Trang chính » Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Trích đoạn tiểu thuyết Email bài này

Hàm Răng Kể Chuyện- Cuốn II Ngụ Ngôn (kỳ 2/2)


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 5.12.2018



9781566894098_custom-c6ec598549993f7ec61d3aad3da759cf0039512a-s1200-c15

 

 

Vài dòng về tác giả và tác phẩm:

Valería Luiselli là một nhà văn nữ Mễ Tây Cơ, sinh năm 1983, hiện đang sống tại Hoa Kỳ. Tác phẩm của cô đã đoạt nhiều giải thưởng quốc tế và được dịch ra hơn hai mươi thứ tiếng. Cuốn “La historia de mis dientes” (nhà xuất bản Sextopiso, Mexico, 2013) có thể được gọi là “sáu cuốn sách trong một cuốn sách”. Mỗi chương của cuốn sách được đặt tên là “Libro”, đánh số thứ tự La Mã, kèm theo một tiểu đề. Tuy có sự liên tục giữa chương này với chương kia, mỗi chương có thể được thưởng thức như một truyện ngắn riêng biệt. Cuốn II, với tiểu đề là Ngụ Ngôn, là phần được trích dịch dưới đây từ nguyên bản tiếng Tây-Ban-Nha.

(tiếp theo kỳ 1/2)

*

Cha Luigi biến mất sau vòm cửa ở hiên nhà thờ, vừa đi vừa nhổ râu mép lẫn râu cằm bằng bàn tay nằm trong tay áo lễ. Phần tôi thì ngoan ngoãn nghe lời đức cha dặn dò, như từ trước tới giờ vẫn thế. Cho đến lúc đồng hồ gõ 10 giờ 15, tôi tiếp tục kể một mình câu chuyện Cô bé choàng khăn đỏ lộn ngược, vừa đi loanh quanh trong khoảng sân rộng thưa thớt người trước nhà thờ: Ke-bố chò-khăn-đoảng, ki-đô đây-vậu? ki-đô đây-vậu? Ti-đôi đá-nhền boài-ngạ.

Trong số các giáo dân đang lục tục bước vào nhà thờ theo từng nhóm nhỏ, tôi nhận ra ngay khuôn mặt của Ratzinger: thằng nhỏ trông y hệt tôi. Từ lúc bỏ Flaca đến giờ tôi chưa gặp lại nó —mụ đàn bà ác độc đó lúc nào cũng cấm cản tôi; tôi nghĩ là để trả thù. Nhưng quả thật là lúc nào tôi cũng làm tròn bổn phận của mình: tháng tháng tôi vẫn đều đặn gởi ngân phiếu để nuôi thằng nhỏ, cho đến khi tôi tính tròn mười tám năm mới thôi gởi tiền —nuôi những hạng bất hảo chỉ tổ thêm phí phạm.

Tiếp tục liếc nhìn, tôi thấy Ratzinger đi qua cửa bước vào nhà thờ, và tôi bắt đầu cảm thấy choáng váng mặt mày. Hai bàn tay tôi lạnh toát mồ hôi, mông bụng run rẩy, tôi thấy buồn tiểu và muốn bỏ chạy ra ngoài. Chẳng lẽ sự có mặt của con trai tôi đã làm tôi hoang mang đến thế này sao? Tôi ngồi xuống thành cửa sổ và hình dung ra những người thầy của mình, thầy Oklahoma, Carlos Kenta Yushimito, và người độc nhất vô nhị, Leroy Van Dyke. Mình là người con nhà nòi mà, tôi tự nhủ và hít một hơi thật sâu. Mình lười-ngà coi-nhà-nòn mà, tôi lớn giọng nói. Tôi chính là tên Carretera độc nhất vô nhị. Raterreca! Tôi là nhà bán đấu giá tài ba nhất thế giới, tôi không phải là một người cha tệ bạc, tôi có thể bắt chước Janis Joplin ngay sau lượt đầu tiên, tôi biết cách dựng đứng một quả trứng, tôi biết nằm ngửa trên mặt nước, Oklahoma đã bán đấu giá một trái chuối; và những vị phán quan đã bán đấu giá thành La Mã. Tôi, hiển nhiên là thuộc dòng giống siêu phàm, cũng có thể bán đấu giá những cái răng quý giá của những người đầy tai tiếng. Ichi, ni, san, shi, ko, cúc-cu 2, sichi, hachi; Rồi so-đáu con chói-só đeo-thi cương-đòn ngất-nhắn đá-nhền boài-ngạ… rồi nó nết-huốt boài-ngạ vung-bộ!

*

Ở chỗ ban phép bí tích, một cậu giúp lễ cao lớn, gầy gò, hơi ngông nghênh, đang đợi tôi và tự giới thiệu mình là Emiliano Monge 3, tôi không biết cậu có nói đùa không. Cậu đưa cho tôi một bản giao kèo cho tôi ký vào. Lúc đưa xấp giấy cho tôi, cậu phân trần:

Bản này bằng tiếng Anh, xin ông thứ lỗi, nếu ông cần, cháu sẽ dịch cho ông.

Ồ, khổng minh ơi, tôi cũng biết tiếng Anh mà. Nhưng sao giấy tờ lại bằng tiếng Anh vậy?

Cháu cũng không biết, ông ạ.

Tôi ký hết từng trang giao kèo rồi ngồi nghịch với cây bút cho đến lúc cậu giúp lễ Monge lấy tay ra hiệu cho tôi bước ra.

Nhà thờ đông nghẹt người. Mùi phấn bột nồng nặc của những người già làm tôi chú ý. Lúc tiến lên bục giảng, tôi đảo mắt nhìn quanh nhà thờ, lấy tay phải che phía trên mắt để nhìn, nhưng không thấy được Ratzinger trong đám đông đang chăm chú nhìn. Phía sau bục giảng, nơi tôi ngập ngừng bước lên, đã nằm ngay ngắn bộ sưu tập răng của tôi trên một cái bàn bằng nhôm gấp lại được. Tôi quay lưng lại bộ sưu tập với một thoáng buồn rầu. Cha Luigi tiến lại bên tôi, vòng tay ôm lấy tôi và nói vào tai tôi với sự hối thúc của một giám đốc kỹ thuật: Đến lúc rồi đấy, Chileverde 4 ạ!

Tôi hít một hơi thật sâu rồi bắt đầu: Kính lạy Cha chúng con ở trên các tầng trời, kính chào tất cả giáo dân nhà thờ Santa Apolonia. Hôm nay hội thánh chúng ta cần đến hảo tâm, công sức và cam kết của quý vị, tôi nói, nhưng giọng tôi nghe như giọng vỡ vụn của một chính trị gia mà chính tôi cũng không thấy được thuyết phục tí nào cả. Tôi cố gắng điều chỉnh lại giọng nói của mình bằng cách tỏ ra nhiệt tình hơn và nở một nụ cười thật tươi, khoe hết hai hàm răng của mình với cử toạ.

Hôm nay, trước mặt chúng ta là những vật vô cùng quý giá, không những là vì chúng sẽ rất có ích cho những vị nào từng bị thời gian ghi dấu trên hàm răng của mình, mà mỗi món lại còn mang một lịch sử đầy những khám phá thú vị nho nhỏ, và cùng với nhau chúng sẽ nhắc nhở chúng ta ý nghĩa thật sự của một trong những điều quan trọng nhất trong kho tàng kiến thức của lời Chúa dạy: «Lấy mắt đổi mắt, lấy răng đổi răng». Lời dạy nổi tiếng này không phải để kêu gọi sự trả thù như nhiều người tưởng, mà là một sự mời gọi thực hiện công lý cho những điều nhỏ nhặt nhất, bởi vì Chúa ngự trong những điều nhỏ nhặt nhất của từng cái răng. Capisci? 5 Tôi ngưng lại để chờ tiếng vỗ tay. Nhưng cả cử toạ già nua chỉ im lặng nhìn tôi với sự hoài nghi trong lớp học của một trường tư.

Tôi không để mất tập trung, tiếp tục nói. Chủ nhân của những cái răng này bị coi là những người ăn bám xã hội, những kẻ bất cần đời và cũng không làm chuyện gì ra hồn cả; ai cũng bị coi là những kẻ tối ngày say sưa, nhiều người bị những chứng bệnh nghiêm trọng như mất trí nhớ, điên loạn, trầm uất, dâm loạn, vĩ cuồng. Tất cả những người mang tai tiếng này đều là nhà văn; nhưng đôi lúc họ cũng là những tâm hồn lỗi lạc và sâu sắc. Nói khác đi, như người chú triết gia của tôi là Miguel Sánchez Foucault nhân khi nói về một đề tài khác, tất cả bọn họ là biểu hiện của «những ví dụ của những cuộc đời độc đáo đã hoá thân thành những bài thơ kỳ lạ nhờ những may rủi bí hiểm nào đó». Bộ sưu tập răng của những người tai tiếng này, vì vậy, là những người mà trong nghiệp đoàn chúng tôi người ta thường bảo là «dấu tích hoán dụ». Và không cần phải tin dị đoan mới biết được rằng, nếu được sử dụng đúng cách, những bảo vật này có thể truyền lại cho chúng ta những tính chất mạnh mẽ của chúng.

Tôi sẽ kể cho quý vị nghe một số ngụ ngôn thú vị về tất cả những cái răng này và tôi muốn nhắc quý vị nào mua hãy mang chúng về nhà, đeo chúng vào, dùng chúng hay chỉ để nâng niu chúng per secula seculorum. Có nghĩa là cho đến muôn đời. Bằng không —tôi thêm vào với một giọng đe doạ—, nếu những di tích này không tìm gặp được chủ nhân ở cuối cuộc hành trình, chúng sẽ bị mang ra ngoại quốc để bán. Và đây chính là điều rốt ráo chúng ta cần: mọi người hãy mua hết những cái răng hiếm có này.

Tôi để ý rằng với lý luận chót này, dù nghe có phần sai lạc, tôi đã bắt đầu chiếm được cảm tình của những người cao niên ủng hộ chính trị gia Cardenas. Không giới thiệu dài dòng nữa, tôi quay người lại, hướng mắt về bộ sưu tập răng của mình, đoạn cầm lên lô đầu tiên trong lòng bàn tay, rồi vừa đưa nó lên cao vừa quay lại bục giảng, như một chiêm tinh gia đang xuất thần ở xứ Delphi bên Hy Lạp, tôi bắt đầu cất lên giọng nói mê hoặc của mình với sự khéo léo và duyên dáng mà chỉ những người trong nghề như chúng tôi mới có được.


NGỤ NGÔN SỐ 1

Lô thứ nhất. Mẫu hàng không được hoàn hảo, nhưng cũng được đến 75%. Thiếu vài cái răng hàm quan trọng. Nhưng nếu xét về mức độ cũ kỹ của nó thì tình trạng chung cũng khá tốt, thậm chí còn xuất sắc nữa. Đầu nhọn của răng cho thấy độ bằng phẳng, vì người ta ngờ rằng chủ nhân nguyên thuỷ của chúng, ông Platón, thường ăn uống liên tục. Ông Platón cao 1 mét 65 và có bề ngang là 85 cm: thân người tầm thước mà không vạm vỡ, có tướng tá của một chiến sĩ. Ông có râu cằm dài, mềm như bông vải và có màu ngà ngà; tóc ông dày với cùng độ mịn và màu sắc như râu. Ông không đếm xỉa gì đến những ước lệ của thời trang: ông thường mặc áo dài thùng thình, không đeo thắt lưng. Ông cũng không mang giày. Có lần ông Platón đã so sánh sự mọc răng với cảm xúc đam mê của ái tình. Ông nói: «Trong tình trạng này, linh hồn trở nên xao xuyến và bức bối; và linh hồn đó, mà đôi cánh đang bắt đầu phát triển, cũng như đứa trẻ mà nướu răng đang bị ngứa ngáy và suy nhược vì những cái răng đầu tiên.» Đẹp quá, phải không quý vị?

Không đẹp lắm đâu, nếu chúng ta biết rằng một ngày nào đó người ta phát giác ra con người tai tiếng này ở lối vào của một hang động, ở đó ông ta bị xiềng chung với một đám người nam có nữ có, đang chiêm nghiệm về cuộc đời của mình như trong một vũ điệu mà bóng hình hắt lên tường. Nói tóm lại: đó là hạng người bạc nhược và tàn bạo nhất.

Tôi giữ im lặng trong vài giây để đạt được một hiệu ứng mạnh mẽ. Không khí mát dịu của buổi sáng bắt đầu lan toả vào nhà thờ qua cánh cửa chính. Tôi thấy như một tia sáng huyền diệu đang từ trên trời chiếu xuống, soi sáng bục giảng một cách diệu kỳ. Tôi ngẩng lên nhìn và chợt thấy cậu giúp lễ Monge đang ngồi vắt vẻo trên lan can ở gian chính của nhà thờ, chiếu sáng vào tôi bằng một cái gương phản chiếu. Không phải là ánh sáng huyền diệu, nhưng dù là gì đi nữa, tôi vẫn cảm nhận tràn đầy niềm hứng khởi. Tôi hít một hơi dài: Thưa quý ông quý bà, ai trả giá cao nhất cho hàm răng như hang động của kẻ tai tiếng đầu tiên đây ạ?

Một bàn tay rụt rè đưa lên từ cuối gian nhà thờ: 1.000 peso. Tiếp theo là một bàn tay khác, sốt sắng hơn: 1.500. Rồi một bàn tay nữa, một bàn tay nữa, một bàn tay nữa. Món hàng được bán với giá 5.000 peso. Cũng không đến nỗi tệ, cốt làm cho nóng máy mà. Người mua đầu tiên là một cụ bà dáng người nhỏ nhắn, ăn mặc sang trọng, nhìn là biết thuộc hạng người đạo đức giả, che dấu bên trong là sự hung ác. Tôi rất thích môn triết học, bà ta huênh hoang nói. Nhất là Platón, tất cả những gì liên quan tới hay thuộc về Platón. Tôi nghĩ chắc vì vậy mà bà ta đã mua hàm răng hao mòn nhất trong bộ sưu tập của tôi với giá cao như vậy. Tôi hắng giọng và tiếp tục với người tai tiếng thứ nhì.


NGỤ NGÔN SỐ HAI

Cái hàm nổi tiếng này hơi khan hiếm răng: thiếu một số răng hàm trọng yếu và một cái răng nanh. Chủ nhân của nó, gốc gác từ Bắc Phi, có dáng người tầm thước, với đôi cánh tay buông thõng và da dẻ mịn màng. Có một số tranh cãi về việc ông ta là người da trắng hay da đen. Theo tôi thấy, nhất định ông ta là người da đen. Ông ta tên là Agustín de Hipona và trên đỉnh đầu của ông có một khoảnh không có tóc, như thể là miệng của một ngọn núi lửa vậy. Nếu có thể ghé nhìn vào cái miệng núi lửa người này, thưa tất cả quý giáo dân ngoan đạo, chúng ta sẽ khám phá ra một trong những ký ức sâu thẳm nhất mà ánh sáng của sự kết hợp giữa bà mẹ Thiên Nhiên và người cha Thượng Đế đã chiếu rọi vào. Ký ức siêu phàm đó, mà những cánh cửa bên trong không gì khác hơn chính là những cái răng hôm nay chúng ta thấy ngay trước mặt đây, có thể so sánh với một cánh đồng bát ngát, ngút ngàn, nơi có tất cả vết hằn thâm nhập thông qua các giác quan, như những hình dạng khác nhau của chúng cho thấy; đó là những điều mà chúng đã uỷ thác cho hàm răng; những con số toán học trừu tượng; những ký ức về chính con người ông ta lúc còn trẻ, đúng cũng như sai; và thậm chí ở những nơi chốn xa xăm nhất, tất cả những điều tưởng như đã bị lãng quên thật ra không hề bị quên lãng.

Quý vị có thấy chỗ hổng giữa răng hàm thứ nhất và răng hàm thứ ba này không? Nếu chúng ta có thể đi qua chỗ hổng này để vào bên trong, hướng lên phía trên qua các mạch điện thăm thẳm nối nó với cái đầu chứa hàm răng này, chúng ta sẽ gặp, ở một trong những cái ngăn xa nhất, một cậu học trò trẻ tuổi học môn hùng biện, cố nhiên chính là Agustín, đang bị một cơn đau răng hành hạ khủng khiếp. Vây quanh cậu bé là những người thân và bạn bè, và ai cũng nghĩ rằng chắc cậu sẽ chết đến nơi, vì cơn đau trầm trọng đến nỗi cậu không mở nổi miệng ra để giải thích cho họ vì sao cậu đau đớn như vậy. Trong một thoáng, cậu thu hết sức lực để viết lên một tấm bảng bằng sáp: Xin hãy cầu nguyện cho sức khoẻ của tôi. Bạn bè và người thân bắt đầu cầu nguyện và rồi cậu bé hết cơn đau. Quả là một phép lạ. Từ đó cậu quyết định dâng cuộc đời mình cho Thượng Đế qua một cuốn sách mà cậu bắt đầu viết chỉ ít năm sau đó, cuốn sách Những lời xưng tội nổi tiếng của cậu. Vậy đó, thưa quý vị đấu giá, người đàn ông này đã viết cuốn sách vì một cơn đau răng. Cuốn sách là bộ sưu tập của một chuỗi lời xưng tội mà sự nhiệm mầu quan trọng nhất là chúng sẽ lập tức trở thành những lời xưng tội của chính những người nào đọc cuốn sách đó. Nếu quý vị chưa đọc cuốn sách này, hãy đọc ngay đi. Nếu quý vị kiếm không ra cuốn sách, tôi sẽ cho quý vị mượn, tôi có cuốn này ở nhà; xin hứa danh dự như vậy. Nhưng cái mà tôi có ngay trước mặt quý vị, sẵn sàng để quý vị mang đi, chính là hàm răng của người đàn ông này. Ai trả giá cao nhất cho hàm răng đong đầy ký ức của Agustín de Hipona? Quý vị trả bao nhiêu ạ?

Có một số người muốn mua. Người đầu tiên trả giá 500. Người kế tiếp trả giá xuống thay vì trả lên, kêu gọi lòng trắc ẩn của tôi, nói rằng sau nhiều năm qua ông ta đã bị mất trí nhớ nên hơn ai hết ông cần những cái răng đó. Những người ngồi cùng băng ghế với ông ta vội bảo ông ta câm miệng và buộc ông ta ngồi xuống, viện lẽ rằng trường hợp của ông ta cũng không có gì đặc biệt. Tôi thấy họ cũng có lý. Cuối đợt đấu giá, người mua hàm răng này với giá 3.000 peso là một đàn bà có gương mặt và thân hình của một con cú. Tôi cầm hàm răng thứ ba từ bàn lên và trở lại bục giảng.


NGỤ NGÔN SỐ BA

Hàm răng lú lẫn độc đáo này thiếu hết bảy cái. Chủ nhân của nó có một thân hình cao lớn và cân đối, cùng một khuôn mặt đặc biệt xinh đẹp. Ông ta tên là Francesco Petracca, tuy ông vẫn thường yêu cầu mọi người gọi ông là Petrarca, tôi cho rằng vì cái tên này nghe có vẻ gia trưởng hơn. Ông ta vốn là nhà thơ và là ca nhạc sĩ. Lập lờ, như tất cả mọi người khác; bất nhất, mềm mỏng nhưng khéo tay.

Cách đây mấy năm, một nhóm khoa học gia quật mồ ông lên, vì chính phủ nước Ý muốn tái tạo y hệt khuôn mặt của ông nhân dịp kỷ niệm bảy trăm năm ngày ông mất. Khi lắp ráp lại xương sọ của ông, các khoa học gia ngờ rằng những cái xương ấy rất có thể là của một người đàn bà. Sự nghi ngờ của họ, theo tôi thấy, đơn giản chỉ là vì cái đầu mà họ tìm thấy rất nhỏ, nhỏ đến nỗi không thể là đầu của một người đàn ông. Những khoa học gia đó yêu cầu cho xét nghiệm cấu tử di truyền của một cái xương sườn và một cái răng hàm. Vài hôm sau, bác sĩ Caramelli, trưởng nhóm các khoa học gia, công bố rằng kết quả chưa rõ ràng của những cuộc thử nghiệm không xác định nhưng nhấn mạnh sự nghi ngờ của họ: rõ ràng là thân người và cái đầu là của hai người khác nhau, nhưng không thể xác minh giới tính của phần nào cả. Và cũng vì không xác minh được, mọi người quyết định rằng cái đầu là «giả». Tội nghiệp cho Petracca! Giải thích khoa học đến đây là hết.

Về sự sai sót của cái đầu, người ta đổ lỗi cho cha Tomasso Martinelli, một linh mục vào thế kỷ XVII, người mà ngoài những điều khác ra người ta còn cho là nghiện rượu. Vì vậy tuy không có bằng chứng rõ ràng, người ta kết luận rằng cha Martinelli đã bán cho một nhóm người đấu giá cái đầu của Petrarca để mua vài thùng rượu vang. Điều mà không chính trị gia Ý nào nghĩ đến là rất có thể thân người trong mộ là thuộc về một người khác; còn cái đầu nhỏ xíu là của ông Petracca.

Sau nhiều năm tìm hiểu, tôi không còn nghi ngờ gì nữa rằng hàm răng này chính là của Petracca. Một bằng cớ đáng tin cậy về điều này là có lần chính Petracca đã viết, trong cuốn Sách không tên của ông ta không lâu trước khi qua đời: «Tôi đã bảy mươi rồi và chỉ còn bảy cái răng». Hàm răng này, thưa quý ông quý bà, có bao nhiêu cái răng? Ichi, ni, san, shi, ko, cúc-cu, sichi… đúng bảy cái. Quý vị thấy chưa?

Dựa vào những bằng chứng đó, người ta kết luận rằng hàm răng này là một sự phản ảnh chính xác cá tính của Petracca. Những cái răng này, quý vị đến đấu giá thân mến ạ, chính là cánh cửa sổ thực sự của linh hồn; chúng như tờ giấy trắng mà chúng ta ghi vào đó tất cả những tội lỗi và đức tính của mình. Ở Petracca người ta thấy được một tính tình nóng nảy, một trí thông minh sắc sảo và sự yếu đuối đối với thú vui xác thịt: ông ta dâm đãng hơn cả loài dê. Quý vị hãy nhìn bề dài của cái răng nanh này. Người ta nói rằng một lần nọ nó đã được tìm ra gần cánh cửa của nhà thờ Santa Clara, suốt ngày chứng kiến qua lại không biết bao nhiêu là goá phụ, gái chưa chồng lẫn gái có chồng vào nhà thờ để phó thác mình cho thánh nữ đồng trinh Santa Clara. Petracca không khác gì một con chim ruồi. Ông ta thả lời ong bướm đến đám phụ nữ, hát cho họ nghe những bài hát ướt át mà ông ta đã sáng tác, hay ngắm nghía mắt cá và gáy của họ. Trong nhiều năm trời, ông ta đã theo đuổi phu nhân của Bá tước Hugo de Sade nổi tiếng, quý bà Laura de Noves rất đỗi xinh đẹp và kín đáo. Tất nhiên, ông ta không lôi kéo nổi sự chú ý của người phụ nữ cẩn trọng này. Tuy vậy ông cũng cố thử. Ngoài thất bại đó ra, người ta còn biết rằng con người tai tiếng này có thói quen viết thư tình cho một số phụ nữ trong tưởng tượng, và tệ hơn nữa, cho cả những người đã chết. Ông Petracca gọi những sản phẩm của thói quen ma mị này là «những lá thư thân mật» hay đôi khi là «những lá thư lẩm cẩm». Theo tôi thấy thì  «lẩm cẩm» nghe thích hợp hơn là «thân mật». Lẩm cẩm, hay thậm chí là lú lẫn: những lá thư lú lẫn gởi cho người chết. Ở đây không có ý xúc phạm đến những người đang hiện diện nhé. Petracca sưu tập tất cả những lá thư mà ông đã viết. Tổng cộng, ông ta đã gom góp được 128 lá thư lẩm cẩm và 350 lá thư thân thiện. Ông ta là một tay sưu tập đam mê, đần độn, nhác nhớm: quả là phi thường.

Sự tai tiếng vang dội của ông là vô tiền khoáng hậu, quý vị giáo dân thân mến của tôi ạ, cho nên trong trường hợp này tôi buộc lòng phải đưa ra một giá cao : Ai trả 1.500 peso? Ai trả giá đó ạ?

Một người đàn ông tóc hói gần hết, cổ khẳng khiu và gương mặt như một con heo, trả giá 1.600. Tôi để ý, khi ông ta há mồm ra để hô giá tiền, thấy ông ta chỉ còn có một cái răng trong đó. Không có ai khác giơ tay lên nữa. Vậy là bán được bảy cái răng lẩm cẩm của Petracca.

Cha Luigi, đang đứng như con chó ba đầu Cerbero trong thần thoại Hy Lạp bên cạnh dãy sưu tập của tôi, chuyển qua cho tôi món thứ tư. Ngài nhướng mày ra hiệu cho tôi tiếp tục.


NGỤ NGÔN SỐ 4

Mẫu hàng này từ bao nhiêu năm nay đã là một trong những món được thèm muốn nhất trên thị trường các món sưu tập ngụ ngôn xách tay. Chủ nhân của nó là một người mập mạp nhưng nhỏ nhắn, mũi to như trái banh và trán rộng như mông lợn. Trong tâm hồn của con người lùn tịt tai tiếng này, sự điên loạn không có biên giới. Có lần ông ta nói: «Tôi học hỏi ở chính con người của mình hơn bất cứ môn học nào khác; tôi là môn vật lý học và hình nhi thượng học của chính mình». Quý vị có tưởng tượng ra không? Ông ta cao xấp xỉ 1 mét 47. Tóc ông ta mỏng mảnh và thưa thớt, tuy ý tưởng của ông thì mạnh bạo và phong phú.

Chủ nhân đích thực của hàm răng này, ông Montaña, hay nói theo tiếng Tây là Montaigne, có một ánh mắt thật thà và bình thản. Gương mặt của ông ta có một biểu cảm pha trộn giữa nỗi buồn rầu và sự vui vẻ. Sự vụng về của ông ta trong những sinh hoạt thường nhật, tuy vậy, lại lên tới mức khôi hài: chữ ông ta viết không tài nào đọc được, ông ta không thể gấp một lá thư cho thẳng thớm; ông không biết cách thắng yên ngựa, không ẵm nổi một con diều hâu để thả cho nó bay đi; ông chẳng có thẩm quyền gì với loài chó cả; ông cũng chẳng biết cách tiếp xúc với loài ngựa ra sao. Rõ ràng là một tay vô tích sự. Tuy vô tích sự như vậy, ông ta lại luôn luôn hưởng được sức khoẻ tốt về đường miệng, ngoại trừ chứng thịt dư cứ tái đi tái lại. Ông thích ăn thịt gần như sống, kể cả cá cũng vậy. Ông không thích ăn trái cây cũng như rau cải, trừ các loại dưa. Chắc cũng vì thế mà hàm răng này còn giữ được tình trạng tốt và đầy đủ tới 85%. Hơn nữa, những cái răng này còn có phẩm chất thượng hạng: mảnh mai, thanh nhã và khá nhọn. Bí quyết về tuổi thọ của những chiếc răng này ư? Ông Montaigne bảo: «J’ay aprins dés l’enfance à les frotter de ma serviette, et le matin, et à l’entrée et issue de la table.» 6 Ý nói là ông ta đã học từ nhỏ cách chùi răng bằng khăn vào buổi sáng, cũng như trước và sau khi ăn tối. Ai trả giá cao nhất cho hàm răng sạch sẽ của ông Montaigne đây ạ?

Một làn sóng của sự nhiệt tình nãy giờ chưa từng thấy bắt đầu lan ra trong những người đấu giá. Tôi bán được mẫu hàng ưng ý của mình với giá 6.000 peso Mễ Tây Cơ. Người mua là một bà cụ với khuôn mặt chẳng có gì đáng nhớ và thân hình gầy guộc của dân vùng Địa Trung Hải. (Tại sao tất cả những phụ nữ xinh đẹp của vùng Địa Trung Hải cuối cùng đều trở thành những lọ đựng muối nho nhỏ như vậy nhỉ?)

Về cuối đợt đấu giá này, tôi bắt đầu cảm thấy mình như Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ Đệ Nhị. Tôi tưởng tượng mình bước vào sân vận động đông đúc, giơ tay cao vẫy chào công chúng. Tôi đã có thể là niềm ganh tị của Mussolini, của Madonna, của Maradona, Sting, Bono và chính ông Leroy Van Dyke nữa. Hứng chí, tôi bắt đầu với bộ răng kế tiếp không chút do dự.


NGỤ NGÔN SỐ 5

Chúng tôi chỉ giữ được hai cái răng của ông Rousseau; nhưng hai cái răng này mới đặc biệt làm sao ! Con người đầy tai tiếng này của chúng ta có một gương mặt quý tộc mà trên đó ngay cả một thái độ nhỏ nhặt nhất cũng trông như bị choáng ngợp bởi một lương tâm cẩn trọng và luôn luôn chiếm ngự tất cả. Ông có đôi mắt đầy biểu cảm và lanh lợi, nhưng cái nhìn của ông không có vẻ áp đặt. Tính khôi hài của ông thì lại trẻ con một cách đáng ái ngại, mặc cho trí thông minh không thể nào chối cãi của ông. Ông tin tưởng mãnh liệt vào tính bản thiện của con người; nhất là vào của chính mình. Ông thường mang hai miếng độn vai vì ông gần như không có vai. Sự khiếm khuyết này, tuy thế, lại được đền bù bằng một cái cằm rất đàn ông —đầy đặn, vuông vức và chẻ ra ở giữa— bên trong là một hàm răng mà không ai đời nào thấy được: ông không để lộ nó ra vì nó xấu xí quá, ngay cả trong những lúc thân mật. Chính ông cũng ý thức được nét quái gở xù xì của hàm răng mình. Ông là một độc giả say mê Plutarco, người mà ông đã học được một ít đức tính và rất nhiều tật xấu. Trong cuốn Những mảnh đời tương tự, Plutarco kể lại rằng Flora, một phụ nữ trong hoàng gia, không bao giờ chịu rời tình nhân của mình là Pompeyo mà không chắc chắn rằng đôi môi ông ta không hằn vết răng của bà. Sau khi đọc đến chỗ đó, ông Jean-Jacques có thêm thói quen đòi những tình nhân cắn vào môi mình trước khi chia tay. Nhưng ông ta không đáp trả lại những cái cắn đó vì, như ông thường nói, răng của ông rất «épouvantables», có nghĩa là đáng ghê sợ. Ông ta không nói quá chút nào.

Như có thể đoán, việc chỉ có thể giữ được hai cái răng của Rousseau không phải vì những thói quen vệ sinh của ông, vì ông ta là một người rất đàng hoàng, mà là bởi vận xui ông đã gặp. Ông Rousseau dành phần lớn cuộc đời mình để đi dạo. Con người càn rỡ này thường đi bộ như thể hạnh phúc của nhân loại phụ thuộc vào từng bước chân của ông vậy. Một ngày nọ ông ra ngoài đi dạo thì bị một con chó nhảy chồm đến. Con chó đang chạy thật nhanh, vướng vào hai chân của ông, làm người đàn ông tai tiếng này của chúng ta ngã bay xuống cái mương chạy ven theo con đường giữa căn nhà của ông và khu xóm. Ông gãy mất hai cái răng, chính là hai cái mà chúng ta có hôm nay đây. Chỉ là hai cái răng thôi, nhưng như tôi đã thưa, quả là hai cái răng độc đáo: Chúng kinh khủng đến nỗi xứng đáng được tôn vinh bằng một cái tượng đài. Hai cái răng này đặc biệt trông giống như hai cái cầu thang xoắn hướng lên một bầu trời thấp bám đầy vôi thuở trước.

Người ta thường èo uột và keo kiệt cho đến khi nào họ không muốn như vậy nữa. Tôi cho rằng chỉ vì muốn tìm hiểu hai cái răng hư này mà họ trả giá nhiều hơn bao giờ hết. Sau một đợt đấu giá gay go, hai cái răng được một ông nói giọng ngoại quốc, có một hàm răng đầy đủ và một nụ cười bí hiểm, mua với giá 7.500 peso.


NGỤ NGÔN SỐ 6

Có bao giờ chúng ta thấy một cái hàm dưới trễ ra quá cỡ trong một bộ răng chưa? Chủ nhân khốn khổ của hàm răng dị dạng này, ông Charles Lamb, có cái hàm nhô ra nhiều đến nỗi lúc nào ông cũng phải há miệng ra nửa chừng. Ngược lại, một trong hai cái răng nanh của ông ta thường cọ xát vào lưỡi và môi dưới gây ra những vết lở loét vô cùng đau đớn. Có thể đoán được một cách an toàn rằng tất cả những gì ông Lamb viết ra —ông viết nhiều và viết rất hay— là sản phẩm của cấu trúc lộn xộn của hàm răng ông. Ông nói lắp bắp như một con bê và nét chữ của ông cũng ngoằn ngoèo không kém. Có một bận ông ta viết một bức thư rất đỗi ngoằn ngoèo cho người bạn tên là Wordsworth như sau: «Ngay lúc này, tôi đang bị đầu nhọn của một cái răng đâm vào lưỡi khi nó đang di động nửa chừng, đúng là một sự khiêu khích tàn nhẫn, rồi hai bên lại va chạm nhau lần nữa, cái lưỡi tự đâm vào chính nó như một con rắn, rồi cái răng cắn vào nướu, hành hạ cái nướu, lưỡi với răng, răng với lưỡi, lúc nào cũng mạnh bạo —còn tôi lúc đó đang phải ngồi thanh toán hoá đơn—, cho đến lúc toàn cả miệng tôi nóng rực lên như lưu huỳnh vậy.»

800 peso cho mấy cái răng lộn xộn của ông Lamb! Ai trả hơn như vậy? Ai trả hơn? Không ai muốn chúng cả.


NGỤ NGÔN SỐ 7

Trước mặt chúng ta là hàm răng của kẻ bất cần đời lười biếng hết chỗ nói, ông G. K. Chesterton. Ông ta cao 1 mét 80 và cân nặng 110 kí-lô. Ông tròn như những chiếc thùng chứa loại rượu vang rẻ tiền lâu năm. Ông có một cái gáy luôn lắc lư, đôi má bầu bĩnh, hai mắt sâu hoắm vì hay nhíu mày. Ông uống sữa rất nhiều.

Hàm răng thuộc loại xấu nhưng lôi cuốn ít có hàm răng nào bằng: giữa hai cái răng cửa dưới có một khe hở có thể nhét vừa một cái tẩu thuốc nhỏ hay một điếu thuốc lá; cái răng cửa bên phải ngả màu tim tím nên trông như bằng thạch anh. Người ta ngờ rằng cái răng này bị hư hại vì ông Chesterton thú nhận là có sở thích nhai cẩm thạch. Tôi xin trích thuật theo trí nhớ và bằng tiếng Anh như sau: «We talk rightly of giving stones for bread: but there are in the Geological Museum certain rich crimson marbles, certain split stones of blue and green, that make me wish my teeth were stronger.»

Người đàn ông béo phị này một hôm rời khỏi nhà, chắc là đang nhai một viên cẩm thạch, để sửa soạn vẽ phấn lên giấy nâu. Ông ta bỏ trong túi sáu viên phấn đủ màu sặc sỡ, cắp dưới nách một xấp giấy nâu, rồi bước ra đường —cùng với mũ, gậy và túi xách— để vẽ thế giới chung quanh mình. Vừa khi kẻ lười biếng to như con hà mã này đến một khoảng đất trống yên bình của miền quê nước Anh, một con bò đang nhai cỏ từ từ tiến lại gần ông ta; nhân tiện mà nói, đây là con vật ngu ngốc thứ nhì trong thế giới cầm thú —con ngu ngốc nhất tất nhiên là hươu cao cổ; và đứng thứ ba là con đại thử miền Úc châu.

Ông lười bắt đầu lấy phấn thử vẽ phác con bò qua một hai nét đầu tiên, nhưng ông nhanh chóng nhận thấy tài năng của mình chấm dứt khi bắt đầu vẽ đến hai chân sau của con thú bốn chân. Sau một vài phút cân nhắc, người đàn ông to như con bò này quyết định vẽ linh hồn của con vật thuộc loài có vú đó thay vì bề ngoài của nó. Ông tô hình màu tím pha bạc óng ánh. Vậy là xong.

Ai trả giá nhiều hơn?

Hoàn toàn im lặng.

Ai mua mẫu hàng này dĩ nhiên sẽ được tặng cả bức tranh vẽ con bò.

Ai trả nhiều hơn? Tôi lập lại.

Hàm răng của ông lười cuối cùng bán được với giá 2.500 peso Mễ Tây Cơ. Cố nhiên người mua nó cũng là một người đàn ông đẫy đà.


NGỤ NGÔN SỐ 8

Có những hàm răng từng bị hành hạ tơi tả. Đó là trường hợp của hàm răng này đây, sở hữu vật của bà Virginia Woolf. Khi nữ chủ nhân của hàm răng này vừa tròn ba mươi tuổi, bác sĩ khoa tâm thần của bà đưa ra giả thuyết rằng những cơn đau tinh thần của bà là do quá nhiều vi khuẩn bám đầy chân răng. Ông quyết định nhổ ba cái răng của bà —ba cái xem ra bị nhiễm trùng nhiều nhất. Chẳng được việc gì cả. Về sau người ta nhổ thêm nhiều cái răng của bà nữa. Chẳng được việc gì cả, rien de rien. Bà Woolf chết vì tự vận, với nhiều cái răng giả. Tới ngày đám ma người quen mới thấy được nụ cười của bà. Người ta bảo, khi chết rồi, nằm trong quan tài mở nắp đặt chính giữa phòng, bà hé một nụ cười làm rạng rỡ nét mặt sắc sảo, xanh xao và thông minh của mình. Ai trả 8.000 peso cho hàm răng bị hành hạ này? Ai đây ạ?

Sau một lúc im lặng, một ông với nét mặt bướng bỉnh nhưng đáng kính đã mua hàm răng với giá 8.900. Ngay khi hô câu chót «bán rồi», tôi đặt cái búa xuống bề mặt nghiêng của bục giảng và chợt nghe tiếng chim kêu chiêm chiếp trong đám giáo dân.

Im đi, Jacinto, ai đó vội nói.

Nhưng tiếng chiêm chiếp vẫn tiếp tục. Đoạn tôi thấy một ông vóc người nhỏ thó dứng dậy và leo lên băng ghế ở dãy thứ ba. Giở mũ ra, ông ta ngó tôi như từ một nơi chốn xa xôi nào đó rồi từ từ há miệng ra tiếp tục kêu chiêm chiếp. Đám đông bắt đầu xì xào với nhau những gì nghe không rõ.

Câm miệng lại và ngồi xuống đi, Jacinto, người nào đó lại nói.

Nhiều người khác cũng phụ hoạ. Nhưng người đàn ông vẫn tảng lờ những người độc đoán ở cùng viện dưỡng lão, về phần tôi, với thẩm quyền mà cái bục giảng đã đem lại cho mình, ra lệnh cho mọi người cứ để ông ta tiếp tục. Ông ta lại kêu lên, lần này với vẻ tự tin và to hơn những lần trước. Những tiếng xì xào tắt ngúm. Đoạn, với vẻ duyên dáng của một vũ công ba-lê thành thạo, ông ta giơ đôi cánh tay cao khỏi vai, trong lúc vẫn không ngừng kêu chiêm chiếp, bắt đầu vẫy hai cánh tay một cách chậm rãi, ý chừng bắt chước bay như chim. Tôi không phải người dễ khóc, nhưng bỗng nghe nghẹn ngào trong cổ họng một nỗi buồn man mác.

Khi người đàn ông ngừng bắt chước chim bay, ông ta lại ngồi xuống băng ghế và đội mũ vào. Tôi nặng nề trở lại với phần ngụ ngôn. Trong lúc gián đoạn vừa qua, cảnh tượng ông già muốn bay như chim trên băng ghế nhà thờ đã làm tôi xúc động đến tận xương tuỷ.


NGỤ NGÔN SỐ 9

Mẫu hàng áp chót này, thưa quý ông quý bà, toả ra một nỗi u uất kỳ bí. Những cái răng này trông như răng cá sấu, nhưng câu chuyện về chúng thì gần như là chuyện thần thoại. Quý vị hãy để ý đến đường cong phía trong: trông tựa như chiếc cánh của một thiên thần đang bay lên trời. Chủ nhân của chúng, ông Francisco Isidoro Luis Borges, có vóc người tầm thước. Hai cái đùi ngắn và khẳng khiu của ông đỡ lấy một thân hình vừa rắn chắc, vừa gầy gò. Ông có cái đầu cỡ như một trái dừa nho nhỏ, cái cổ thon và linh hoạt. Đôi mắt ông chớp chớp từ bên này qua bên kia một cách vô dụng, không thể nào thẩm thấu ánh nắng mặt trời nhưng rất sẵn sàng đón nhận sự soi rọi của những ý tưởng hay đẹp. Ông ăn nói nhát gừng, như thể đang kiến tìm tính từ trong bóng tối. Ông là một kẻ vô thần.

Quý vị trả giá bao nhiêu?

Nhờ tài lừa dối của tôi, người ta trả 2.500 peso để mua những cái răng buồn bã của Borges.


NGỤ NGÔN SỐ 10

Mẫu hàng sưu tập cuối cùng của chúng tôi, thưa quý ông quý bà, chỉ có mỗi một cái răng. Răng này là răng hàm. Chủ nhân của nó vẫn còn đi lại trên cõi đời này với sự nhàn nhã của một con thú trong truyện thần thoại và tình trạng không trọng lượng của một con ma vĩnh hằng. Cái răng thuộc về ông Enrique Vila-Matas và trước khi sinh ra trong thế giới này đã từng là một nhà văn. Để tôi giải thích. Ông Vila-Matas nói trên có lần nằm mơ thấy mình rụng một cái răng trong lúc đang ngủ và thấy một người đàn ông tên Raymond Roussel bước qua cửa để vào phòng của mình, quát to như một vị tướng để đánh thức ông dậy và cho ông những lời khuyên phóng đại về các thói quen ăn uống. Trước khi quay ra cửa để đi, Raymond Roussel lấy cái răng trên giường bỏ vào túi xách tay.

Sáng hôm sau, ông Vila-Matas sờ thử hàm răng xem có thật là đã mất đi một cái hay không. Răng nào cũng còn nằm chỗ đó. Sau đó ông cố gắng viết một truyện ngắn như để tránh một ngày nào đó chuyện này có thể xảy ra trong thực tế.

Mấy năm sau, trong khi đang ăn món tôm chiên với ông bạn Sergio Pitol ở làng Potrero, thuộc tiểu bang Veracruz, ông Vila-Matas kể cho bạn nghe giấc mơ về cái răng của mình. Tuy nhiên, đang kể chuyện nửa chừng, một cái răng của ông rụng ra thật và rớt xuống đĩa, nằm lẫn trong mấy con tôm. Ông Sergi Pitol, vốn là người đại thông thái theo chủ nghĩa thần bí, bảo ông đưa cho ông ta cái răng, vì ông ta có quen một vị pháp sư trong làng thường chôn răng của những người lỗi lạc, đồng thời làm một nghi lễ dùng ma thuật để bảo đảm hạnh phúc đời đời cho họ trong ký ức của nhân loại. Ông Vila-Matas hơi miễn cưỡng khi đưa cái răng của mình cho bạn, nhưng biết rằng ông ta sẽ giữ lời.

Ông pháp sư làng Petrero, thưa quý ông quý bà, chính là chú tôi, ông Cadmo Sánchez vĩ đại, con của bà cô Telefasa Sánchez của tôi. Khi chú Cadmo của tôi qua đời cách đây vài năm, con trai của ông, tức là em họ của tôi, một thằng xuẩn ngốc không đáng nhắc đến, gọi điện thoại cho tôi biết rằng ba của hắn có để lại một phần gia tài cho tôi và, nếu tôi muốn, tôi phải đi Potrero ngay lập tức để lãnh nhận. Tôi đáp xe một chuyến xe đò ngay đêm hôm đó.

Chú Cadmo đã để lại cho tôi, như quý vị đến đây hẳn đã đoán được, bộ sưu tập răng của những người tai tiếng vĩ đại mà ông đã chôn dưới gốc một cây xoài xinh đẹp ở ven làng Potrero. Trong một bức thư, chú giải thích cho tôi rằng trang trại đó sắp bị chính phủ trưng thu để chuẩn bị trồng ngay ở đó một cái cây ánh sáng. Tôi bèn lo việc đào những hàm răng thiêng liêng đó lên để tìm kiếm một vận mệnh khấm khá hơn cho chúng nó.

*

Sự thật đơn giản là tôi không nhớ người ta đã trả giá bao nhiêu nữa. Tôi cảm thấy bị tê dại đến tột độ, đến nỗi bầu không khí trở nên độc hại đối với một cuộc đấu giá mà cho đến lúc này khá thành công.

Bán đấu giá là một hoạt động khiến tôi cảm thấy bị ghiền không thể nào cưỡng nổi, cũng như đối với người khác là bài bạc, thuốc men, dục tính hay nói láo vậy. Càng đấu giá thêm một món, tôi càng muốn đấu giá thêm nhiều thứ nữa. Khi còn trẻ, tôi thường rời khỏi những cuộc bán đấu giá với tham vọng bán đấu giá hết mọi thứ khác: những chiếc xe tôi thấy trên đưởng phố, những ngọn đèn xanh đèn đỏ, những con chó, những người già nua chậm chạp, những con côn trùng lơ đãng đi qua tầm mắt của tôi.

Đám giáo dân cũng đang say đắm trong làn khói ma mị trong buổi bán đấu giá của tôi. Họ còn muốn thêm nữa. Rõ ràng là họ đang còn muốn tiếp tục mua nữa. Tôi thì muốn làm vui lòng mọi người, không phải vì thích xum xoe hay muốn lấy lòng ai, mà chỉ vì tôi là người đàng hoàng và đáng tin cậy. Không còn món gì khác nữa, trong một lúc ngẫu hứng tột cùng vì bầu nhiệt huyết đang tràn ngập trong tôi, tôi quyết định bán đấu giá chính mình.

Tôi là Gustavo Sánchez Sánchez, tôi nói. Tôi là anh chàng Carretera có một không hai trên đời. Và tôi là những cái răng của tôi. Quý vị thấy chúng đã ngả vàng và hơi mòn, nhưng tôi xin cam đoan với quý vị: những cái răng này ngày trước thuộc về Marilyn Monroe bằng xương bằng thịt, người không cần đến giới thiệu hay ngụ ngôn ngụ nghiếc gì cả. Nếu quý vị muốn những cái răng này, quý vị phải lấy luôn cả tôi.

Tôi không giải thích gì thêm nữa. Tôi không thêm thắt ngụ ngôn nào nữa.

Ai trả giá cao nhất?, tôi hỏi bằng một giọng nhỏ nhẹ và điềm tĩnh.

Tôi không biết có phải cho rằng mình may mắn hay không đối với việc xảy ra sau đây. Tôi có thể nói, đúng như vậy, rằng tôi là một người có răng nanh. Ai trả giá cao nhất?, tôi lập lại với cử toạ đang ngồi im như tượng. Một bàn tay đưa lên. Sự việc đã xảy ra giống y như tôi đã tưởng tượng là nó sẽ xảy ra. Với giá ban đầu 100 peso Mễ Tây Cơ mà tôi đưa ra, Ratzinger đã mua tôi.


Trần C. Trí
chuyển ngữ

Tháng Mười một, 2018

Chú thích:

 

2. Thay vì số sáu trong tiếng Nhật là «roku», nhân vật chính đọc sai thành một chữ Tây Ban Nha có phát âm khá tương tự là «loco» (‘điên’) trong nguyên bản. Người dịch chọn chữ «cúc-cu» cho bản dịch tiếng Việt để đi theo với mạch văn Việt ngữ.

3. Họ của cậu giúp lễ “Monge” đồng âm với danh từ “monje” (‘thầy tu’) trong tiếng Tây Ban Nha.

4. Biệt danh do cha Luigi đặt cho nhân vật chính, có nghĩa là “Ớt Xanh”.

5. Tiếng Ý trong nguyên bản (‘Anh có hiểu không?’).

6. Tiếng Pháp trong nguyên bản. Chính tả và cú pháp của câu được giữ nguyên như trong bản gốc.

bài đã đăng của Valería Luiselli


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)