “lạn tuý” là say khướt, “tuý quỷ” hay “tuý hán” là bợm nhậu, “tuý tâm” là say sưa với công việc (Lm Anthony Trần Văn Kiệm). Vũ Khắc Khoan có tập sách “Mơ Hương Cảng” mà ông gọi là “tuý bút” (tức là “viết trong cơn say”, hay “viết một cách say sưa” ?). “Tuý nguyệt” là ngồi đối trăng mà uống rượu cho say (Đào Duy Anh). Như thế, “Tuý Kiều”, “Tuý Vân” có thể có nghĩa là nàng Kiều (hay nàng Vân) làm cho say lòng người.

Từ nãy đến giờ, ta đã thử bàn đến ý nghĩa có thể có của tên hai nàng Kiều và Vân, với các phiên âm “Thuý” và “Tuý”. Nhưng, thật sự, Nguyễn Du trong bản Nôm truyện Kiều của mình, đã lấy nguyên chữ Hán để viết tên hai nàng. Là 翠翹 và 翠雲. Tại xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc, cách kinh thành Huế khoảng 40 m về phía Đông, có Tuý Vân Sơn, hình dáng tựa như một con chim phượng hoàng đang cất cánh bay, theo như mô tả mang tính địa lý-lịch sử về địa danh này. Ở đây có chùa Tuý Vân, đặt theo tên của ngọn núi. Thật sự tên nó được viết theo chữ Hán là “Thuý Vân”, nhưng dân chúng ở đây vẫn hay gọi là chùa Tuý Vânnúi Tuý Vân. Họ gọi đó là Chùa Mây Say và Núi Mây Say. Có lẽ nên hiểu là người từ dưới nhìn lên, thấy mây bay đẹp quá làm cho chếnh choáng, say sưa, nên đã gọi là Tuý Vân. Mây bay đầy trời, lồng lộng trên núi, làm cho say sưa kẻ ngắm nhìn. Như định nghĩa của “Tuý nguyệt” là ngồi đối trăng mà uống rượu cho say, như đã nói.

Nhưng, trong chèo cổ, ta còn có một vở chèo nổi tiếng, với nhân vật nữ chính là Xuý Vân (có khi được viết là Suý Vân) [từ sự biến âm s > x (như trong chữ Hán “sơ” 初 > chữ Nôm “xưa” 𠸗)] . Ta sẽ còn có dịp nói về sự biến âm này ở một đoạn sau. Ta có từ “cổ xuý”. Trong từ này thì “cổ” là cái trống, còn “xuý” (từ chữ “xuy”) có nghĩa là thổi. Như thế, “cổ xuý”, tiếng Hán Việt, có nghĩa là “đánh trống và thổi sáo (nghĩa bóng là vận động, hô hào cho một việc gì). Chèo Xuý Vân mà có trống với sáo như thế thì có lẽ cũng thích hợp?

Nhưng, cũng có thể hỏi: Xuý/Suý Vân (5) có phải từ Thuý Vân mà ra hay không?

Tất cả những đoạn bàn về ý nghĩa của Thuý Kiều, Thuý Vân ở trên chỉ là để thử tìm hiểu những ý nghĩa có thể có về tên nhân vật, nếu thật sự chúng ta muốn tìm hiểu ý nghĩa của những tên riêng ấy. Dù sao, tôi nghĩ, tất cả Thuý Kiều, Tuý Kiều, hay Thuý Vân, Tuý Vân, rồi Xuý/Suý Vân đều chỉ là do vấn đề biến âm mà ra.

Trong hệ thống ngữ âm Việt thế kỷ XVII, ta có những tổ phụ âm đầu mà chữ Việt hiện đại không còn dùng, như bl-, pl-, ml-, tl- , v.v… Đây là những phụ âm kép được ghi nhận rõ ràng trong Từ điển Annam-Lusitan-Latinh (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum), còn gọi là Từ điển Việt-Bồ-La, do giáo sĩ Alexandre de Rhodes soạn, góp phần định chế chữ Quốc ngữ. Những tổ hợp phụ âm đầu này, qua dòng lịch sử, đã biến đổi để cho ta những phụ âm đơn như chúng ta hiện có trong tiếng Việt. Chúng đã trải qua một quá trình biến đổi ngữ âm.

Trong tiếng Việt, ta có một tập hợp các loạt từ sau đây, mang ý nghĩa gần gũi, hoặc rõ ràng là có liên hệ về mặt ý nghĩa với nhau, cho dù chúng có thể mang những sắc thái có thể được biện biệt, phân tích trong những ngữ cảnh khác biệt. Chúng có liên hệ với nhau về ngữ nghĩa và về mặt ngữ âm lịch sử. Ta hãy xét tập hợp này: lòi, tòi, thòi, tròi, thòi lòi. Và tập hợp này: thụt, tụt, sụt, trụt, rụt. Ngoài ra, ta còn có cặp đôi thiến / xén. Những loạt từ, hay những cặp đôi như thế, cho ta thấy chắc chắn có một sự biến đổi về mặt ngữ âm.

Về loạt thụt, tụt, sụt, trụt, rụt, nhà nghiên cứu Vũ Đức Nghiệu giải thích: “Trong Từ điển Annam-Lusitan-Latinh không ghi nhận hình thái * tlụt, nhưng các hình thái trụt, rụt, sụt, tụt, thụt gợi ý cho chúng ta khôi phục hình thái gốc * tlụt và hình dung sự biến đổi ngữ âm dẫn đến hình thành nên chúng như sau: * tl- của * tlụt biến đổi thành / ƫ / cho ta trụt. * tl- cũng có thể rụng l- cho ta hình thái tụt. Âm đầu t- ở tụt có thể bật hơi hóa thành / tʻ/ và cho ta thụt. Âm đầu / ƫ / của trụt có thể biến chuyển sang / ȿ / theo kiểu của (gà) trống – (gà) sống, (con) tráo – (con) sáo, (cái) trẹo – (cái) sẹo, trượt – sượt … cho ta hình thái sụt. Đến lượt mình, / ȿ / của sụt có thể biến chuyển sang / r / theo kiểu của sờ – rờ, sầu – rầu … và cho ta hình thái rụt.” (Biến đổi ngữ âm lịch sử với việc tạo từ tiếng Việt, VĐN, 2016).

Ngoài ra, ngữ liệu văn học thời sơ khai của chữ Quốc ngữ cho biết là vào ngày 13 tháng 7, 1626, trong một lá thư của linh mục Francesco Buzomi gửi cho linh mục Mutio Vitelleschi, cách ghi âm bằng Quốc ngữ của từ “Thượng Đế” là “Xán tí’. Ngoài ra, từ “Thiên chúa” (hay “Thiên chủ) được ghi là “Thiên chu”. Như thế, có nghĩa là, vào thời đó, có thể thấy là hệ thống ngữ âm tiếng Việt vẫn đang trên đường biến đổi. Ở đây, ta thấy, có chỗ phụ âm kép th- được ký âm x- (Thượng Đế / Xán tí); nhưng lại có chỗ nó được ký âm là th- (Thiên chu / Thiên chũ = Thiên chúa). Ngoài ra, trong cặp đôi thiến / xén đã nói tới ở trên, ta cũng có một sự biến âm từ th- sang x- .

Qua những phân tích và ngữ liệu vừa trình bày, ta có thể thấy từ “Thuý Kiều” có thể được ký âm đúng như thế, với âm th- cho “Thuý”. Do việc biến âm, nó cũng có thể được ký âm là t- , để thành “Tuý”. Một bản Kiều bằng Quốc ngữ khác, do Phạm Kim Chi, cũng là một dịch giả người miền Nam, phiên âm và chú giải, được đặt tựa đề là “Kim Tuý Tình Từ”. Chuyện tình của Kim Trọng và Tuý Kiều. Ở đây, như trong cách phiên âm của Trương Vĩnh Ký, “Thuý” cũng được chuyển thành “Tuý”. Sự biến âm lại có thể đưa đến việc ký âm x- / s- cho “Thuý” để thành “Xuý/Suý”. Hoặc, có khi, mọi thứ đi theo chiều ngược lại. Đầu tiên, “Thuý” được đọc là “Xuý” (theo cách Xán-tí = Thượng Đế); sau đó, âm /s/ (⟨x⟩) của “Xuý”được chuyển thành /t/ , “Xuý” thành “Tuý”; rồi âm /t/ bật hơi để thành / tʻ/ , “Tuý” thành “Thuý”. Thật sự, từ “Tuý”, là “say”, viết với bộ dậu, theo từ điển chữ Nôm của Trần Văn Kiệm, ngoài âm “tuý”, còn được phát âm là “suý”.

Đó là con đường ngoắt ngoéo của biến đổi ngữ âm. Chỉ qua một tiến trình phục dựng âm, hoặc phân tích con đường đi của âm, người ta mới có thể tìm ra và xây dựng được những quy tắc biến đổi ngữ âm. Sự biến đổi đó mang tính lịch sử.

(Còn tiếp)

_________________________

Chú thích:

(4) Xem phần Avant-Propos của Trương Vĩnh Ký ở đầu quyển sách. Xin ghi lại đoạn đầu: “Le poème que nous publions en quốc ngữ, est celui qui est dans la bouche de tous les Annamites, hommes comme femmes, garçons comme filles. Il est le plus estimé, le plus goûté des lettrés, des illettrés et même des femmes, à cause de la morale qu’il renferme, si bien expliquée, si heureusement présentée sous tous les rapports, si justement appropriée à toutes les circonstances de la vie humaine. (…)”

(5) Âm x, ký âm là / s / được gọi là âm xát xuýt chân răng, vô thanh, và âm s, ký âm / ʂ /, được gọi là âm xát quặt lưỡi, vô thanh. Theo Nguyễn Tài Cẩn (“Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo)”. Nhà xuất bản Giáo dục, 1995), “trong phương ngữ miền Bắc s- đồng âm với x-, cả hai đều được phát âm là /s/.” Âm /ʂ/ đang dần biến mất khỏi phương ngữ miền Nam. Ngày càng có nhiều người nói phương ngữ miền Nam phát âm sx giống nhau, cả hai đều được phát âm là /s/ giống như phương ngữ miền Bắc.

bài đã đăng của Bùi Vĩnh Phúc


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)