Trang chính » Biên Khảo, Học Thuật, Nghiên Cứu Email bài này

Lý Thuyết Sáng Tác Siêu Nhận Thức

0 bình luận ♦ 13.12.2018

 

metacognition

 

Khả năng học: nhận thức và tu tập, là khả năng đặc biệt của con người. Học tạo ra tri thức. Tri thức là một hoạt động trí tuệ rất phức tạp, có thể nói bao gồm kiến thức và kinh ngiệm về áp dụng kiến thức.

Kiến thức được tạo ra từ kinh nghiệm cá nhân và những điều này không bảo đảm gần gũi “sự thật”, nhưng một lúc nào đó, con người có thể biết được những sai lầm. Khi chia sẻ những kiến thức thông qua văn bản, Graham Badley đề nghị, “Chúng ta không thể diễn tả thực tế, thế giới, một cách chính xác. Chúng ta chỉ có thể trình bày những mô tả tự tạo và hy vọng những mô tả này xác thực và hữu ích.” (Badley, G. 2009. Academic Writing as Shaping and Re-shaping. Teaching in Higher Education, 14(2). Trang 210.)

Edward W. Taylor lập luận rằng, “Tất cả mọi người, trong bản năng, ai cũng có một động lực để tạo ra ý nghĩa trong cuộc sống hàng ngày [mặc dù] bởi không có sự thật vĩnh viễn và sự thay đổi vẫn tiếp tục, chúng ta không thể luôn luôn bảo đảm những gì chúng ta đã biết hoặc tin tưởng.” (Transformational learning theory. New Directions for Adult and Continuing Education. Wiley Periodicals, trang 5.) Tóm lại, kiến thức không hoàn toàn chính xác dẫn đến tri thức không chắc chắn, luôn luôn trong tình trạng khả thể sai lầm. Tuy nhiên, cho đến nay, con người chưa có thứ gì khác để thay thế kiến thức. Nhận thức là khả năng nội tại tạo ra kiến thức, vì vậy, muốn tiếp cận sự thật của kiến thức, khả năng nhận thức phải nhạy bén và sâu sắc. Metacognition, siêu nhận thức, là một khía cạnh đặc biệt và quan trọng bên cạnh khả năng nhận thức.

Định Nghĩa và Chức Năng Siêu Nhận Thức

John Flavell lần đầu trình bày thuyết Siêu Nhận Thức năm 1970. Ông định nghĩa Siêu Nhận Thức như sự hiểu biết tập trung vào hoặc điều chỉnh bất cứ phần nào trong hoạt động nhận thức và xác định hai khía cạnh tổng quát của siêu nhận thức: kiến thức và kinh nghiệm. Về sự phát triển của nhận thức, Flavell (1985) xác nhận cơ sở hiểu biết siêu nhận thức xây dựng trên những gì chúng ta học hỏi qua kinh nghiệm về những hoạt động của nhận thức. Sự hiểu biết siêu nhận thức bao gồm ba biến số kiến thức riêng biệt mang tính tương tác: Kiến thức của một người, kiến thức về công việc (sáng tác), và kiến thức về phương lược (phương pháp và chiến lược).

National Research Council năm 2000 định nghĩa Siêu Nhận Thức là khả năng giám sát mức độ hiểu biết và quyết định khi nào không thỏa đáng, (trang 47.) Năm 2011, National Research Council định nghĩa thêm, Siêu Nhận Thức là khả năng phản ứng của một người về suy nghĩ của mình, cũng như về bản thân và quá trình văn hóa dùng để tạo thành sự hiểu biết (trang 5.)

Học giả Raffaella Negretti định nghĩa Siêu nhận thức là “suy nghĩ về suy nghĩ và cho phép người học hỏi tự điều chỉnh việc học để đạt được mục tiêu mong muốn.” Theo K.S. Kitchener, Siêu nhận thức gồm có ba phần:

1- Hiểu biết về bản thân và những người khác là bộ phận xử lý của nhận thức khi tham dự vào nhiệm vụ hoặc mục đích nào đó.

2- Hiểu biết về những sự việc nhận thức cụ thể hoặc về các vấn đề của những sự việc đó.

3- Kinh nghiệm siêu nhận thức là cảm giác kỳ diệu hoặc khó hiểu dẫn đến các phương cách tái định giá. Cảm giác kỳ diệu đưa đến giải quyết vấn đề và xác định lại giá trị. Trong khi “khó hiểu” hoặc “mù mờ” gây ra nỗ lực tìm hiểu vấn đề sâu rộng hơn tiếp cận sự thỏa mãn.

Từ phương diện lý thuyết, A.L.Wenden trong tác phẩm Metacognitive Knowledge and Language Learning. Applied Linguistics, (1998) đã tóm lược các đặc tính Siêu Nhận Thức như:

1- một phần kiến thức trong kho tồn trữ của một người,

2- tương đối ổn định có thể đánh giá,

3- phát triển sớm,

4- một hệ thống liên quan đến ý tưởng,

5- một biểu trưng trừu tượng của kinh nghiệm.

Nói đến kiến thức là đề cập việc xác định và nhận thức về phương cách, khái niệm liên quan đến một sự việc cụ thể và xác định những gì cần áp dụng. Kiến thức phải được giải thích và định nghĩa bởi nhận thức theo chiều hướng cá nhân. Quá trình này gia tăng sự hiểu biết và cập nhật kinh nghiệm theo sự hiểu biết. Gist và Mitchell trong Self-efficacy: A Theory Analysis of its Determinants and Malleability. Academy of Management Review of Education, (1992) cho rằng khả năng tự hiệu quả [gia tăng, phát triển nội lực] là một cấu trúc năng động thay đổi theo thời gian và quy vào khả năng cụ thể cho công việc. Đây là “một cấu trúc động cơ quan trọng vì ảnh hưởng đến sự chọn lựa cá nhân, mục tiêu, phản ứng càm xúc, nỗ lực, đối phó, và kiên trì.” (trang 186)

Trong việc tự đánh giá khả năng sáng tác, phần chính là nỗ lực xác định điểm mạnh và điểm yếu của bản thân, tìm thấy ưu khuyết điểm của văn bản, để tổ chức kiến thức và phương cách phù hợp dọc theo diễn tiến của sáng tác. Cấu trúc chi tiết cho văn bản đòi hỏi suy nghĩ trên dữ kiện do nhận thức phân tích giải mã đưa đến. Raffaella Negretti lập luận, có sẵn một bài trình bày trong tinh thần trước khi viết văn bản là một điều kiện xây dựng sự thành công. “Một sự việc được trình bày sẵn trong tinh thần sẽ tác dụng đến năng lực siêu nhận thức trong sáng tác: Siêu nhận thức nhận biết làm cách nào để ứng dụng những phương cách nhằm đạt đến những mục tiêu tu từ và khả năng giám sát, đánh giá sự thành công của văn bản.” (Negretti. 2012. Metacognition in Student Academic Writing: A Longitudinal Study of Metacognitive Awareness and its Relation to Task Perception, Self Regulation, and Evaluation of Performance, Written Communication, 29 (2), trang 146.)

Trong bài viết Metacognitive Regulation of Writing in Classroom, Metalinguistic Activity in Learning to Write, trang 145-166, Linda Allal phân định, những quy tắc siêu nhận thức có liên quan đến ba hoạt động: dự đoán, theo dõi và điều chỉnh. Dự đoán liên quan đến văn bản tương lai. Người viết đã có trước một sơ đồ, đã định hướng mục tiêu. Tiếp theo, họ có thể theo dõi những phương cách, nghệ thuật, kỹ thuật được sử dụng theo tiến trình và điều chỉnh sự khác biệt giữa văn bản dự đoán và văn bản đang thể hiện. Sự giám sát hiệu quả trên mức độ xây dựng văn bản phụ thuộc vào siêu nhận thức về các phương cách để thực hiện. Biết làm thế nào và hiểu rõ phải làm gì là tác dụng của siêu nhận thức đưa đến quyết định thi hành văn bản.

Hiểu Biết Siêu Nhận Thức Trong Sáng Tác

Ba tác giả Claudio Diaz Larenas, Lucia Ramos Leiva, và Mabel Ortiz Navarrete qua tiểu luận Rhetorical, Metacognitive, and Cognitive Strategies in Teacher Candidates’ Essay Writing (tcml) xác định ba phương lược trong quá trình sáng tác:

1- Phương lược tu từ (Rhetorical Strategies).

Phương pháp và sách lược người viết dùng tổ chức để trình bày ý tưởng một cách hoàn bị nhất theo ý họ. Bao gồm sơ thảo cấu trúc, sử dụng ngôn ngữ diễn tả, nỗ lực đạt mục tiêu trình bày cho người đọc một văn bản có thể chấp thuận.

2- Phương lược siêu nhận thức (Metacognitive Strategies).

Phương pháp và sách lược đề cập đến các kỹ năng và kiến thức toàn cầu về nhận thức để giúp cho người học nâng cao khả năng nhận thức của bản thân, hướng dẫn sự học hỏi và tiến bộ của chính họ.

3- Phương lược nhận thức. (Cognitive Strategies).

Phương pháp và sách lược cho phép người sử dụng biến đổi, tạo thông tin để hỗ trợ cho họ thực hiện những công việc (tác phẩm) phức tạp, sử dụng ngôn ngữ hiệu quả và tích cực trong quá trình tiếp nhận sự hiểu biết. Theo định nghĩa của Oxford, phương lược nhận thức quy vào tổ chức thông tin, phân tích, tóm tắt, và bao gồm việc sử dụng từ điển.

A. Díaz Rodríguez, trong tác phẩm Retrica de la escritura acadmica: Pensamiento crtico y discursivo [Academic writing rhetoric: critical and discursive thought]. 2014. Medellín, co: Universidad de Antioquia, xác nhận phương lược nhận thức và phương lược siêu nhận thức liên kết với nhau. Phương lược trước được dùng để hỗ trợ phát triển tri thức. Phương lược sau dùng để theo dõi và kiểm soát. Trong thực hành, cả hai cùng hoạt động khi chủ thể thực hiện một công việc (tác phẩm).

Siêu Nhận Thức Và Suy Nghĩ Thấu Đáo

Nếu siêu nhận thức là suy nghĩ về suy nghĩ, thì khả năng suy nghĩ đóng vai trò chủ yếu. Suy nghĩ là gì? Tưởng chừng dễ định nghĩa nhưng khi bắt đầu nghĩ về “suy nghĩ”, quá trình suy nghĩ trở thành vô cùng phức tạp. “Suy nghĩ là gì?” chưa quan trọng và cần thiết như “Suy nghĩ thế nào?” Câu hỏi này đưa đến quan niệm Critical Thinking (Suy Nghĩ Thấu Đáo).

“Suy Nghĩ Thấu Đáo,” còn được xem là “Tư Duy Phê Phán," là khả năng suy xét rõ ràng, hợp lý về một đối tượng, sự kiện, hoặc việc làm. Hội Đồng Quốc Gia Hoa Kỳ (US National Council) định nghĩa Suy Nghĩ Thấu Đáo là quá trình xử lý kỷ luật một cách tích cực và khái niệm hóa khéo léo, áp dụng, phân tích, tổng hợp, hoặc định giá thông tin đã thu thập hoặc được tạo thành bởi quan sát, trải nghiệm, phản ứng, lý luận, thông đạt, như một hướng dẫn cho tin tưởng và hành động.

Một người có kỹ năng suy nghĩ thấu đáo có thể thực hiện những việc: 1- Hiểu biết những nối kết lý luận giữa các ý tưởng. 2- Định danh. Xây dựng và đánh giá các lý lẽ. 3- Giải quyết vấn đề một cách có hệ thống. 4- Nhận ra những ý tưởng quan trọng và thích hợp. 5- Phản ứng bằng minh chứng từ lòng tin và giá trị. Người suy nghĩ thấu đáo có thể suy ra những hậu quả từ những gì họ biết. Họ biết sử dụng thông tin để giải quyết vấn đề. Biết tìm kiếm những nguồn thông tin, tài liệu liên quan cần thiết.

Một số người cho rằng Suy Nghĩ Thấu Đáo cản trở sức sáng tạo vì suy nghĩ đòi hỏi phải tuân theo quy tắc mà sáng tạo là phá quy tắc. Đây là một khái niệm lầm lẫn. Suy Nghĩ Thấu Đáo có khả năng đưa ý tưởng vượt qua những quy tắc, những điều đã được xác định. Càng suy nghĩ sâu rộng càng có cơ hội mang đến những ý tưởng mới lạ hoặc đối nghịch với những gì đã được xem là siêu bản. Đó chẳng phải là sáng tạo hay sao?

Suy nghĩ nông cạn sẽ khiến nhận thức hời hợt và quyết định lỏng lẻo. Sáng tác không thể thiếu hiệu quả của suy nghĩ sâu sắc trong khám phá. Suy Nghĩ Thấu Đáo là điều kiện tạo chiều sâu và trọng lượng cho tác phẩm.

Nhận Thức Về Siêu Nhận Thức

Muốn biết khả năng nhận thức và siêu nhận thức của bản thân, một bài toán đơn giản có thể cho kết quả tổng quát: ghi xuống những việc đã từng dự đoán trong quá khứ. Chia làm ba loại: Chuyện lớn (quan trọng), chuyện nhỏ (tầm thường), chuyện bình thường (trung bình). Rồi tổng kết xem thử đã đoán đúng bao nhiêu phần trăm. Tổng số chuyện đoán đúng phải trên 50% để chứng minh một người có khả năng nhận thức trung bình. Người có khả năng nhận thức cao có kết quả đoán đúng chuyện nhỏ và chuyện trung bình trên 75%. Khả năng siêu nhận thức cao cho kết quả đoán đúng trên 2/3 chuyện lớn. Một nghệ sĩ lớn không những có kiến thức sâu rộng mà chính yếu là khả năng nhận thức cao và khả năng siêu nhận thức nổi bật.

Những nghiên cứu mới trong năm 2016 của Gorzelsky, Driscoll, Paszek, Jones, và Hayes qua tác phẩm Cultivating Constructive Metacognition: A New Taxonomy for Writing Studies. In Anson, C. M., & Moore, J. L. (Eds.), Critical Transitions: Writing and the Question of Transfer. University Press of Colorado: Colorado, xác định tám thành phần siêu nhận thức trong sáng tác, (trang 217-249):

1- Cá nhân: Kiến thức nhận thức.

2- Công việc (sáng tác): Kiến thức nhận thức.

3- Phương lược: Kiến thức nhận thức.

4- Kế hoạch: Những quy định của nhận thức.

5- Kiểm soát: Những quy định của nhận thức.

6- Điều chỉnh/quản lý: Những quy định của nhận thức.

7- Đánh giá: Những quy định của nhận thức.

8- Cấu trúc siêu nhận thức.

Sự nhận thức về siêu nhận thức được nghiên cứu qua những phương lược gia tăng khả năng học hỏi. Đầu tiên là giám định tu từ, những phương lược nhắm vào bề rộng và cách sử dụng ngôn ngữ cho phép tiếp cận khả năng quản lý và trình bày ý tưởng. Tiếp theo là gia tăng khả năng suy nghĩ và kiểm soát quá trình suy nghĩ. Chọn lựa những phương lược nào phù hợp với cá tính để tu tập nhận thức. Sau đó, tự điều chỉnh bản thân mỗi khi giải quyết vấn đề hoặc dàn trải ý tưởng vào văn bản. Tập phát triển khả năng trí nhớ. Sau cùng và cần thiết là hiểu rõ những khuyết điểm của nhận thức và siêu nhận thức trong môi trường cá nhân.

Trong Metacognition in Student Academic Writing: A Longitudinal Study of Metacognitive Awareness And Its Relation to Task Perception, Self-Regulation, and Evaluation Performance. Written Communication, (2012), B.M.Scott và M.G. Levy phân biệt thành hai loại: Kiến thức siêu nhận thức và kiến thức điều chỉnh siêu nhận thức. Hiểu biết quá trình tự điều chỉnh là siêu nhận thức về hiệu quả của điều chỉnh. Nói một cách khác, đây là khả năng tự giác trong khi tự điều chỉnh. Những nghiên cứu tiếp theo cho thấy: 1- Kiến thức siêu nhận thức ảnh hưởng trực tiếp sinh hoạt sáng tác. 2- Kiến thức về cơ cấu quá trình sáng tác ảnh hưởng đến giá trị và phẩm chất sáng tác.

Tự điều chỉnh là phần cơ động chính yếu trong khả năng phản ứng của nhận thức và siêu nhận thức. Phản ứng này đại diện cho một hệ thống thần kinh quan trọng dẫn đến sự nhận biết siêu nhận thức trong quá trình chuyển dịch ý tưởng vào văn bản. (Nelms & Dively. 2007. Perceived Roadblocks To Transferring Knowledge from First-Year Composition to Writing-Intensive Major Courses: A Pilot Study. WPA: Writing Program Administration, 31(1–2), trang 216.) Khả năng tự điều chỉnh mang kiến thức siêu nhận thức vào sự chọn lựa và quyết định. Trong mỗi giai đoạn khả năng điều chỉnh đưa sự chọn lựa và quyết định tiếp cận phẩm chất cao qua tiêu chuẩn siêu nhận thức.

Những nghiên cứu cập nhật vẫn chưa giải quyết được nhiều vấn đề khúc mắc, ví dụ như Negretti đưa ra: Sự độc lập giữa khả năng phản ứng liên hệ ở mức độ nào đối với những thành phần khác của siêu nhận thức hoặc nhận thức? Siêu nhận thức là một tập hợp tâm lý, hóa học, thần kinh hệ và đôi điều bí ẩn khác chưa được khám phá tường tận. Mặc dù, bộ môn nhận thức và siêu nhận thức đã được đưa vào các chương trình hướng dẫn sáng tác ở các đại học và các trường đặc biệt về văn chương, nhưng nghiên cứu vẫn tiếp tục cập nhật. Chưa thể nói rõ tận mức độ của khả năng này. Chỉ có thể tạm dùng nhận định của Giovanni Parodi làm kết luận: “Khả năng siêu nhận thức được xem là thành phần thiết yếu trong một nhà văn giỏi.” (Relations Between Reading and Writing: A Cognitive Discursive Perspective. 2003. Bản gốc ngôn ngữ Ý. Ediciones Universitarias De Valparaiso.)

Ghi chú:

Bạn đọc nào muốn tìm hiểu sâu rộng thêm về khả năng siêu nhận thức tác dụng trong đời sống và gia tăng giá trị tác phẩm, xin giới thiệu:

1- Metacognition. John Dunlosky and Janet Metcalfe, SAGE Publication Ltd. 2009. Có trên Amazon.

2- Metacognitive Learning. Advancing Learning by Developing General Knowledge of the Learning Process. Joke Van Velzen. Spinger. 2016.

___________________________

Tài Liệu Tham Khảo:

Deane, Paul, Nora Odendahl, Thomas Quinlan, Mary Fowles, Cyndi Welsh, Jennifer Bivens – Tatum. 2008. Cognitive Models of Writing: Writing Proficiency as a Complex Intergrated Skill. ETS, Princeton, NJ.

Graham, Steve and Dolores Perin, 2007, A Report to Carnegie Corporation of New York, Writing Next. Alliance for Excellent Education.

Levy, C. Michael and Sarah Ransdell. 1966. The Science of Writing, Theories, Methods, Individual Differences, and Applications. Lawrence Erbaum Associates, Publishers Mahwah, New Jersey.

MacArthur, Charles A., Steve Graham, Jill Fitzgerald, 2006, Handbook of Writing Research. The Guilford Press, New York, London.

bài đã đăng của Ngu Yên


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)