Trang chính » Chuyên Đề, Tưởng Niệm Phùng Nguyễn, Văn Chương Phùng Nguyễn Email bài này

ĐƯỜNG VỀ CỦA PHÙNG NGUYỄN

    

bang an


1

Phùng Nguyễn là bút hiệu. Tên thật Nguyễn Đức Phùng. Tôi gọi Phùng là Nguyễn.

Một hôm, Nguyễn đột ngột “Về Nhà”, căn nhà của Mẹ. Anh đi vội, còn bỏ dở dang những trang sách viết nửa chừng, những con chữ còn bơ vơ chưa có dòng.

Quỳnh Loan, vợ anh, bước ra khép cánh cửa, Nguyễn đi chưa kịp khép. Một sớm mai hãy còn đầy nắng.

Nguyễn có chỗ “Về” nhưng không về nơi cánh cửa vừa khép. Lại có một người thân yêu mong chờ. Đêm đã sâu. Cửa sổ, khép một cánh, một cánh hờ. Đèn phố thị mờ hoang bên ngoài. Tiếng chân một ai rất nhẹ, một ai về khuya. “Ôi, có khi là Anh”. Anh đang bước. Tiếng động hao hụt từ trí nhớ một ai chờ.

**

Bùi Giáng cũng có một tạ từ, tha thiết lắm:

Ngày sẽ hết tôi sẽ không ở lại
Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu
Tôi sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi
Vì nơi đây tôi sống đủ vui sầu

[Phụng Hiến]

Bùi Giáng đã qua hết sông, bỏ lại “Cây cầu tiếp dẫn” rất xa phía sau. Nguyễn lớp sau, vừa mới tới chân cầu. Lúc thần thái Nguyễn đang xanh lá, tâm hồn Nguyễn cát vàng cồn bãi mở rộng, chừng tung bay trên con Đường Trường Chữ Nghĩa, thì mọi sự ngưng. Những lưu chảy đã ngược đường.

Khá bối rối trước buổi quy hồi, khi nhất định “Không ở lại” nhưng “Chưa biết sẽ đi đâu”, Nguyễn tạm về nhà. Căn nhà của Phút-đầu-tiên.

Hơn hai nghìn năm trước, Kinh Thi đã định, “Bách tuế quy vu kỳ thất // Trăm năm rồi cũng về nhà.

“ Ta về cái chỗ thơ dại ban đầu”. Ngày tập đi tập nói, chưa hề biết sông nước dạy cho ta cái lênh đênh, cỏ xanh là nơi nơi, là đời đời có mặt. Thế là Nguyễn đi loanh quanh nhìn lại nơi chôn nhau cắt rốn, mỗi nơi một chút. Thời gian ngừng lại, nhường đường cho Nguyễn đi.

Đến chỗ bến nước quê, ngó mông dòng sông Thu Bồn; trên kia dãy Trường Sơn đậm hơn màu trời; núi Quắp hãy còn đứng; những cánh đồng miền trung du trải rộng. Nguyễn trở lại chỗ đầu nguồn con sông Thu chia hai, tạo ra một vùng đất Gò Nổi, nơi Nguyễn chào đời.

Nguyễn nhớ, gần đến Châu Lâu, hai nhánh sông Thu lại hợp thành một dòng, chảy qua Phố Hội An, rồi hòa vào cửa biển Đại Chiêm. Hai bên bờ sông Thu đi qua, màu tre cau rất xanh; có mùa lúa vàng; có mùa hè khe khắt sông cạn, lòng sông bày ra cồn bãi mênh mông trắng phau; những thuyền chài thu lại giữa dòng nước nhỏ; những hy vọng bỗng co cụm, chờ mong.

Nguyễn sẽ giáp mặt những giấc mơ cũ. Trong ấy còn gì? Vẫn rất nhiều cỏ xanh.

Tháp Chàm Bàng An của Chiêm Thành xưa, nay đã là Tháp Ký Ức chữ nghĩa của riêng Nguyễn. Bàng An đứng lẻ loi trên một vùng đồng ruộng khô. Tháp không có rêu xanh. Chỉ là rêu một màu nâu chàm xa vắng. Gạch của thân tháp màu máu khô, xác thân một sử lịch của tiêu vong. Từ một hỏa thiêu, Nguyễn trở thành chiếc bóng của Tháp. Và tịch lặng cái âm u đời đời, lòng tháp.

2

Tôi biết chắc Nguyễn có cuộc-trở-về như thế. Bởi. Qua bao năm ly biệt, trong đời thường cũng như trong các sáng tác của mình, Nguyễn luôn mang theo quê hương. Quê hương, đã là chiếc bóng, là nắng mưa độ lượng trong mỗi phận người xa xứ. Trong các trang viết của Nguyễn, đã quá nhiều hình ảnh, nỗi niềm, kỷ niệm; có từ khi trái tim Nguyễn hãy còn rỗng trống thuở bé thơ, cho đến lúc tuổi quá tuổi ngũ tuần, trái tim ấy đã đầy chật những bộn bề tục lụy.

Qua một số tư liệu về Nguyễn, được biết. Sau khi qua đời hộp tro cốt của Nguyễn được đưa về nhà mẹ, đặt ngay trên đầu giường của Mẹ — Bà Cụ đã chín mươi hai tuổi, cùng họ với Phan Khôi; vì thế, Nguyễn có họ ngoại là họ Phan làng Bảo An, Gò Nổi. Mỗi tối Mẹ niệm Phật và thủ thỉ một mình trò chuyện với tro cốt đứa con trai yêu quý của mình. Mẹ tiễn đưa con Về sớm hơn mẹ.

Sau những ngày gần mẹ, hộp tro cốt được rải trên biển, theo di nguyện của Nguyễn. Lễ Rải Tro diễn ra tại Long Beach, California, vào cuối tháng 12-2015, dịp Noel. Rất đông bà con bạn bè thân thích đến tiễn đưa Nguyễn.

Tính theo đất liền, California là miền tây của nước Mỹ. Tính theo mặt biển Thái Bình Dương, bờ biển Calif lại là bờ đông, bờ biển Việt Nam bên kia mới là bờ phía tây. Nhưng ở Mỹ gọi bờ biển bên phía tây ấy, Việt Nam là Đông phương. Một ngày, ánh sáng mặt trời tới Long Beach trước, qua Thái Bình Dương, bọn chúng, bọn ánh sáng ấy mới tới Vũng Tàu. Tôi nói dài dòng, rối rắm, lung tung xèng như vầy, là để hiểu, cái lênh đênh của một lần tro cốt trở lại, bãi bờ Việt Nam. Thuở kia ai cũng từng, từ bờ này ra đi, bao là hiểm nguy, mong tới bờ tự do bên kia.// Xưa kia xương máu Ra Đi / hôm nay cát bụi nhớ ghi Ngày Về . [thơ CTB]

3

1961, Nguyễn mười một tuổi, cậu bé cực thông minh con nhà nghèo khó, con đường dài nhất đầu đời của cậu là từ cái mái tranh nhỏ vùng Gò Nổi, vỏn vẹn không quá mười lăm dặm, để tới một trường trung học công lập tại Hội An. Hơn ba mươi năm sau, trở thành nhà văn, cái truyện đầu tiên đời cầm bút của Nguyễn, là Tháp Ký Ức. Thủy chung là nhớ về, là nghĩ/viết về “Cái thuở ban đầu” ấy.

Làng tôi cách thị xã Hội An – còn được gọi là Phố hay Faifo- khoảng gần ba chục cây số. Muốn đến thị xã, tôi phải đi bộ bốn năm cây số, băng qua chiếc cầu xe lửa dài ngoằng bắc ngang qua con sông Thu Bồn nuớc trong veo, rồi leo lên cái ‘xe điện’ duy nhất của tuyến đường Kỳ Lam-Hội An để kết thúc cuộc hành trình. Gần đến Vĩnh Điện, quận lỵ Điện Bàn, xe đi ngang qua tháp Chàm Bàng An, một di tích lịch sử. Ngôi tháp cổ xây bằng gạch nung, lâu ngày rêu phong bám đầy, đứng im lìm, sừng sững nhìn xuống con đường trải đá lầm bụi chạy dài từ quận lỵ về đến vùng núi non tiếp cận dãy Trường Sơn.

… “Vậy là tôi bắt đầu cuộc đời trọ học từ lúc còn rất trẻ. Cứ mỗi vài tuần tôi lại đáp xe đò từ tỉnh lỵ về, băng qua chiếc cầu xe lửa bằng sắt, sải những bước chân nôn nao trên con đường đất khi thì nứt nẻ mấp mô, khi thì lầy lội trơn trợt, bỏ lại sau lưng những ruộng lúa nghèo nàn, những bãi dâu tươi tốt, rặng tre xào xạc, tiếng rầm rập của những máy dệt vải bằng gỗ, tiếng sè sè của những chiếc trục ươm tơ, lòng hớn hở khi nhìn thấy cái hàng rào quen thuộc có những bông hoa dâm bụt đỏ chói. Rồi có tiếng con chó Vàng sủa ăng ẳng mừng rỡ…” [Tháp Ký Ức]

Miền thân yêu ấy chẳng là nơi an cư lâu bền, Nguyễn phải, và luôn, sống tiếp những ngày hoạn nạn. Lời Nguyễn:

Đà Nẵng là nơi tôi quay lưng lại với tuổi hoa niên. Đó là năm 1964, vài tháng sau trận lụt kinh thiên động địa năm Thìn. Trôi dạt đến trại tạm cư Hòa Khánh cùng với đứa em gái 6 tuổi, chúng tôi, bằng một hay nhiều cách nào đó, sống lê lết cho đến ngày có đủ tiền để leo lên xe đò vào Sài gòn. Để tiếp nối trường lớp dở dang, nhưng trước và trên hết, để tìm miếng cơm manh áo, điều không phải dễ dàng cho đứa bé nhà quê 14 tuổi. [sđd]

Những khốn khó cuộc đời, chừng rất hăng hái, luôn tốt bụng chờ đón Nguyễn. Tạm ổn ở Sàigòn chẳng bao lâu, học hành chưa tới đâu, Nguyễn mười tám tuổi phải vào lính. Anh bị mìn, gãy nát một chân nơi chiến trường. Một vết thương mới, trên một đất nước quá quen thuộc với nơi nơi những đôi nạng; một thời, mùa hè mùa thu Việt Nam, tiếng khóc nhiều hơn tiếng mưa.

Có khác, lúc nằm viện, Nguyễn bị kháng thuốc trụ sinh, vết thương rất nhiều ngày không chịu lành. Đau đớn quá, Nguyễn kêu xin được cắt bỏ một chân. Bác sĩ lại muốn giữ đôi chân Nguyễn được an lành. Chấp nhận một cơ-phận-không-thể-nào-cắt-bỏ, đành xin cắt bỏ. Khổ nạn ấy là một dấu ấn, một quá quan [qua ải], để sau này Nguyễn đặt con chữ đúng cái chỗ, mà vận mệnh định đặt.

Phải chăng ở giữa một điều đã qua và một điều còn chưa tới là nỗi sợ không thể vượt qua? Trong khi chờ đợi câu trả lời cho những nghi vấn của mình, tôi hoang mang vô cùng." [Nhà văn, sđd)

Nỗi đau này trở nên một nghi hoặc mông mênh, trừu tượng, đã là ám ảnh, là không giới hạn trong mỗi thân phận Việt Nam.

4

Cứ như thế, Nguyễn đi thêm, một đứt lìa thêm nữa, như vĩnh biệt nơi chôn nhau cắt rốn. Trên đất Mỹ, Nguyễn phải làm lại cuộc đời, từ đôi bàn tay trắng, từ sau một đoạn đời lửa cháy, nội chiến và tan vỡ.

Tất cả những Chuyển / Di này, chạm mặt những cài đặt ác ôn của số mệnh, đã được Nguyễn ghi lại với một cảm quan tinh tế, tha thiết và chân thành. Chúng ta có thể nhận ra phẩm hạnh của một người cầm bút nơi Nguyễn “Bình thản và khách quan; giận dỗi nhưng rộng lòng; rủi ro thì riêng chịu; niềm vui thì trang trải rộng tỏa cùng mọi người”.

Cũng có một ít trái chiều ngay trong luận giải của Nguyễn. Đó là “đằng sau chữ nghĩa của Nguyễn” ẩn/chìm một tra vấn tới chỗ Khởi đầu, nơi Uyên nguyên – suối nguồn – của thực tại, để tầm xét cái cội rễ, cái “làm ra” cõi lịch sử, riêng và chung, hôm nay.

[…] tôi cùng thuộc về nhóm những kẻ đứng chông chênh trên hai mảnh ván trôi ngược chiều nhau, cố giữ thăng bằng để không rơi vào cái vực đen ngòm của hoang mang bên dưới. Cái mảnh ván cứ kéo giật tôi về quá khứ có nhiều cơ hội thành công hơn. Thực ra, có những điều nằm ở đó sẽ theo đuổi tôi cho đến hết đời. Trong nhiều năm, tôi cứ đi giật lùi nhiều hơn là đi tới." [Đêm Oakland, sđd]

Đọc đoạn văn trên, ta thấy có nhiều mâu thuẫn nội tại, trong cách phát biểu. Nó gợi ra nhiều dấu hỏi cần thiết phải giải mã.

Nhưng, hãy đọc tiếp dưới đây, một cách trả lời của Nguyễn:

"Và từ giữa tro tàn, biết đâu sẽ bước ra rực rỡ và mới tinh khôi con phượng hoàng với đôi cánh đủ dài để vượt qua cái khoảng trống ghê rợn nằm giữa một điều đã thực sự qua đi và một điều hãy còn chưa tới." [Nhà văn, sđd]

Rất may, Nguyễn còn để lại một ngọn đèn đã bật, đủ soi sáng phần nào, những gì văn chương anh muốn Nói.

5

Giọng nói, nụ cười, dáng đi của Nguyễn đến hôm nay, chưa hề hoen rỉ trong tâm dạ của bạn bè.

Hôm kỷ niệm ngày giỗ thứ ba của Nguyễn, trong lời mở đầu nhà văn Đặng Thơ Thơ có nói “Chắc anh Nguyễn cùng có mặt với chúng ta hôm nay.” Câu nói là một mong đợi cái thực-tế-khó-thể-có, nhưng trong mỗi thâm tâm chúng ta là Có-thể. Rất mực như thế, “Nguyễn đang có mặt nơi đây.”

Dân gian có cụm từ rất gợi nhớ, “ Xác quyết một sự hiện diện của một ai đó, dù ai đó đã thực sự không có mặt nơi này”. “Kẻ khuất mặt”. “Người khuất bóng”.

Cho nên, chiều ba mươi Tết con cháu đón rước ông bà, chiều Mồng Ba Tết là tiễn đưa ông Bà. Có đi có về, mới có đón có đưa. Trong Ngày kỵ giỗ, những chén cơm đầy, những ly rượu, những bánh trái trên bàn thờ, là để chờ “Người Khuất Mặt”. Có dâng phẩm vật hẳn có người nhận chứ. Hãy tin đi, Kẻ khuất mặt, họ đang ăn uống đấy. Cái ăn thần tiên. Hồn ăn bóng uống.

Trong hội trường hôm nay, có bức tranh vẽ Phùng Nguyễn phóng lớn chỗ phông màn, có một chiếc bàn phủ cái khăn trắng, một cái ghế trống. Tôi nghĩ, Nguyễn sẽ ngồi. Buổi lễ tưởng niệm Nguyễn bắt đầu rất lâu, ghế vẫn trống.

Hồi lâu, hội trường các diễn giả tha thiết nói về đời Nguyễn, văn chương Nguyễn, chiếc ghế để trống, vẫn trống. Hay là Nguyễn đang bận chào hỏi, bắt tay một ai đó, bên ngoài. Nguyễn-cái-cách-thần-tiên, bắt tay lắc lắc bàn tay giữ cho lâu hơi ấm.

Phút ngẫu nhĩ mơ màng, ấy là của Nhớ, là từ tôi tưởng ra, về Nguyễn. Tôi bâng khuâng thấy quanh mình, không gian nhiều khoảng trống, mỗi rỗng trống một riêng gió thoảng, mỗi sắc nắng riêng màu, và có một ai lặng lẽ, khuất bóng.

Cái trống trải và chờ mong ấy, giống như ta quây quần một chiều trong một quán rượu. Ta chừa một chiếc ghế trống, lấy thêm một cái ly đặt trên bàn nơi khoảng trống, rót đầy một ly rượu… “Nhớ quá, mới ngồi với bọn mình tuần trước, mà thôi rồi, nào uống với bọn này một ly!”

Nắng chiều như mọi chiều, bỗng như có khói cay trong mắt.

6

Khi Nguyễn mười một tuổi, học lớp đầu tiên của bậc trung học trường Trần Quý Cáp, tại Hội An, tôi đã về dạy tại một trường trung học, vùng quê của Nguyễn.

Hiệu trưởng là thầy Trần Thuyên, con nhà yêu nước Trần Quý Cáp. Tiến sĩ Trần Quý Cáp, người làng Bát Nhị, rất gần Tháp Bàng An. Ông tham gia phong trào Duy Tân chống Pháp; sau cuộc nổi dậy chống sưu thuế tại Quảng Nam, năm 1908 ông bị chính quyền Pháp xử tử tại Khánh Hòa. Hình thức thi hành án là chém ngang lưng – yêu trảm.

Trường có rất nhiều học trò từ Gò Nổi qua học. Các em ở bên kia sông. Quảng Nam là đất học, Điện Bàn được xem là vùng đất tiêu biểu, nhưng Gò Nổi lại chính là trung tâm của tinh hoa hội tụ. Hầu hết học trò nơi đây học giỏi, lễ phép, giữ tình thầy trò rất lâu bền.

Quảng Nam là vùng đất còn lưu tồn nhiều dấu ấn nhất, của dân tộc Chiêm Thành, vùng Đàng Trong; từ giọng nói, các địa danh; đặc biệt rất nhiều tháp Chàm. Nhiều vùng không chỉ một tháp lẻ loi mà là quần thể tháp nối tháp, trong những rừng nối rừng, như vùng Mỹ Sơn. Mỹ Sơn – di sản thế giới – được xem là kinh đô tôn giáo một thời của Chiêm Thành. Ngay tại Đà Nẵng, đã có một Cổ viện Chàm, được người Pháp thành lập, quy tập những cổ vật lịch sử tôn giáo văn hóa của Nước/Người Chiêm Thành cũ.

Hình ảnh những tháp Chàm, những lưu giữ di ảnh khắp nơi của dân tộc Chăm trên một phần cố quốc của họ – Xứ Quảng Nam, đã góp phần không nhỏ vào sáng tạo của những nhà văn, thi nhân, nghệ sĩ, trong đó có tôi.

Nguyễn đã đặt tên một truyện ngắn đầu tiên, cũng là tên sách cho tập truyện đầu tiên được in ấn, Tháp Ký Ức.

7

Học trò của tôi buổi ấy, mỗi thứ bảy chủ nhật thường đưa thầy “Về quê em chơi’. Nhân đó tôi đã đi sâu qua vùng Gò Nổi, tới tận làng Bảo An nơi Nguyễn chào đời, ra tới núi Bồ Bồ, lên thị trấn Ái Nghĩa. Cả một vùng rộng lớn này, thời này đã là vùng xôi đậu, tranh chấp Quốc Cộng đã thành lửa đạn, không còn thời kỳ đang un khói, lót ổ nằm vùng.

Tất cả, toàn bộ, là phân hóa, phân ly, phân hủy. Mỗi nhân phận, đã đứng bên bờ, ngay trên thành hố thẳm, của tự diệt. Một đất nước bị chặt làm hai; Bắc Cộng sản, Nam Cộng Hòa. Mỗi gia đình chia hai; anh tập kết ra bắc, em Miền Nam vào quân đội; chỗ chiến trường không nương tay. Xóm làng thì vùng xôi đậu; chia hai rõ ràng giữa ngày và đêm.

Cùng một vùng thôn chợ ấy, mồ mả cha ông ấy, nhưng ban ngày thuộc quốc gia, về đêm là phần kiểm soát của bên kia. Rồi ngay trong một con người cũng “chia làm hai mặt”; một lúc là cán bộ cho cả hai bên. Với quốc gia là anh “cán bộ thông tin”, với Mặt trận là chú“cán bộ tuyên truyền”. Cùng từ một cái mồm ấy, cùng một thời gian 24 tiếng đồng hồ, khi cái loa “Mời toàn thể đồng bào…”, anh là quốc gia; khi “Mời toàn thể nhân dân…”, anh là cộng sản.

Ở một quê nhà mà ngay trong nắng mưa đã đậm màu/mùi của phản bội, tương khắc, Nguyễn đã chứng kiến lúc vừa tuổi thiếu niên, tôi tin là anh viết đúng sự thật. Vì, chính thời kỳ này, tôi đã sống nơi này.

Đường từ thị trấn Vĩnh Điện, quận lỵ của Điện Bàn, về hướng núi, cách khoảng tám cây số là tới trường tôi dạy. Để bảo toàn cái thân mạng khỏi bị cái mã tấu phụp ngang cần cổ, các thầy sáng chạy xe gắn máy từ Vĩnh Điện lên dạy, chiều là tức tốc về sớm, để có giấc ngủ an toàn nơi quận lỵ. Và, đương nhiên các thầy chọn giờ dạy trưa trưa một chút. Để, nếu đường sá bị Việt Cộng chôn mìn bên dưới, đã có những chuyến xe chạy sớm trước đó “hưởng” cái xúi quẩy, trước rồi.

Tôi không trốn chỗ hòn bom trái đạn, ngày đêm tôi ở luôn tại trường. Nhà thuê của anh Hồ Khương, ăn cơm tháng luôn ở đó. Không kể những cuộc hành quân lớn, thông thường buổi sáng, thấy một vài chiếc xe nhà binh, lính Địa phương quân, có khi là Cảnh sát, đến đậu chỗ đầu chợ Phong Thử, rất gần trường, giữ gìn an ninh. Chiều, khi mặt trời sắp lặn họ rút về quận lỵ. Trước khi rút quân, thường bắn một vài loạt súng liên thanh lên trời cao thị uy. Chiều tà, chợ quê. Buồn non nước.

Rồi, khuya, rất khuya khoắt, trong lặng yên giấc ngủ của bà con, lại bắt đầu nghe tiếng trống, mõ, tiếng thanh la, một vài tiếng súng yểm trợ. Ồn ào, vang động từ xa các làng mạc, rồi đến ngay trước cửa nhà dân chúng nơi chợ, chung quanh trường. Tấm bia xây gạch có câu chữ “Ngô Tổng Thống muôn năm” bên cạnh nhà nguyện Tin Lành Phong Thử, ngay trước căn nhà anh Hồ Khương, một đêm, bị đập vỡ tan tành. Qua khung cửa sổ mở chỉ vừa một khe hở, đã thấy toàn cảnh trong ánh đuốc bập bùng. Đã thấy đôi người lom khom bị dây trói lôi đi. Đã nghe tiếng khóc trẻ em. Đã nghe tiếng la thất thanh từ một cần cổ chưa chịu đứt lìa.

Đọc truyện ngắn Tuổi Thơ, qua những trang viết của Nguyễn, ngôn ngữ giản dị, văn phong chậm rãi, đơn thuần một lời kể không ẩn dụ, hư cấu; về những mâu thuẫn trong tình nghĩa xóm làng, một tòa án nhân dân, những số phận con người không may. Ngay cả một cậu học trò Phùng Nguyễn 14 tuổi, cũng đầy ắp rủi ro, chênh vênh giữa sống và chết chỉ phút giây nghi ngờ, giết lầm hơn bỏ sót. Những trang viết ấy bày lộ một số phận chung, có tính phổ quát, một tình thế nan nguy bất khả chối từ của một cuộc nội chiến đúng nghĩa vô luân tàn độc chính nó.

Đọc Nguyễn, tôi thật lòng chia sẻ, rộng mở cảm thông, và hiểu rằng, chữ nghĩa ấy vẫn còn lâu dài về sau, là những “chứng tích” những “tư liệu” một thời cha ông đã vậy.

8

Trước đây nhiều năm, tôi có đọc một đoạn ngắn dưới đây, của Nguyễn, trên trang mạng Da Màu:

Trước khi về Việt Nam tôi có hỏi Đặng Thơ Thơ về những người cô muốn tôi tiếp xúc khi đến đây. Danh sách mỏng, không đếm đủ trên đầu ngón tay, và trong số đó có tác giả “Luống cải vàng”. Sinh ra ở một làng quê hẻo lánh và nghèo xác, tôi cho rằng mình may mắn đã có cơ hội được đọc sớm và hơn thế nữa, đọc được những điều mình sẽ còn nhớ mãi. “Nạn nhân” của Nguyễn Văn Xuân và “Luống cải vàng” của Cung Tích Biền nằm trong số này. Cung Tích Biền có dáng dấp của một tiên ông từ thượng giới đáp mây xuống trần dự cuộc liên hoan, hoàn toàn đối nghịch với cái đáy địa ngục mà ông đã thể hiện trong văn chương và nhất định là đã kinh qua trong một hay nhiều phần đời của mình… [www.Damau.org – chuyến đi – 15.04.2011]

Một hôm tôi tiếp Nguyễn khi anh đến thăm. Anh nói anh vừa thăm Nhà văn Dương Nghiễm Mậu. Sau đó, thêm cái duyên ngồi với Nguyễn vài lần cà phê, hai lần lai rai món đặc sản Miền Trung ở nhà hàng Đất Phương Nam, trong thời gian Nguyễn về nước. Những lần ấy thường có thêm vài người bạn trẻ.

Nguyễn là một người rất dễ thân thiện, ở chỗ hiền hòa; bàn luận về văn chương học thuật có chỗ thú vị. Anh có cái chiều sâu để ta đổ vào đó những niềm riêng, những đau chung. Chia sẻ cùng nhau, một cách thân tình.

Ngồi với tôi, Nguyễn có thái độ trầm tĩnh, lối ăn nói khiêm cung. Để vui vầy thỏa mái, tôi nói với Nguyễn, “Chúng ta là bạn, bạn vong niên”. Có khi cái vong niển ấy cách nhau mươi tuổi, thậm chí vài chục tuổi.

Tôi có biết tí chút về Dịch lý, phong thủy, tướng số. Tôi xem tướng Phùng Nguyễn, đoán là anh sống rất thọ. Mong còn đọc của anh rất nhiều. Hóa ra…

Cảm ơn Nguyễn đã đưa kẻ phàm tục này lên tiên. Mà, Nguyễn đã Cõi Tiên trước rồi. Đành, một chiếc ghế trống Hôm nay. Xin mượn câu thơ của Hoàng Trúc Ly, kết thúc bài này:

“Xác thân rã mục lời thề
Mùa đi lá rụng, Đường Về xuân thu.”



Cung Tích Biền

Little Saigon, 11-2018.

bài đã đăng của Cung Tích Biền


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)